McCain - Obama hai thái cực đối lập |
| Thứ tư, 04 Tháng sáu 2008 | |||||
| |||||
|
Publié le 05/06/2008 à 21:53
Publié le 05/06/2008 à 06:53
TỨ XUYÊN, TRUNG TÂM CỦA NHỮNG CƠN ÐỊA CHẤN: Tứ Xuyên (Sichuan) là một tỉnh rộng lớn của nước Tàu, nhất là sau năm 1949 được sáp nhập thêm phần đất rộng của Tây Tạng. Tỉnh này bắc giáp Thiểm Tây, Cam Túc. Phía tây kế Thanh Hải, Tây Tạng, Phía nam giáp Vân Nam, Quy' Châu và phía đông kế hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc. Theo thống kê của World Atlas năm 2006 cho biết tỉnh Tứ Xuyên có dân số 99.713.310 người, là nơi sinh sống của hằng ngàn bộ lạc khác nhau, trong số này người Hán, Hồi,Miêu, Mông và Tạng chiếm đa số. Riêng thủ phủ Thành Ðô (Chengdu) dân số 2.499.000 người nhưng thành phố lớn nhất lại là Trùng Khánh (Chongquin) có dân số 2.673.170 người. Ðối với thế giới bên ngoài, từ lâu các tỉnh Cam Túc, Thiểm Tây và Tứ Xuyên được coi là vùng đất cấm xa lạ và chỉ được mở cửa khi có phong trào du lịch chừng 10 năm trở lại. Ðây là vùng đất cổ kính lâu đời của Hán Tộc, với nhiều di tích lịch sử rất hấp dẫn các nhà khảo cổ khắp nơi trên thế giới. Với người Việt gần như hầu hết các thế hệ sau này đều ưa thích pho truyện Tam Quốc Chí diễn nghĩa của La Quán Trung, nói về lịch sử của thời Hán mạt và sự tích Ðào Viên kết nghĩa của các nhân vật Lưu, Quan, Trương.. có liên hệ tới đất Thục. Tỉnh Tứ Xuyên hay Ðất Thục có Tam Quốc Thánh Ðịa, nằm về phía nam thủ phủ Thành Ðô, được xây dựng từ hàng ngàn năm trước, do Lý Hùng thuộc nhà Tây Tấn (265-316) thực hiện sau khi Gia Cát Lượng qua đời hơn vài trăm năm, trước khi La Quán Trung viết bộ Tam Quốc Chí. Khu di tích còn tồn tại tới ngày nay có diện tích 37.000 m2, gồm hai khu vực thờ Lưu Bị (Ðền Hán Chiêu Liệt Ðế) phía trước và Ðền Gia Cát Vũ Hầu ở phía sau. Mộ của Lưu Bị chỉ là một mô đất có chu vi 200m đắp cao như một ngọn đồi thấp, nằm giữa khu rừng tùng, bách cao ngất xanh um. Có lẽ nhờ ngôi mộ thật giản dị nên nó đã tồn tại hằng ngàn năm qua một cách bình yên mà không bị bàn tay con người đào xới cướp của như các khu lăng mộ khác của các vua chúa Tàu từ Tần Thủy Hoàng, Hán Cảnh Ðế tới Càn Long, Từ Hy nhà Mãn Thanh. Ðây cũng là cái gương để cho người đời sau noi theo mà sống sao cho đáng kiếp con người ‘Hãy sống lương thiện vì con người và chết giản dị như con người‘. Tứ Xuyên là nơi có bốn con sông lớn chảy qua. Tất cả đều là phụ lưu của Dương Tử Giang, đó là Minh Giang, Gia Giang, Vũ Giang và Cẩm Giang. Ðây là vùng rừng rậm, núi cao, mưa nhiều nên cây cối tươi tốt quanh năm, có nhiều loại dược thảo quý hiếm được sử dụng trong y học Ðông Phương từ hàng ngàn năm trước. Khí hậu Tứ Xuyên cũng ấm áp hơn các tỉnh lân cận, mùa đông không hề có tuyết như tại Lan Châu, Tây An. Thành phố Thành Ðô nằm trên một nhánh sông của Trường Giang. Riêng Hoàng Hà dài 5646 km lớn thứ hai của nước Tàu, phát nguyên từ cao nguyên Thanh Hải, cũng chảy vào khu vực rừng núi phía tây bắc Tứ Xuyên, trước khi đổi hưóng đột ngột vào tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Bắc và ra biển tại thủ phủ Tế Nam (Sơn Ðông) trong vịnh Nhiệt Hà. Thành Ðô nằm giữa trung tâm Tứ Xuyên, cách thành phố Trùng Khánh chừng 170 dặm về hướng Tây Nam, đã hiện diện trong lịch sử Trung Hoa qua hằng ngàn năm với biết bao nhiêu thăng trầm. Thời Ðông Hán (25 trTL ố 220 sauTL) , Thành Ðô là trung tâm sản xuất gấm lụa của nước Tàu, qua danh xưng Gấm Cẩm Giang cũng là tên của con sông chảy qua thành phố này. Thời Tam Quốc (220-265 STL), Thành Ðô là kinh đô của đất Thục (ích Châu) hay Hậu Chu, một trục lộ giao thương quan trong, nối liền con đường tơ lụa phía nam của nước Tàu tới Tây Tạng, Vân Nam, Miến Ðiện. Ðây cũng là quê hương của Võ tắc Thiên hoàng đế (Võ Hậu), của thi hào Ðổ Phủ, Tư Mã Tương Như.. Ngày nay Thành Ðô là một thành phố du lịch thanh nhã, có nhiều di tích lịch sử và các công viên trồng đủ kỳ hoa dị thảo. Lạc Sơn vùng ngoại ô của thành phố, hiện vẫn còn một tượng Phật được đục sâu vào núi đá, nằm cạnh bờ sông Minh Giang. Tượng Phật được khởi công từ năm 713 sau TL cho tới năm 803 mới hoàn thành, cao 71 m. Nhưng Trùng Khánh lại là thành phố lớn nhất của Tứ Xuyên, nằm trên giao lưu của hai con sông Gia Linh và Trương Giang, về phía đông nam của thủ phủ Thành Ðô. Thời Trung Hoa kháng Nhật, Trùng Khánh là thủ đô của chính phủ Quốc Dân Ðảng (1937-1945 do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo. Vì được xây dựng trên một triền núi dọc theo hai bờ sông, nên thành phố luôn bị sương mù che phủ nhiều ngày trong năm. Ðây cũng là một trung tâm kỹ nghệ nằm sâu nhất trong nội địa nước Tàu, trên đầu nguồn sông Dương Tử. ÐẬP THỦY ÐIỆN TAM HỢP TRÊN ÐẦU NGUỒN SÔNG DƯƠNG TỬ: Giang Nam là tên gọi của lưu vực hạ nguồn sông Dương Tử, do nhà Thanh (1644-1912) đặt ra, gồm các tỉnh Giang Tây, Giang Tô và Triết Giang. Miền này thời Ðường,Tống được gọi là Giang Châu, nguyên là đất đai của Bách Việt (Ngô Việt, Mân Việt, Âu Việt và Lạc Việt..), thủ công tinh xảo, dân trí thanh lịch, non nước hữu tình. Sông Dương Tử còn có tên là Trường Giang, đứng thứ ba trên thế giới sau sông Amazone (Nam Mỹ) và sông Nil (Ðông Phi), có chiều dài 6380km, phát nguyên tại vùng rừng núi Thanh Hải (Tây Tạng), từ trên độ cao 6600m, chảy qua phía tây Tứ Xuyên, xuống phía bắc Vân Nam, rồi đổi hướng chảy ngược lên phía đông Tỉnh Tứ Xuyên , ngang qua các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Giang Tô và ra Biển Ðông tại Hoàng Hải. Nếu tính luôn các phụ lưu, chi nhánh chằng chịt khắp miền Hoa Trung, thì chiều dài của sông Dương Tử lên tới 80.000 km, với hơn 12 triệu dân, gồm 55 sắc tộc, sinh sống ở hai bên bờ sông với đủ nghề. Trên thượng nguồn, sông Dương Tử có 3 khe núi lớn gồm 25 thác đổ, nhiều nơi nước chảy xiết nhất là vào mùa mưa, khiến cho các ghe thuyền xuôi ngược dễ bị chìm vì đá ngầm. Ðó là hẽm Kingtanxia dài 5km, hẽm Wuxia dài 25km và hẽm Xilingxia dài 47km., tuy ngày nay đã được nạo vét nhưng tàu qua lại vẫn phải có hoa tiêu hướng dẫn để tránh nguy hiểm. Lưu vực sông Dương Tử hiện nay có hơn 400 triệu người sinh sống. Ngoài ra vùng này còn có 5 hồ lớn, thường được nhắc nhớ trong các tác phẩm thơ văn của Trung Hoa. Ðó là Phân Dương Hồ, chứa nước ngọt , rộng tới 5000 km2, nằm trong tỉnh Giang Tây, gần thành phố Vũ Hán. Ðộng Ðình Hồ có các sông Tiêu và Tương đổ nưóc vào và thông với Trường Giang qua sông Hán. Hồ nằm phía tây tỉnh Hồ Nam,nổi tiếng với Nhạc Dương Lầu, măng tre Thần Châu và quít ngọt Ðộng Ðình Hồng. Thái Hồ chứa nước mặn nằm giữa hai tỉnh Giang Tô và Giang Tây. Sào Hồ và Tây Hồ . Tháng 12-1994, Trung Cộng chính thức khởi công xây dựng Ðập Thủy Ðiện Tam Hợp (Three Gorges Dam), trên khúc sông Dương Tử , chảy trong tỉnh Hồ Bắc, vừa để khống chế nạn lụt hàng năm, đồng thời xây dựng một nhà máy thủy điện với công suất tổng cộng lên tới 12.000 MW. Ðể thực hiện công trình trên, đảng cộng sản đã đuổi hơn 1,5 triệu người dân bản địa, đồng thời làm xáo trộn sinh hoạt của 20 thành phố lớn nhỏ trong vùng. Tam Hiệp, địa điểm được chọn để xây dựng đập thủy điện, là tên một khúc sông Dương Tử dài hơn 200km, từ phía tây tỉnh Tứ Xuyên, chảy qua phía đông tỉnh Hồ Bắc, được coi như điểm nối của vùng thung lũng Tứ Xuyên với các đồng bằng miền Hoa-Trung, phía dưới hạ nguồn. Khúc sông này chảy qua ba hẽm núi lớn và 25 thác đổ. Theo nhận xét của nhiều bậc thức giả trong và ngoài nước, thì dự án Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp tuy đã được manh nha từ thời Dân Quốc, do Tôn Dật Tiên đề xướng. Nhưng bị các hội bảo vệ môi trường sinh thái địa cầu chống đối, vì nó sẽ hủy diệt vĩnh viễn cãnh quan thiên nhiên trong vùng, đồng thời xóa tên 140 thành phố lớn nhỏ, 4500 làng mạc, 30.000 ha đất trồng trọt, hằng ngàn di tích lịch sử và tiêu phí một ngân khoản khổng lồ, mà không chắc đạt được kết quả mong muốn. Với nước Tàu, từ trước tới nay sông Dương Tử là nguồn nước tưới cho cả khu vực đồng bằng Hoa Trung, miền đất cá và gạo, chiếm nửa tổng sản lượng của cả nước. Nhưng đồng thời sông Dương Tử cũng là tai ương ngàn năm của Hán tộc, riêng trong thế kỷ XX lụt lội đã gây cho hơn 300.000 dân chúng trong vùng thiệt mạng. Giống như sông Mekong, sông Dương Tử cũng phát xuất từ Tây Tạng, chảy qua khu vực Tam Hiệp, trước khi vào thành phố Trùng Khánh, được coi như lớn nhất hiện nay tại miền tây-nam Hoa Lục. Từ nhiều lý do, trong đó quan trong nhất cũng vẫn là mục tiêu chính trị,khiến cho Bắc Kinh đã nhắm mắt lao vào một công trình rất tốn kém về tiền bạc, sức người lẫn thời gian,gây ảnh hưởng nặng nề đến vấn đề tâm lý, khi đàn áp đuổi dân, phá hoại các công trình kiến trúc bao đời trong vùng. Thực hiện được đập thủy điện này, về quốc tế Trung Cộng sẽ hãnh diện có thêm một kỳ quan, sau Vạn Lý Trường Thành. Về kinh tế, Ðảng Cộng Sản nuôi hy vọng nhờ nó giúp mức phát triển 11% hàng năm qua nguồn cung cấp điện cho công nghệ và sinh hoạt. Ðây là một cái đập khổng lồ , kinh phí dự chi tốn khoảng 30 tỷ đô la, thực hiện trong 14 năm. Chiều cao của dập 607 bộ, chiếm một diện tích hơn 1 dặm vuông, bao gồm một hồ chứa nước dài 370 dặm và một hệ thống khóa đặc biệt: Hút nước từ các nguồn nước khác khi thiều, cũng như xã nước vào mùa lụt, vừa giúp sự giao thông trên sông Dương Tử, đồng thời vét vơ nước từ các con sông khác, qua hệ thống kênh đào, để tưới cho các vùng đất khô hạn xa xôi ở phía tây. So với các đập thủy điện khác trên thế giới, dập Tam Hiệp không cao và rộng hơn nhưng lại trội nhiều về sức mạnh, với 26 Turbin mà trọng lượng mỗi chiếc 400 tấn/1 chiếc, sẽ tạo ra 18.200 magawatt điện, công suất tương đương với 18 nhà máy điện nguyên tử. Ðập này mạnh hơn các đập Itapu (giữa Brazil và Paraguy có công suất 12.600 megawatt ), dập Guri ở Venezuela có 10.300 megawatt, dập Grand Coulee ở Colorado của Mỹ có 6809 megawatt và đập Sayano Shushensk ở Nga với 6400 megawatt. Theo nhận xét của thế giới, Trung Cộng đã tốn hết 75 tỷ mỹ kim cho công trình vĩ đại này (chứ không phải 19 tỷ như tuyên bố của đảng) . Vì mục tiêu chính trị, Trung Cộng không cần biết tới tính khả thi và hiệu quả kinh tế của dự án màhầu như đều bị sự phê bình chỉ trích của các nhà đầu tư và tài chính quốc tế. Bởi thế nên không làm lạ khi nghe phó giám đốc xây dựng đập là Cao Guangjing nói rằng muốn biết đập có hoàn hảo hay không, phải đợi tới 30 năm sau mới thấy được. Chưa hết, Trung Cộng còn cho biết sau khi hoàn tất đập Tam Hiệp vào năm 2008, Ðảng lại tiếp tục xây thêm 10 đập khác trên thượng nguồn sông Dương Tử, nối tiếp vùng Tam Hiệp. Ðiều lo lắng nhất của người Tàu hiện nay, là làm thế nào để có thể giảm nhanh chóng một biển nước khổng lồ , luôn được chứa trong hồ với độ cao từ 512-574 ft, khi mùa mưa tới. Thãm kich về đập thủy điện Banqiao ở Hồ Nam, vào năm 1975 mưa nhiều vở đê kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống đập chung quanh, gây lụt lội làm chết hơn 230.000 người. Nhưng Trung Cộng đã ém nhẹm tới gần đây thế giới mới biết. Ngoài ra đập thủy điện Tam Hiệp chưa khánh thành nhưng nhiều dấu hiệu bể nứt đã thấy xuất hiện. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì trong thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa anh em (Tàu, Nga, VC, Bắc Hàn, Cu Ba), gần hết ngân khoản của các công trình xây dựng đều bị cán đảng và quan quyền lớn nhỏ, móc ngoặc với nhà thầu, chia, chặt, xén, bỏ túi, cho nên đâu có kiến trúc nào được toàn vẹn, vì vậy chưa bàn giao đã lung lay hay sứt mẽ là cái chắc. Ðó là hậu quả chết người đã xảy ra tại Thành Ðô tỉnh Tứ Xuyên, trong cuộc động đất ngày 12-5-2008, đã phơi bày thực chất ra trước dư luận của thế giới về cái gọi ‘phép lạ kinh tế Trung Cộng‘. CÁC CĂN CỨ NGUYÊN TỬ CỦA TRUNG CỘNG TẠI TỨ XUYÊN VÀ CAM TÚC: Theo các tai liệu được phổ biến trên báo chí thì Trung Cộng hiện nay có nhiều cơ sở chế tạo bom nguyên tử tại các tỉnh Cam Túc, Sơn Tây, Tứ Xuyên và đảo Hải Nam. Ngày 24-4-1970 Trung Cộng chính thức khai mạc lò nguyên tử tại căn cứ Tửu Tuyền khi phóng một vệ tinh đầu tiên lên không trung, mang tên Ðông Phương Hồng 1(CZ-1) . Căn cứ này được xây dựng bên bờ sông Nhược Thủy, về hướng tây bắc của tỉnh Cam Túc, kế sa mạc Gobi. Ðầu năm 1975, Trung Cộng lại xây thêm căn cứ nguyên tử Tây Xương (Cũng Ðô) nằm về hướng tây nam của tỉnh Tứ Xuyên và đưa vào hoạt động ngày 7-4-1990. Ngoài ra TC còn có hai căn cứ nguyên tử khác tại Thái Nguyên (Sơn Tây) hoạt động từ ngày 7-9-1988 và tại bờ biển phía tây đảo Hải Nam, đối diện với Bắc Việt. Trong bốn căn cứ nguyên tử của Trung Cộng, thì căn cứ Tây Xương tại Tứ Xuyên được đánh giá là đồ sộ và quy mô nhất với các trung tâm nguyên cứu kỹ thuật, bộ chỉ huy đầu nảo và các bệ phóng vệ tinh, hỏa tiển. Ðây cũng là nơi mà Tàu đỏ dùng để thử nghiệm các loại vũ khí bí mật ở dưới lòng đất sâu, được đào xới trong các rặng núi cao vút trùng điệp. Bởi vậy các quốc gia sống quanh vùng này không lúc nào được yên ổn, trước những thảm họa tàn khốc của thiên nhiên nhất là các trận động đất gần như xãy ra liên tục, rồi được giải thích là do sự va chạm của hai cao nguyên Tây Tạng và Thanh Hải, nên mới có thảm họa. Tây Xương cách thủ phủ Thành Ðô về hướng tây nam khoảng 500 km. Vùng này trước đây có tên là Cũng Ðô thuộc khu tự trị của bộ tộc Di, hiện có diện tích 2655 km2 là nơi sống chung của 530.000 dân thuộc 10 bộ tộc, trong đó người Di chiếm đa số. Tây Xương nằm trên cao độ 1500 m so với mặt biển, có khí hậu ôn hòa suốt năm, ban ngày da trời xanh như ngọc bích, còn đêm thì trăng sáng vằng vặc. Bởi vậy từ xa xưa Tây Xương còn có tên là Nguyệt Thành, nơi mà truyền thuyết còn ghi là Vũ Hầu Gia Cát Lượng từng đến đây thu phục người Di và qua đức độ đã khiến cho mọi người thần phục. Theo báo chí ghi nhận, thì trong cuộc động đất ngày 12-5-2008, lò phản ứng nguyên tử tại Tây Xương đã bị xáo trộn, làm thất thoát chất phóng xa ra ngoài và đã theo lượng nước mưa thấm vào nước sông Hoàng Giang là một chi nhánh của sông Dương Tử. Tuy nhiên tin này cũng như sự kiện rạn nứt vách đập Tam Hiệp, được Ðảng giữ kín, vì sợ lòng dân thêm công phẩn trước các nổi khổ đau càng lúc càng chồng chất vì không biết đâu mà mò. Từ năm 2007 Trung Cộng lại phao tin là lên quân Mỹ-Ðài Loan có thể tấn công Hoa Lục bằng cách oanh tạc các đập nước tại Tam Hiệp, Vũ Hán và Vân Nam, nếu Tàu đỏ tấn công Ðài Bắc. Ðó là lý do TC tập trung một tiềm lực Không Quân quan trọng từ miền bắc về thành phố Nam Kinh, thuộc tỉnh Giang Tây, để lập một vòng đai phòng thủ chung cho hai tỉnh Phúc Kiến và Giang Tây bằng các loại vũ khí chiến lược tối tân như hỏa tiển Sam địa đối không S300-PMU1 và PMU2. Song song nhiều đơn vị Không Quân chiến lược sử dụng chiến đấu cơ loại J-11 cũng đã đến Nam Kinh. Trước tình trạng tăng cường hỏa lực một cách đột ngột này, nhiều chiến lược gia đã đặt nghi vấn là có phải Trung Cộng muốn vây hãm Ðài Loan hay sợ dân chúng các tỉnh cực tây trong đó có Tây Tạng, Hồi tộc sẽ nổi loạn trong khi Bắc Kinh khai mạc Thế Vận Hội vào ngày 8 tháng 8 sắp tới ? Nhưng tất cả đều là ý trời, vì trong lúc Trung Cộng gần như dồn hết mọi tiềm lực quân sự tại các căn cứ Thượng Hải và Nam Kinh để bảo vệ cho đập nước Tam Hiệp, trước sự tấn công có thể xãy ra của Không Quân Hoa Kỳ và Ðài Loan, thì cũng là lúc có trận động đất kinh khiếp tại Thành Ðô (Tứ Xuyên) vào ngày 12-5-2008 và các trận địa chấn khác trong ngày 20-5-2008, quanh quẩn các tỉnh có liên hệ với đập nước trên. Giống như những gia đình còn sống sót tại Thành Ðô sau cơn động đất, mặc dù nhà cửa còn nhưng đa số đều không dám ngủ trong nhà vì sợ các hậu chấn khác lại ập tới bất ngờ. Ðó là trường hợp sinh tử của đập nước khổng lồ Tam Hiệp, nhìn bề ngoài thì thật là vĩ đại kiên cố như các tầng cao ốc được xây dựng khắp nơi trong nước, nhưng khi có biến cố như trận động đất vừa qua, thì lại trở thành ‘tàu hủ’ xập nhanh và trước hơn ai hết. Ðó mới chính là mối lo vĩ đại trong lúc này của Tàu đỏ, mặc dù vẫn cứ bày binh bố trận để cố che đậy một sự thật chết người. MƯỜNG GIANG |
Mes catégories
Trafic
Noter ce blog :
5273 connectés
46994 visiteurs
|
|||||||||