VICTOR HUGO
* Biên khảo Huỳnh Tâm
VICTOR HUGO (1802-1885) :
Chào đời tại Besancon, từ trần tại Paris, sống tuổi thiếu thời ở Ý và Tây Ban Nha, rồi Paris. Từ năm lên mười đã làm những bài thơ cho thấy một tài năng thiên phú. Thơ của Ông, vì những hình ảnh vĩ đại. vần điệu phong phú, tình cảm dạt dào, đã sớm đặt ông vào ngôi vị hàng đầu của tân trường phái lãng mạn.
* TÁC PHẨM :
- THƠ : Ấn hành thi tập Odes vào năm ông mới hai mươi tuổi (1822), Les Orientales (1828), Les Feuilles d'Automnes (1831), Les Chants du Crépuscules (1835), Les Automnes Intérieures (1837), Les Rayons et Les Ombres (1840), Les Châtiments (1853), Les Contemplations (1856), La Légendes des Siècles (1859-1883).
- TIỂU THUYẾT : Notre Dame De Paris (1831), Les Misérables (1862), Les Travailleurs de la Mer (1866), Quatre-vingt-treize.. - Kịch : Cromwell (1827), Hermani (1830), Marion Délonne (1830),
Le Roi s'amuse (1832), Ruy Blas (1838), Lucrèce Borgia và Maria Tudor (1833), Angelo (1835), Les Burgraves (1843).
1. THỜI THẾ CHÍNH TRỊ .
" Ðối với tôi, không có tổ quốc nơi nào không có tự do "
" Khi nào tự do trở lại, tôi sẽ trở lại "
Ai cũng biết Victor Hugo là một nhà thơ lỗi lạc của Văn học
Pháp, một trong những Ðại văn hào của thế giới, tác giả Thằng Gù
Nhà Thờ Ðức Bà, Những Kẻ Khốn Cùng, Nghệ Thuật Làm Ông, một Nghệ
Sỹ sau bao gian nan, cay đắng, đã lên chóp đỉnh vinh quang của
một con người khi được cả nước ca tụng là "Cha già của nền Cộng
Hòa" (Père de la République), khi nằm xuống được cả thế giới
ngậm ngùi thương tiếc và đám tang là một biến cố văn học trọng
đại... một triệu người xếp hàng dọc theo đại lộ Champs Élysées
và Ðài Chiến Thắng phủ vải đen. Ra đời khi "Thế kỷ mới lên hai"
và cuộc đời trải dài gần tới thập niên cuối cùng của nó, bóng
dáng lẫm liệt của Victor Hugo đã chế ngự cả chân trời văn học Âu
Châu thế kỷ 19.
Là một "đứa con của ánh sáng", một người sớm thành danh, một
người của suy tưởng và hành động, một người của đám đông, của xả
hội : năm ba mươi chín tuổi Victor Hugo đã là ông Hàn của Hàn
Lâm Viện Pháp (1841), Nghị viên của nguyên Lão nghị viện (1845),
sau cuộc Cách Mạng 1848, ông gia nhập Lập Hiến Nghị Hội và trở
thành Phát ngôn viên hùng hồn và người bảo vệ tận tụy nền Dân
Chủ - như Thi Hào Walt Whitman của Hoa Kỳ (nhưng khác Whitman ở
chỗ tác phẩm được các nhà xuất bản săn đón, trả tiền trước và
được cả nước đọc trong khi đó nhà thơ vô danh Hoa Kỳ phải đi gõ
cửa từng nhà bán dạo tác phẫm của mình). Sau cuộc đảo chính 2
tháng 12 1851 thất bại, Victor Hugo lưu vong ở Bỉ, ở Jersey, ở
Guennesey và chỉ trở về Pháp năm 1871. Nhưng ông trở về như một
vị Anh Hùng Dân Tộc, đóng đô tại thảo luận nghị hội cho đến lúc
nhắm mắt. Tóm lại Victor Hugo là một Văn Nhân đồng thời một Nhân
Sĩ, một Lãnh Tụ Chính Trị.
Hoạt động Chính Trị đó có phải là một đam mê, một khuynh
hướng bẩm sinh, một hành vi thúc đẩy bởi những khái niệm có toan
tính không ? Nhà viết Tiểu Sử người Hoa Kỳ của Victor Hugo,
Matthew Josephson, cho rằng không phải. Chỉ là thời thế bắt buộc
thôi. Thời thế đã lôi người nghệ sỹ ra khỏi thư phòng của mình,
công việc riêng tư của mình. Vì yêu đồng bào, yêu chuộng tinh
thần dân chủ, Victor Hugo bắt buộc phải ở vào thế đối đầu với
độc tài, trở thành kẻ tử thù của Napoléon Ðệ Tam hay Tiểu
Napoléon.
Victor Hugo thường được coi là người đàn ông Pháp điển hình
nhất. Ðiển hình trong sự can đảm, hoạt bát, nhạy cảm, tài năng
đa dạng và điển hình nhất trong những khuyết điểm, yếu đuối con
người. Người ta - trong số này có cả văn hào Balzac, phê bình
gia Sainte-Beuve - đã đàm tiếu nhiều về mối tình ngoài giông bão
của Victor Hugo với cô đào hát kiêm gái bao hạng sang Juliette
Dronet, liên hệ nhục dục của ông lão bảy mươi Victor Hugo với cô
tớ gái Blanche đôi mươi... Những cái đó không cắt xén bớt đi
được cái kích thước khổng lồ của Victor Hugo một ly. Trái lại nó
chỉ cho thấy cái khía cạnh mờ tối của chiều sâu của cá tính một
người và cả của dân tộc Pháp, sự can đảm của một con người của
quần chúng và sự bao dung của dân tộc ông.
2. KINH NGHIM HUYỀN BÍ
" Chắc chắn sự hiểu biết về những huyền bí của cái bất khả tri
là sứ mệnh của một Thi sĩ. "
_ Victor Hugo, (theo Gustave Simon)
Nhưng có một khía cạnh trong tâm hồn Victor Hugo, một kinh
nghiệm rất hệ trọng trong đời sống nhà thơ thì lại ít người biết
đến và chính nhà thơ cũng nhìn nhận là vô cùng quan trọng nhưng
cũng chỉ muốn hậu thế mới biết tới mà thôi. Ðó là kinh nghiệm
hai năm đối thoại với các anh hồn của ông, từ 1853 tới 1855
" một kinh nghiệm mới mẻ và sâu thẳm đã thay đổi toàn bộ cách
thái sống của ông " theo Matthew Josephson.
Cuộc sống của một Văn nghệ sỹ được ưa chuộng, ông Hàn của Lưỡng
viện, Lãnh tụ chính trị, không cần tưởng tượng, chúng ta cũng
biết bận rộn như thế nào. Bận rộn đến nổi nhà thơ tham chính,
trong mười năm, gần như không sản xuất được một tác phẩm nào
đáng kể. Cuộc đụng độ nẩy lửa giửa nhà thơ và nhà độc tài, giửa
cây viết và cây kiếm, dĩ nhiên trong đoản kỳ, cây viết phải
nhượng bộ, nhà thơ phải cải dạng chạy trốn qua Bỉ ngày 11 tháng
12 năm 1851 và ngày 1 tháng 8 năm 1852 tới đảo Jersey, một trong
những đảo thuộc Anh vùng Normandie, bắt đầu cuộc lưu vong hai
mươi năm.
Nhưng đó là một lưu đày hạnh phúc, sáng tạo và khám phá. " Tôi
thích sự phát vãng ", nhà thơ thường tâm sự với bằng hữu " tôi
yêu sự lưu đày ". Ông yêu thích cuộc sống lưu vong này đến nổi,
năm 1854, Victor Hugo viết cho Hetzel, Giám đốc nhà xuất bản của
ông : " Tại sao tôi lại không bị lưu đày từ trước ? "
Tuột xuống khỏi quyền cao chức trọng, địa vị xã hội khả kính, xa
đời tổ quốc, bằng hữu, khách khứa quý phái, đám đông ngưởng mộ,
nhà thơ được dịp hoà mình vào thiên nhiên, khôi phục lại con
người nguyên thủy của mình. Sử gia Michelet, trong một cuộc thăm
viếng Victor Hugo ở ngoài hải đảo đã nhận thấy dường như ông có
" sức mạnh của một người bị lôi cuốn, đi bộ không ngừng nghĩ và
tắm biển một ngày hai lần ". Bị di chuyển từ đảo này qua đảo kia
ông cũng chẳng quan tâm : cuộc sống bên ngoài là phó mặc với kẻ
thân đã ngoại vật rồi. " Tôi chìm đắm vào thi ca ", ông viết cho
một người bạn, " giữa núi đá và những cánh đồng, hoa lá và trời
mây, non nước ". Victor Hugo viết hết tác phẩm này đến tác phẩm
khác. Tiếp theo Tiểu Napoléon (Napoléon le Petit) là Hình Phạt
(Les Châtiments). Nhiều bài thơ trường thiên, bất hủ được hoàn
tất trong hai ba ngày đêm. Khi những ý tưởng, hồi ức ào ạt tuôn
trào, cộng những kinh nghiệm mới, những cảm nghiệm mới đầy ắp,
ông không quan tâm tới văn thể nửa mà viết tràng giang đại hải.
Les Contemplations (Những Suy Tưởng), một trường thiên gồm hai
tập, một tác phẩm tự biện giải và tự truyện bằng thơ, được viết
một năm rưỡi sau mùa hè 1853, sửa kỷ lại lần cuối năm 1855. Cũng
trong khoảng thời gian từ 1853 tới 1850, hai thi phẩm trường
thiên được thai nghén và hoàn tất. Ðó là Dieu (Thượng Ðế) và La
Fin de Satan (Chung cuộc của Sa-Tăng), hai thi phẩm mang tính
chất tiên tri mà Victor Hugo giử lại, chỉ cho in sau khi nhà thơ
qua đời. Từ đảo Jersey qua đảo Guernsey, ông hoàn thành thi tập
La Légende des Siècles (Huyền thoại của những thế kỷ), một thứ
" lịch sử của loài người " viết theo thể anh hùng ca, đồng thời,
một bản tóm lược tư tưởng thế kỷ thứ 19. Rồi cuối cùng kiệt tác
Les Misésables (Những kẻ khốn cùng) được viết xong cuối năm
1861.
Theo Matthew Josephson " Victor Hugo không phải là một nhà tư
tưởng có hệ thống, và sự học vấn của ông, như Sainte-Beuve nói,
không đồng đều chừng mực ". Thế nhưng những nổi thăng trầm,
những thảm kịch của cuộc sống riêng tư và công cộng mà ông đã dự
phần vào, đã đẩy Victor Hugo tới chổ phải đào sới tâm hồn, tái
xét lại những niềm tin cố cựu của mình, đồng thời cả những hành
vi cử chỉ của mình nữa ; nhịp sống chậm bước nơi hải đảo cho ông
có thì giờ tra vấn ý nghĩa của những biến cố dị thường chụp lên
đời ông, và càng về già, ông càng nghĩ nhiều tới tương lai.
" Ông suy tưởng mỗi ngày một mãnh liệt hơn và dần dần thấy mình
bị lôi cuốn vào một cơn khủng hoảng tâm lý, một hình thức kinh
nghiệm tôn giáo, kinh nghiệm lần lượt đưa ông tới những trạng
thái phấn kích và thống khổ ".
Cuộc sống nội tâm của Victor Hugo, cho tới giai đoạn xuất thần,
huyền bí đó, là một chuổi mơ mộng dài. Ông tự gọi mình là một Kẻ
Mơ Mộng và nhà Suy Tưởng. Giờ đây, một mình trên những bải biển
quạnh hiu, đối diện tuổi già và tương lai mù mịt, ông bị vây hảm
bởi những hoài niệm quá khứ, những suy tư không dứt về con
người, thiên nhiên và Thượng Ðế.
Cái chết đuối bi thảm của cô con gái cưng đầu lòng Léopoldine
(năm 1843) là một khúc quanh trong cuộc đời ông. Victor Hugo cảm
thấy tội lổi và trở nên cay đắng, hồ nghi. Rồi ông tham chính,
trở thành bạn của đấng quân vương đang trị vì, kế đó, lương tâm
buộc ông phải đứng vào thế của nhân dân chống lại nhà độc tài,
bị thất sủng, phát vãng vô thời hạn... Ông đã đúng hay sai ? Có
thể gặp lại và nói với Léopoldine hay không ? Có công lý hay
không ? Chính nghĩa có thắng nổi gian tà ? Có một đấng Thượng Ðế
công chính hay không ? Trong bài thơ Lời trên đụn cát (Paroles
sur la dune) trong tập Những Suy Tưởng, ông hỏi biển, hỏi gió
rằng " phải chăng mọi cuộc đời, tình yêu, nguồn vui và hy vọng
đều rổng tuếch ? ". Cũng trong mạch ưu tư đó, trong bài Kinh
Hoàng (Horreur), nhà thơ đi trong đêm tối của linh hồn, tự hỏi
câu hỏi muôn thủa : Con người từ đâu tới ? Con người sẽ đi về
đâu ? Thế rồi, khi đau khổ lên đến cao độ, theo một tiến trình
tự nhiên mà bao tâm hồn lớn đã cảm nghiệm trước và sẽ cảm nghiệm
sau ông, nhà thơ cúi đầu nhận phận, cam chịu sự an bài của Ðấng
Tối Linh. Ðó là tâm trạng Hugo qua bài Ðau Thương (Douleur) :
Ôi Khổ Ðau, mi là chìa khóa của Thiên Ðàng !
Chìa khóa chuộc tội mở ra cánh cửa khép kín !
Lên cao là hy sinh ; những đỉnh cao bao giờ cũng khắc khổ.
Từ khi còn trẻ, Victor Hugo đã quan niệm chức năng của Thi sĩ
như là chức năng của đấng Tiên Tri Thấu Thị, bây giờ, ở tuổi ngũ
thập tri thiên mệnh - trong bài Les Mages - ông khẳng định thi
nhân như là những đạo sĩ ; những thiên tài tối cao, đã tiếp nhận
được ánh sáng của Thiên Ðàng và tiếp vận đến cho loài người, từ
đời này qua đời kia. Ông đặt câu hỏi : Nếu đã có những tu sĩ thì
tại sao những kẻ tiếp dẩn linh hồn - những tiếp đạo sư - như
Virgil và Dante, giống như những Isaiah và Ezekie thưở xưa, lại
không thể là những đạo sĩ được ? Trong nguồn cảm hứng xuất thần
đó, nhà thơ, trong bài Ibo, với tư cách một nhà tiên tri, một
đạo sĩ, sẽ cố gắng mạo hiểm để khám phá những huyền bí của cái
Bất Khả Tri để hy vọng phát lộ cho loài người, những kẻ " trôi lăn
trong vô minh... cư trú trong đêm tối ".
Những định luật của định mệnh chúng ta trên trần gian,
Và mến những luật lệ này là điều bí ẩn
Thượng Ðế đã ban thành lời ;
Thì ta là tinh thần...
Vậy, những qui luật của vấn đề của chúng ta
Ta sẽ thủ đắc chúng
Ta sẽ đi chinh phục chúng ta ; tư tưởng gia xanh xao,
Ðại Sĩ run sợ, kinh hoàng.
(Les lois de nos destins sur terre,
Dieu les écrit ;
Et si ces lois sont le mystère,
Je suis l'esprit...
Donc, les lois de notre problème,
Je les aurai.
J'irai vers elles, penseur blême,
Mage effaré.)
3. NHU+~NG THẦN LINH NÀO ÐÃ ÐE^'N VỚI VICTOR HUGO ?
" Văn kiện này chắc chắn sẽ trở thành Thánh Kinh của tương lai "
_ Victor Hugo, 22-10-185
" ... chủ thuyết Duy linh : Tôn giáo mới của nhân loại "
_ Luigi Pirandello, 1930
Từ lâu, Victor Hugo đã tin theo Thần bí học (Cabalisme), giáo
lý, Pháp thuật thần thông trong Cựu ước và là một nhà Duy Hồn
thuyết (Animiste), ông nhìn nhận và thấy những biểu tượng, nếu
không nói là những linh hồn, trong muôn thú, cỏ cây, ngay cả
trong những tảng đá " cau mày dễ sợ " và những núi dốc ngược dọc
theo bờ biển đảo Jersey. Nhà thơ cảm nhận và chia xẻ cảm giác
của thảo mộc trước khoa học thực nghiệm hơn một thế kỷ. Và nếu
ông không cảm nhận được thì đã có những tiếng nói vô hình bảo
cho ông biết. Trong một bài thơ làm vào thời đó, ông đã viết :
Bông hoa đau khổ và nhắm mắt dưới lưỡi kéo...
Tâm trạng và tư tưởng Victor Hugo đã chín mùi cho một kinh
nghiệm huyền bí. Thế rồi sứ giả - hay tác nhân ? - của Khoa học Huyền bí xuất
hiện. Ngày 6 tháng 9 năm 1853, bà Delphine de Giradin, một người bạn
củ từ Paris đột ngột tới Jersey mang theo một sự sùng bái mới
đang rầm rộ thịnh hành khắp Mỹ châu, Anh quốc và Âu châu lúc bấy
giờ : phụ đồng bàn - tiếp xúc với các vong hồn bằng cái bàn. Bà
Giradin giải thích với những người hoài nghi trong gia đình Hugo
rằng người ta có thể nói chuyện với những người đã chết bằng
cách nói với những cái bàn và bàn trả lời bằng cách không những
nghiêng, chúc xuống mà còn gõ ra cả chử, cả câu theo mật hiệu.
Gia đình Victor Hugo lúc ấy đang ngụ ở đường Marine Terrace,
ngoài Thi hào còn có bà vợ là Adèle Hugo, cô con gái cũng tên là
Adèle, hai con trai là Charles Victor và Francois Victor, và một
người bạn thân của gia đình là Auguste Vacquerie, em chồng của
Léopoldine.
Những cuộc thí nghiệm đầu tiên trên cái bàn sẳn có trong nhà,
trước những con người hoài nghi, là những thất bại bối rối. Bà
Giradin biện bạch rằng các vong không " giống như những con ngựa
kéo xe " lúc nào cũng sẳn sàng tuân theo mệnh lệnh. Theo tôi,
người viết bài này, trở ngại lớn nhất là thái độ đố kỵ, bất tín
của gia đình Hugo đối với phong trào phụ đồng bàn. Tâm linh hiển
hữu quanh ta như những làn sóng điện trong không khí. Muốn bắt
được những làn sóng mong muốn thì trước hết, về phương diện
khách quan : chúng ta phải có một cái điện đài đã, ở đây là kiến
thức hay niềm tin tâm linh - thứ đến ; về phương diện chủ quan :
chúng ta phải có ý muốn giao tiếp, có thái độ thành khẩn, cởi
mở, thứ ba : điều kiện thời tiết - hay bầu không khí - phải
thuận hòa. Vacquerie giải thích rằng gia đình Hugo sở dĩ ác cảm
đối với phụ đồng bàn vì họ nhìn thấy đằng sau cái phong trào
quần chúng của hiện tượng này là bàn tay của mật thám Pháp đang
ngày đêm muốn lái tâm trí dân chúng để họ khỏi để ý tới những
việc làm sai quấy của chính phủ. Sau đó gia đình Hugo hoàn toàn
thay đổi thái độ, nhất là vì Jersey quá xa Paris, không có cảnh
sát, mật vụ nào nhúng tay vào được và cũng không có ông đồng bà
cốt chuyên nghiệp nào có mặt ở đó cả, Mme de Giradin là bạn cố
giao. Bà Giradin đi vào trong làng mua một cái bàn ba chân ở một
tiệm bán đồ chơi. Lần này bà dỗ dành được Victor Hugo tham dự và
buổi phụ đồng chổi đó thành công trên cả sự mong ước : cái bàn
gõ ra những mật hiệu, ghép lại thành chữ " LEOPOLDINE ". Như
thế, linh hồn cô con gái lớn đã nhập đồng. " Họ khóc và họ
tin... " Vacquerie kể lại như vậy. Từ đó họ ngồi phụ đồng bàn
không ngừng nghĩ. Bà Giradin từ giả vào ngày mười ba hoặc mười
bốn tháng chín nhưng những cuộc hầu đồng vẫn tiếp diễn mãi đến
tận năm 1855, lúc gia đình Hugo sắp dời sang đảo Guernsey.
Charles Victor tỏ ra là một đồng cốt có căn nhập đồng rất nhạy,
nhanh, dễ dàng trong khi Victor Hugo điều khiển, đặt câu hỏi.
Vẫn theo Vacquerie : " Chúng tôi không đợi đến tối, chúng tôi
bắt đầu ngay từ trưa và không ngừng mãi cho tới sáng hôm sau...
cùng lắm chúng tôi mới phải gián đoạn buổi ngồi đồng để ăn tối
mà thôi ". Thu qua rồi đông tới trong sự thờ ơ của những mái đầu
miệt mài cắm cúi trên cái bàn giao tiếp với thế giới vô hình.
" Biển cả vang ầm hòa lẩn với những cuộc đối thoại này,
Vacquerie ghi lại : " Sự huyền bí của sự đối thoại sâu đậm thêm
bởi mùa đông, đêm tối, giông bão và cảnh cô tịch ".
Chỉ có Mme Drouet lúc đó đang trú ngụ tại khách sạn gần đó là
không bị kích động tinh thần bởi những cuộc đối thoại với thần
linh này và còn giữ thái độ hoài nghi, thực tiễn, rất người đời.
Bà cảnh giác Victor Hugo : " Anh lên giường và đi ngũ đi, để em
yên, rất may là em không có cái bàn tiện dụng cung cấp cho em
những đề tài làm sẳn để viết thành sách, chương nọ kế tiếp
chương kia. Em muốn anh tin rằng em là Dante của chính em, Aesop
của chính em, Shakespeare của chính em. Về phần anh và tất cả
những người trong gia đình anh, quý vị đang kéo con cá chết mà
những vong hồn của thế giới bên kia đã buộc vào lưỡi câu của quý
vị, một trò lừa phỉnh phổ thông trong vùng Ðịa Trung Hải từ lâu
trước ngày có những thứ bàn ghế mách lẻo lắm chuyện... Em gởi
đến anh lời chúc ngũ ngon âu yếm nhất ". Quả là một phản ứng khó
chịu ! Nhưng đó là thái độ thường tình của những kẻ mà đối với
họ, đời sống này là chân thật và duy nhất. Có hàng tỷ Mme Drouet
mà chỉ có vài ngàn Victor Hugo mà thôi. Cũng chẳng lạ gì.
Dante, Aesop, Shakespeare đã giao tiếp với Victor Hugo qua cái
bàn. Hồn Shakespeare ứng khẩu ba bài thơ dài bằng tiếng Pháp,
ngoài ra thi hào còn kể : Tôi và nói với tôi như thế này : thi sĩ, ông nghĩ sao về Don Quichotte ?
Và Molière, lúc đó đi qua nói : Hắn cũng là mẫu người giống như Don Juan. Còn
tôi nói : Hắn cũng là mẫu người như Hamlet. Don Juan hồ nghi,
Hamlet hồ nghi. Don Quichotte tìm kiếm, Don Quichotte khóc, Don
Juan cả cười, Hamlet mỉm cười. Cả ba đều đau khổ. Trong cái sọ
người mà Hamlet cầm trong tay, có nước mắt của ông, hỡi
Cervantes ; có tiếng cười của ông, hỡi Molière. Bộ xương của
nghi hoặc nhăn nhó dưới vẻ đẹp của cả ba tác phẩm của chúng ta.
Chúng ta tạo ra những vở kịch, Thượng Ðế hoàn thành nó. Hảy nhìn
lên bầu trời : đó là màn kết đó. Tấm mộ bia mở linh hồn chúng ta
là tấm màn nhung kéo lên trên phần giải kết. Vỗ tay đi,
Cervantes ! Vỗ tay đi, Molière ! Vỗ tay đi, Shakespeare ! Thượng
Ðế đang xuất hiện trên sân khấu. Hồn Shakespeare đã dùng tiếng
Pháp để giao cảm với những người ngồi phụ đồng bàn người Pháp,
nhưng khi có một người Anh tham dự và đặt câu hỏi thì tiếng Anh
được xử dụng. Ngày 7 tháng 6 năm 1854, Trung úy Albert Pinson
hỏi đặt một số câu hỏi và cái bàn gõ ra những câu trả lời bằng
tiếng Anh. Pinson yêu cầu đừng ghi lại những câu trả lời này vì
quá chính xác và liên quan đến chuyện gia đạo rất riêng tư. Năm
ngày sau (12/6) cũng vẩn có sự hiện diện của Pinson, cái bàn
thông báo sự hiện diện của các thi sĩ Lord Byron (1788-1824) và
Sir Walter Scott (1771-1832). Khi Pinson hỏi hồn Byron :
" Montagne Helt còn sống hay chết ? " thì hồn Byron trả lời :
" You know not what you aks. " (Anh không hiểu chính điều mà anh
hỏi). Cuộc đối thoại với hồn Sir Walter Scott diễn ra như sau :
_ Qui est là ? (Vong nào đó ?)
_ Scott.
_ Est-tu Walter Scott ? (Có phải anh là Walter Scott
không ?)
_ Oui. (Phải)
_ Eh bien ! Parle en anglais. (Tốt lắm ! Nói bằng tiếng
Anh đi)
_ Vex not the bard ; his lyre is broken, his last song
sung, his last word spoken. (Ðừng làm rộn thi sĩ ; cây thất
huyền cầm của chàng đã gẫy, bài hát cuối của chàng đã được hát
lên, lời cuối của chàng đã nói xong rồi)
Ngoài những nhân vật trên, những linh thần đến thăm Victor Hugo
còn có Aeschyleus, Platon, Molière, Racine... nhà thơ trẻ André
Chénier bị lên đoạn đầu đài năm 1794 được hỏi tại sao bài thơ
mang tựa đề " XIX " của chàng bị bõ dở, đã ứng khẩu đọc ngay
đoạn thiếu sót đó ! Cả Ðức Chúa Jesus, Mohamed, Galileo và
Isaiah. Cả con chim bồ câu của con Tàu Cứu Nạn của ông Noah và
con lừa của tiên tri Balaam ! Nhà văn André Maurois, trong cuốn
sách viết về tiểu sử của Victor Hugo mang tựa đề Olympio (New
York, 1856), đã nhận định đúng rằng : " Victor Hugo đã cực kỳ
coi trọng những sự phát lộ (của những linh thần) này và (...)
xúc động sâu xa khi thấy rằng những linh hồn đã nói bằng ngôn
ngữ của chính ông, và công nhận triết lý của chính ông. Những
cuộc lên đồng tại Marina Terreca đã đóng một vai trò lớn lao
trong sự phát triển của cá tính ông. Ông nghĩ rằng những linh
hồn xuất thể đã chọn một cái bàn ở đảo Jersey như một phương
tiện truyền thông là một điều hoàn toàn tự nhiên. Ông chân thành
nghĩ rằng triết lý của ông, bằng cách này, đã nhận được từ cội nguồn của linh thánh một sự chuẩn nhận trang trọng ". Trong một bức thư viết cho Mme de Giradin ngày 4 tháng Giêng năm 1855, Victor Hugo viết :
" Những cái bàn nói với chúng tôi những điều kỳ lạ nhất. Tôi mong có thể nói với bà về những điều này và hôn tay - hay đôi cánh tay của bà !... Cả một hệ thống vũ trụ khai tịch luận mà tôi từng suy ngẫm - mà một phần đã viết ra - trong hai mươi năm trở lại đây, đã được xác nhận bởi những cái bàn, và với những sự trau chuốt huy hoàng. Giờ đây chúng tôi sống trong dung quang của một chân trời huyền bí đang đổi thay tất cả mọi viễn tượng của cuộc lưu đày của chúng tôi ; và chúng tôi thường nghĩ tới bà, người mà chúng tôi hàm ân đã mở ra cho chúng tôi cánh cửa này.
" Những cái bàn khuyên bảo chúng tôi phải im lặng và giữ kín - trừ hai chi tiết quan trọng, thực thế - bà sẽ không thấy điều gì liên quan tới chúng trong cuốn Những Suy Tưởng của tôi ".
Một cách ý thức, Victor Hugo đã " không pha trộn với thơ tôi một dòng nhỏ nào của những dòng thơ mà các linh thần đã đọc qua cái bàn đó, cũng không chiếm hữu một ý tưởng nào từ nguồn đó ". Ông tuyên bố : " Bao giờ tôi cũng kính cẩn coi chúng thuộc về Ðấng Bất Khả Tri, tác giả duy nhất của chúng ". Dù e sợ thần linh, dù muốn tôn trọng những lời khuyên bảo và tác quyền của Ðấng Vô Hình, một cách vô thức, Victor Hugo vẫn đặt một số thơ " phụng bút " (được cái bàn " đọc cho chép ") vào phần kết tập cuốn Les Contemplations. Hai phần ba thi tập này dành cho những đề tài trần gian, bài trường thiên có tính chất tiên tri ở cuối tập - bài Bouche d'ombre (Miệng âm u) đã làm những đọc giả trung thành của thi hào phát run vì ông đã công nhiên luận bàn về những phát lộ của những thần linh. Trong bài thơ này cũng như trong bài
Thượng Ðế và Chung Cuộc của Sa-Tăng - những tác phẩm chỉ được xuất bản sau khi tác giả qua đời - " những sự huyền nhiệm của Mật giáo Cabbala (trong Cựu ước) và của triết thuyết Pythagora mà ông từng suy ngẫm nhiều năm đã được trải ra dưới hình thức triết luận hay suy lý. Chủ đề trung tâm của những bài thơ tiên tri trường giang này là sự chiến thắng của đức hạnh thiêng liêng trên mãnh lực của cái ác xấu và bóng tối " (Matthew Josephson, Victor Hugo, 409).
" Hệ thống vũ trụ khai tịch luận " (Cosmogonie) của Victor Hugo gồm những điểm chính như sau :
1. Quan niệm " Linh hồn chuyển sinh " (Transmigration de l'âme) hay Luân hồi (Orphisme, Pythagoréisme).
2. Quan niệm " Hoá thể " (Transubstantiation) : mọi vật thể đều sống, cảm, nghĩ và tiến hóa trên quá trình siêu vượt về Thượng Ðế.
3. Quan niệm " Phiếm thần " (Panthéisme) : vạn sự, vạn vật, dù vô tri như vật chất, cũng đều là một phần của Thượng Ðế. Vũ trụ Khai tịch luận trên của Victor Hugo có tính cách lạc quan vì thi hào tin rằng : mọi sự vật đều hóa sinh và tiến hóa từ những trạng thái thấp kém lên những trạng thái cao hơn. Bằng cách nào ? Theo Hugo tiền trình thăng hoa của linh hồn gồm ba cấp :
1. Bằng con đường đau khổ : đó là cái phải trả cho những lầm lạc, là sự bồi thường và điều này giải thích mọi khổ đau trên đời, mọi ác xấu trong thế giới.
2. Bằng tri thức : là sức mạnh giải phóng con người khỏi sự ác xấu. Người ta độc ác, do đó đau khổ, vì vô minh.
3. Cuối cùng bằng tình thương yêu : là ân huệ tỏa ra từ Thượng Ðế, là tính chất lý tưởng của mối liên hệ giữa con người với con người và vạn vật.
Ðặc tính của Vũ trụ Khai tịch luận của Victor Hugo là không có sự ác xấu " tuyệt đối ", thi sĩ không chấp nhận quan niệm về sự Sa ngã, ý niệm căn bản của Thần học Thiên Chúa giáo.
_ Tại sao Thượng Ðế lại tạo ra sự ác xấu và bóng tối vô minh ?
_ Bởi Ngài " cần " những sinh vật kém cỏi hơn thay vì đồng thể tẻ nhạt với Ngài. Và quan trọng hơn, sự ác xấu là điều " cần thiết " để con người có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo. Vì nếu con người luôn luôn được sống trong vĩnh phúc thì thử hỏi nó còn có buồn làm những kỳ công ? Có cơ hội tạo nên những tuyệt tác ? (tương tự quan niệm " bất lợi " của chư thiên của Phật giáo). Chỉ có qua khổ đau, bất hạnh, tai họa mà con người mới khám phá ra sức mạnh thần thánh trong mình.
VICTOR HUGO 2
Click