iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 19/06/2008 à 16:27
Par clb-vh

CHÚNG TA NGHE VÀ CẢM NHẬN GÌ QUA


"TIẾNG VỌNG GIOAN BAOTIXITA"
NGÀY
04-6-08?


Trần Phong Vũ
 


I.- Sự kiện:

    Mạng lưới www.conggiaovietnam.com vừa phổ biến một lá thư nói là của đức HY Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đề ngày 04-6-2008 trong một tiết mục quen thuộc hàng tháng có tên là Tiếng Vọng Gioan Baotixita. Đối tượng của lá thư là ba vị giám mục trong HĐGMVN. Đó là các đức cha chủ tịch Ủy Ban Giám Mục đặc trách Mục vụ Giới Trẻ, chủ tịch Ủy Ban Giám Mục đặc trách Giáo Lý Đức Tin và đức cha cai quản giáo phận Lạng Sơn là những vị sẽ tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Úc Châu năm 2008. Nội dung thư gồm 6 đoạn.

    Đoạn 1: Sau khi miễn cưỡng nhận lời tham dự Đại Hội, đức Hồng Y chia sẻ với ba GM vài ý nghĩ với "mục đích là cùng nhau giúp cho các bạn trẻ, - là sức sống của Giáo Hội, của đất nước -, khai thông con đường hiệp thông với Chúa…".

    Đoạn 2: Nhắc lại sự xuất hiện lá cờ vàng ba sọc đỏ tại các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Pháp, Canada và Đức trước đây đã "làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN".

    Đoạn 3: Quảng diễn về biểu tượng của một lá cờ. Nhắc lại bài học lịch sử của vị Giám Mục của HY 30 năm trước. Mẹ Việt Nam lúc mặc áo vàng (cờ vàng). Lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ)… 

    Đoạn 4: Giáo Hội CG không bao giờ xây trên nền tảng một chủ nghĩa trần thế, hay một thói đời mang tính đối kháng. Trong khi ấy, một chủ nghĩa trần thế bao giờ cũng tạo nên sự phân rẽ mang tính đối kháng và loại trừ nhau.

    Đoạn 5: Bản chất của GHCG là hiệp thông với Chúa, với con người.

    Đoạn 6: Kết thúc lá thư với lời khẩn cầu cho mọi người, mọi giới được tràn đầy ơn Thánh Thần và thấm nhập tinh thần hiệp thông.

    Tóm lại, cái cốt lõi tìm thấy nơi nội dung lá thư là thái độ không thoải mái vì sự có mặt của lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của những người quốc gia không chấp nhận chế độ độc tài, độc đảng CS trong nước, tại các ĐH Giới Trẻ Thế Giới ở Pháp, Canada và Đức Quốc trước đây. Theo nhận định của ngài: nó "làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN". Lá thư có mục tiêu rõ ràng là ngăn ngừa trường hợp tương tự có thể xảy ra tại Đại Hội năm nay ở Úc.

    (Cũng cần mở dấu ngoặc để nói tới nguồn dư luận cho rằng đây là một lá thư giả mạo nhằm gây nên sự hiểu lẩm về nhân cách HY Mẫn. Khi lá thư này được công bố rộng rãi trên NET, có người đã quả quyết rằng: với địa vị và trình độ của một người như ngài không thể viết một lá thư với nội dung như thế, vì nó có thể mang lại hệ quả tai hại, không những cho cá nhân ngài mà còn liên lụy tới cả thanh danh Giáo Hội và 7 triệu tín đồ CGVN. Người viết bài này thiết tha mong cho nguồn dư luận kể trên trở thành sự thật. Do đó, những nhận định trong bài này chỉ được kể tới khi lá thư gửi ba giám mục của HY Tổng Giám Mục TGP Sàigòn là có thật.) 

II.- Vài Nhận Định:

    Vào những ngày đầu tháng 6-2008 vừa qua, người Việt tị nạn ở hải ngoại, bao gồm cả tập thể đồng bào Công Giáo, không khỏi ngạc nhiên đến sững sờ khi đọc lá thư trên đây được cho biết là của Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Câu hỏi đặt ra là không hiểu tác giả lá thư đứng trên quan điểm nào để phát biểu những điều nghịch thường như vậy?

    - Trên quan điểm của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam? Câu trả lời tìm thấy hiển nhiên là KHÔNG. Giản dị là vì Giáo Hội với tư cách và vị thế siêu việt của mình đâu cần phải quan tâm tới những chuyện lặt vặt bên lề như vậy!

    - Trên quan điểm của phái đoàn giới trẻ Công Giáo Việt Nam trong nước tham dự Đại Hội? Điều này cũng không có sở cứ, vì nếu cần lên tiếng thì chính các bạn trẻ này lên tiếng mà không phải cầu viện đến một giới chức mang phẩm phục đỏ cầm đầu một Tổng giáo phận lớn nhất nước như ngài.

    Để tìm ra câu trả lời chính xác, không gì khác hơn là tìm xem AI, ĐỐI TƯỢNG NÀO cảm thấy nhức nhối về sự hiện diện của những lá cờ vàng ba sọc đỏ trong những cuộc tập hợp của những bạn trẻ trong tập thể người Việt ở hải ngoại, nhất là trong những Đại Hội mang tầm vóc quốc tế như Đại Hội Giới Trẻ thế giới? Và AI, ĐỐI TƯƠNG NÀO trực tiếp thủ đắc lợi lộc khi lá cờ ấy bị loại bỏ ra khỏi cộng đồng người Việt tị nạn, (để nếu được, thay thế bằng lá cờ đỏ mà những nạn nhân của nó thường mệnh danh là CỜ MÁU)?

     Không cần phải mất công suy nghĩ nhiều, ai cũng có thể mau mắn tìm được câu trả lời: kẻ ấy, đối tượng ấy không ai khác hơn là chế độ cộng sản Việt Nam và những khuôn mặt lớn xoay quanh chế độ này.

    Không thể đứng trên quan điểm của Giáo Hội CGVN; cũng không có lý do để nhân danh phái đoàn giới trẻ Việt Nam tham dự ĐH, như vậy đâu là nguyên ủy dẫn tới lá thư? Truy bắt sự viêc cho đến ngọn nguồn, người ta miễn cưỡng phải nghĩ tới một điều khó nói –dù rất chính xác-, là tác giả lá thư đã tự nguyện hoặc bị cưỡng bách phải thay mặt đảng và nhà nước cộng sản VN để lên tiếng.

    Câu trả lời thật buồn và cũng thật đau đối với người tín hữu Chúa Giêsu Kitô, nhưng biết làm sao bây giờ? Im lặng thì mang tội đồng lõa. Mà nói ra thì lại mang tiếng là "vạch áo cho người xem lưng"! Mọi chọn lựa, dù là chọn lựa chính đáng, cũng không khỏi gây nên những chấn thương.

    Sau đây chúng ta thử đi sâu vào nội dung lá thư của HY Phạm Minh Mẫn gửi ba vị Giám Mục Việt Nam, mà trong đó ngài hé mở cho hay là sẽ cùng với ngài có mặt tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Úc Châu tháng 7 năm nay.

    Chúng tôi sẽ lướt qua thật nhanh 4 đoạn gồm đoạn 1, 4, 5 và 6 trước khi phân tích hai đoạn được coi là cốt yếu trong thư: đoạn 2 và 3.

    Đoạn thứ nhất chỉ là đoạn mở đầu, không có gì đáng bàn thêm.

    Đoạn 4, lá thư ghi nhận (1) đời sống cũng như tinh thần hiệp thông trong Giáo Hội Công Giáo chưa bao giờ được xây trên nền tảng một chủ nghĩa trần thế, hay một thói đời mang tính đối kháng. Điều này rất đúng nếu xét trên căn tính của Hội Thánh Công Giáo dựa vào sứ mạng và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội. Tuy nhiên, trên thực tế, dù là một Giáo Hội của Chúa Giêsu nhưng lại do con người điều hành với tất cả tự do, bao gồm cả cái mạnh và cái yếu của mình, nên đã có những lúc Giáo Hội không tránh được vong thân dưới dạng thái này hay dạng thái khác. Ấy là khi những thành phần thay mặt Giáo Hội tự đóng cửa, ngăn cản hoạt lực của Chúa Thánh Thần.

    Những mảng tối vào thời trung cổ trong lịch sử 2000 năm Giáo Hội đã chứng minh điều ấy. Và một cách nào đó, cung cách sống và hành sử vai trò lãnh đạo theo "chủ nghĩa tương đối", "du di", "thỏa hiệp" của những người có trách nhiệm trong GHCGVN dưới chế độ cộng sản là một chứng minh khác. Đồng ý là không có dấu tích nào cho thấy GHCGVN xây trên nền tảng một chủ nghĩa trần thế, nhưng khó có thể loại bỏ được ý nghĩ là GH ấy –hay ít nữa là một số những thành phần cốt cán trong GH ấy- đã và đang để mặc cho "một chủ nghĩa trần thế" lần hồi xâm thực GH, làm suy giảm tính chất tinh tuyền của GH bằng những thủ đoạn tinh vi của thế quyền nhằm can thiệp trực tiếp vào việc đào tạo chủng sinh, phong chức linh mục, tuyển chọn, bổ nhiệm giám mục. Từ đấy, nhiều ngườI đã tự đánh mất chức năng ngôn sứ của mình trước những thủ đoạn tàn độc của "một chủ nghĩa trần thế" đã và đang tiếp tục xúc phạm trầm trọng tới nhân quyền, nhân phẩm của con ngườI, trong khi CON NGƯỜI vốn được coi là "đường đi của Giáo Hội", là đích điểm phục vụ ưu tiên hàng đầu của Giáo Hội Chúa ở trần gian như lời khẳng định không khoan nhượng của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lúc sinh thời.

     Đoạn 5 ghi nhận: "Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa, với nhau, với mọi người anh em đồng bào và đồng loại. Và đời sống hiệp thông của Giáo Hội chỉ có thể được xây đắp trên nền tảng một niềm tin, tin rằng Thiên Chúa là Cha trên trời giàu lòng từ bi bao dung, tin rằng mọi người là con một Cha, là anh em một nhà, tin rằng tình huynh đệ giữa đồng bào còn có thể phát huy trên cơ sở một sắc tộc và một nền văn hoá  dân tộc."

    Những nhận định trong lá thư về bản chất GHCG và về điều kiện giúp tăng trưởng đời sống hiệp thông trong GH trên đây hoàn toàn chính xác vì nó được khai triển từ nền tảng đức tin và giáo lý của Hội Thánh. Nếu có điều cần xét lại thì chính là cách hiểu và cách xử sự của các phía liên hệ về điều gọi là "tình huynh đệ giữa đồng bào" và về "văn hóa dân tộc". Thêm nữa là làm sao và bằng cách nào những người có trách nhiệm trong GH mỗi khi cần lên tiếng để biện minh điều gì, có đủ sự khôn ngoan, lòng đạo đức và ý thức cảnh giác để không tự mình sa đà vào cái gọi là "chủ nghĩa tương đối", một chủ nghĩa nguy hiểm mà trong chuyến du hành mục vụ Hoa Kỳ vừa qua, ĐTC Biển Đức XVI đã hơn một lần lên tiếng cảnh giác.

    Đoạn 6 gói ghém một lời khẩn cầu cho mọi người tham dự ĐH Giới Trẻ Thế Giới được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, được thấm nhập tinh thần hiệp thông của con cái Chúa. Nói chung, toàn là những lời lẽ và những ý nguyện ngay lành. 

    Bây giờ xin được nhìn trở lại đoạn 2 và đoạn 3 được coi là cái đinh của lá thư.

    Trong đoạn 2, lá thư nhắc tới sự kiện lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay tại ba kỳ Đại Hội Giới Trẻ ở Pháp, Canada và Đức quốc mà tác giả cho là "một sự cố làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN".

    Người ta tự hỏi: không hiểu HY Mẫn dựa vào đâu để đưa ra lời kết luận mang tính vu khoát và võ đoán trên đây. Nếu theo dõi sát chuyện thời sự liên quan tới phản ứng sôi động của giới trẻ Việt Nam trong và ngoài nước gần đây, chắc chẳn ngài sẽ không vội vã như vậy. Mặc dầu giới trẻ Việt Nam ở quốc nội và hải ngoại chưa có cơ hội làm việc chung với nhau, nhưng qua vụ Trung Cộng vẽ lại bản đồ để lấn chiếm các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, họ đã thực sự 'gặp nhau' trong cùng một lý tưởng yêu nước, cùng một lòng phẫn hận trước thái độ nhu nhược, cam tâm bợ đỡ kẻ thù chung của những người cầm đầu Bắc Bộ Phủ. Một biểu thị rõ ràng và cụ thể là đã có những sinh viên từ trong nước du học ở các quốc gia Âu Mỹ đã can đảm đứng chung một lằn ranh với giới trẻ Việt Nam tị nạn chống lại những hành vi chà đạp nhân quyền của Bắc Kinh khi cùng nhau công khai tham gia những cuộc biểu tình chống Đuốc Thế Vận khi di chuyển qua các quốc gia Úc, Pháp, Anh và Hoa Kỳ mới đây.

    Thế hệ những người trẻ Việt Nam ở quốc nội ra đời sau tháng tư 1975 chưa bao giờ biết tới lá cờ vàng ba sọc đỏ. Họ không biết, nhưng cha ông họ, những người thuộc thế hệ tác giả lá thư không những biết mà hẳn rằng cũng đã có một thời đứng dưới lá cờ ấy, vì ít nữa là từ năm 1948 đến năm 2008 –chẵn sáu thập niên qua- lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ, liên kết ba miền Bắc-Trung-Nam, đã từng là biểu tượng cho quốc gia, dân tộc, cho hồn thiêng sông núi. Theo sự suy diễn thông thường, khi được may mắn chọn tham dự phái đoàn giới trẻ trong nước xuất ngoại tham dự ĐH Giới Trẻ Thế Giới, họ đâu có biết gì để đặt ra vấn đề tắc nghẽn hay không tắc nghẽn của con đường gọi là hiệp thông do sự xuất hiện của những lá cờ vàng ba sọc đỏ mà từ khi sinh ra họ chưa từng biết tới? Hiệp thông vốn là từ ngữ quen thuộc được dùng trong GHCGVN. Nhưng khi sử dụng trong trường hợp liên quan tới cờ vàng, cờ đỏ mà trong đoạn 3, HY Mẫn đã nhấn mạnh, khiến người ta không khỏi liên tưởng tới một từ khác mà người cộng sản VN quen dùng trong chiến dịch hải-ngoại-vận của họ. Đó là từ "hòa hợp, hòa giải" –dĩ nhiên là theo cách hiểu của người CS-. Và như thế, nếu đổi câu "làm tắc nghẽn con đường hiệp thông" thành câu "làm tắc nghẽn con đường hòa hợp hòa giải" chắc sẽ đúng và thích hợp với hoàn cảnh thực tế hơn.

    Qua đoạn 3, lá thư viết: "Một lá cờ biểu tượng cho điều gì? Có lúc lá cờ được coi là biểu tượng cho một đất nước, lúc khác được coi là biểu trưng một chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc gia... Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng.  Giám mục của tôi, cách đây hơn 30 năm, lúc còn sinh thời, đã để lại cho các tín hữu và cho bản thân tôi bài học lịch sử nầy :  người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN, vẫn là người mẹ đã để lại cho dân tộc VN một di sản vô giá.  Di sản đó là truyền thống văn hoá của dân tộc VN, một nền văn hoá khá phong phú với những giá trị tinh thần và đạo đức.  (như Tứ hải giai huynh đệ; Chuyện hôn nhân là chuyện trăm năm, là mối tình chung thuỷ;  Lá lành đùm lá rách...)"

    Đức Hồng Y viết: "Có lúc (lá cờ) chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng". Dường như khi viết câu này tác giả hàm ý nếu không chê trách thì ít nữa cũng có chút mỉa mai. Phải chăng vì là một người tu, hơn thế lại là một nhà lãnh đạo cao cấp trong Giáo Hội Công Giáo, ngài chỉ quen nói tới "khoan dung", "nhân từ", "bác ái" mà không thích ai nói tới chữ "đối kháng". Điểu này hợp lý và là quyền tự do của ngài. Nhưng nếu hiểu "đối kháng" với ý nghĩa là nói lên một điều để phản bác một điều khác thì khi đọc toàn bộ lá thư kể trên, người ta thấy hình như tác giả đã và đang hành sử cái "thói đời mang tinh đối kháng" ấy rồi! Bởi vì qua lá thư kể trên, ngài minh nhiên bày tỏ thái độ không đồng tình với "sự cố" giới trẻ Việt Nam hải ngoại trương lá cờ vàng ba sọc đỏ trong ba lần Đại Hội ở Pháp, Canada và Đức.

    Nói về lá cờ cho dễ hiểu.

    Khi hưởng ứng lời kêu gọi cầu nguyện để đòi lại Tòa Khâm Sứ cũ cạnh Nhà Chung Hànội cuối năm ngoái, hàng ngàn giáo dân, trong số có cả giáo sĩ, tu sĩ cũng đã mang theo cờ Tòa Thánh, cờ Đạo Binh Đức Mẹ ngoài Thánh Giá và ảnh tượng. Cho dù là cầu nguyện để xin Thiên Chúa lay chuyển tâm địa gian tham, độc ác của giới cầm quyền để họ biết nhìn ra điều phải trái mà trả lại những đất đai, tài sản của Giáo Hội, nhưng hàm ẩn bên trong và đàng sau một cuộc tập hợp đông người cách công khai như thế, dù muốn dù không, nó cũng mang tính phản kháng hay "đối kháng" rồi. Bởi lẽ nếu chỉ mang ý nghĩa thuần túy cầu nguyện thì cầu nguyện trong nhà thờ, cao hơn nữa là cầu nguyện trong lòng, đã quá đủ để Đấng Toàn Năng Toàn Trí thấu rõ mọi sự, cần chi phải kéo nhau ra chốn công cộng trước mặt mọi người? Nếu nhìn những lá cờ Tòa Thánh, cờ Đạo Binh Đức Mẹ trương cao trong những buổi cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ cũ, ở Nhà Dòng Chúa Cứu Thế ấp Thái Hà, Hànội theo cách suy diễn của đức HY, thì khách bàng quan cũng không có cách nào hiểu khác hơn là những lá cờ ấy cũng "chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng". Vì thế, nếu suy nghĩ cân nhắc kỹ, hẳn rằng tác giả không viết như thế.

    Về chuyện đức HY nhắc lại vị giám mục của ngài 30 năm trước đã dạy ngài một bài học lịch sử về "người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN, vẫn là người mẹ đã để lại cho dân tộc VN một di sản vô giá. Di sản đó là truyền thống văn hóa của dân tộc VN, một nền văn hóa khá phong phú với những giá trị tinh thần và đạo đức" cần được nghiêm chỉnh xét lại.

    "Cờ vàng", "cờ đỏ" ở đây, theo hàm ý tác giả lá thư, ai cũng hiểu là lá cở biểu tượng cho chủ nghĩa quốc gia, dân tộc và lá cở tượng trưng cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Người viết bài này tô đậm mấy giòng chữ trên đây để lưu ý độc giả về tính vu khoát của nó.

    Quả thật không sai nếu nhìn chung vào chiều dài lịch sử để nói rằng Mẹ Việt Nam đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân Việt, đồng thời đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản quý giá. Nhưng nếu một mực bảo rằng lúc nào, thời nào Mẹ cũng vui và cũng hài lòng với những di sản còn để lại qua những giai đoạn con cái Mẹ khoác cho Mẹ áo vàng hay áo đỏ thì tuồng như không được chính xác, nếu không muốn nói là có phần bất công đối với Mẹ, có phần hơi "ép" Mẹ.

    Hơn nửa thế kỷ ở miền bắc (1954-2008) và 33 năm ở miền nam (1975-2008), Mẹ đã được khoác trên mình manh áo đỏ chói chang, Mẹ có thật sự thoải mái và hài lòng không? Và có thật sự Mẹ nghĩ rằng thời khoảng ấy đã để lại một di sản quý giá cho các con của Mẹ không?

    Lòng Mẹ (VN) bao la như biển Thái Bình.

    Những công trình kiến trúc nguy nga, hào nhoáng bề ngoài ở Hànội, Huế, Sàigòn và những trung tâm du lịch đồ sộ đây đó hiện nay có đem lại cho Mẹ những phút giây hạnh phúc nào không? Những cuộc tập họp mang tính quốc tế như hội nghị APEC, đại lễ Tam Hợp (Vesak) diễn ra tại Sàigòn, Hànội dưới sự canh chừng của màng lưới công an dày đặc và những bước chân đi vào thế giới của nhà cầm quyền với ý đồ thiếu ngay thẳng có khiến cho Mẹ thêm nở mày nở mặt không?

    Hay nó chỉ làm cho lòng mẹ thêm tan nát:

    * mỗi khi nghĩ tới tuyệt đại đa số con cái Mẹ là những nông dân chân lấm tay bùn tại các làng quê, những buôn sóc xa xôi hẻo lánh, những công nhân lao động cực nhọc trong những xí nghiệp của người ngoại quốc ở vòng đai các đô thị với khoản thù lao còm cõi trong khi phải đối diện ngày đêm với tình trạng vật giá leo thang đến chóng mặt? (trong khi một thiểu số vung tay ném hàng triệu đô la vào những trò chơi đen đỏ, với thái độ sống chết mặc bay, mà vụ PMU 18 là một điển hình).

    * mỗi khi nghĩ tới tình cảnh đau thương của hàng ngàn, hàng chục ngàn người con gái quê của Mẹ vì miếng cơm manh áo phải bán thân làm nô lệ tình dục ở xứ người; những đám dân oan đang sống lê lết tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, trên hè phố Sàigòn; những thế hệ trẻ đang đối diện với một nền giáo dục phá sản không có ngày mai; những thanh thiếu niên hút xách, nghiện ngập, nạn nhân của căn bệnh liệt kháng (Aids) và hàng triệu thai nhi vô tội bị cướp đi mạng sống một cách công khai tại những y viện của nhà nước?

    * mỗi khi trạnh lòng trước những hiện tượng tham ô, thối nát tràn ngập khắp nơi, những thủ đoạn độc tài, phi luật pháp thể hiện ngay chốn pháp đình với những phiên tòa "bịt miệng", trắng trợn chà đạp lên tự do, dân chủ, nhân quyền, nhân phảm Việt Nam? Nhất là khi phải nhìn những phần thân thể của quê hương đất nước, như Ải Nam Quan, như thác Bản Giốc, như các hải đảo Trường Sa, Hoàng Sa, lần hồi bị rơi vào tay kẻ thù truyền kiếp là Trung Cộng? 

    Đấy là tâm sự của Mẹ Việt Nam.

    Cỏn Mẹ Giáo Hội thì sao? Hẳn rằng người Mẹ trìu mến ấy cũng chẳng vui gì! Chuyện Giáo Hội và những tín hữu của Con Cực Thánh Mẹ bị chống đối, bị giết chóc, bách hại không phải là chuyện mới mẻ, ngày nay mới có. Nó còn in hằn dấu vết nơi những hang toại đạo ở Rôma, và gần gũi hơn, nơi những hình cụ mà các vua quan triều Nguyễn một thời đã sử dụng để lấy đi mạng sống của hàng trăm ngàn tiền nhân Tử Đạo Việt Nam, những người con cưng của Chúa và của Mẹ. Nhưng làm sao diễn tả được nỗi đau xé lòng của Mẹ khi chứng kiến sự phản bội phát xuất ngay từ trong lòng Giáo Hội của Mẹ. Nó lý giải cho sự kiện: trong những dịp hiện ra đây đó, đã hơn một lần Mẹ phải đau đớn lên tiếng cảnh giác là con đường dẫn xuống hỏa ngục được lót bằng không ít xương sọ của các Đấng Bậc Làm Thày trong Hội Thánh!

    Vì sợ hãi, vì bị mua chuộc, bị hủ hoá và vì những quyền lợi vật chất, đã có những hiện tượng "du di, thỏa hiệp, tương đối hóa" trong đời sống Giáo Hội, kể cả trong việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng niềm tin! Đến nỗi những người có trách nhiệm trong GH đã cam tâm ngoảnh mặt làm ngơ khi Thánh Tượng Đức Mẹ Sầu Bi ở Nho Quan, Phát Diệm bị những kẻ vô thần đập phá tan nát!1 Đến nỗi việc ứng dụng và giải thích về Đức Ái, về Gương Tha Thứ đã được hiểu như một thái độ nhu nhược, hèn yếu để biện hộ cho cung cách thỏa hiệp, đồng lõa, sống chung với tội ác! Đến nỗi như nhận định của linh mục Nguyễn Văn Lý trong Tuyên Ngôn 10 Điểm Về Tình Trạng GH công bố năm 1994 và được công bố lại năm 2000:

    "Những gì các ngài thu được trước mắt sẽ còn di lụy lâu dài trong lịch sử, làm méo mó hình ảnh một Giáo Hội hiên ngang xây dựng Nước Trời, tự do rao giảng tiếng nói lương tâm, mạnh dạn phê phán mọi bất công, sai lầm bất cứ từ đâu đến. Thay vào đó chỉ tạo nên hình ảnh một Giáo Hội yếu nhược, quỵ lụy ngày càng rõ nét chạy theo một vài quyền lợi trước mắt, chỉ biết "cộng tác" (collaborer) mà thiếu hẳn tinh thần "đề kháng" (résistant) (mô thức "collaborer en résistant" do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề xướng), làm nản lòng đại bộ phận Dân Chúa và các người thiện chí trước đây vốn khâm phục Giáo Hội Việt Nam". 

III.- Đôi lời tâm tình trước khi kết thúc

    Với thái độ dè dặt thương lệ, trước khi viết bài này, chúng tôi đã tham khảo ý kiến của một số bạn bè ở trong cũng như ngoài nước và đã nhận được sự đồng tình, đồng cảm của đa số người thân, trong số bao gồm cả giới linh mục, tu sĩ. Dĩ nhiên cũng có anh em suy nghĩ khác. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới lá thư của một anh bạn vốn là giáo chức và là hiệu trưởng một trường công lập ở Sàigòn trước tháng tư năm 75. Tuy không hoàn toàn chia sẻ, nhưng lời lẽ nhẹ nhàng, trầm tĩnh và lối suy tư chân thật, thẳng thắn của anh giúp chúng tôi thấy rõ được vấn đề hơn. Với phong cách của một người trí thức Công Giáo có tinh thần độc lập, không bị ràng buộc với lập trường và quan điểm của chế độ, anh nêu lên những khó khăn, bác tạp của vấn đề, không phải ở phía kẻ cầm quyền nhưng ở phía giới trẻ trong nước tham dự ĐH là những thành phần dù không muốn vẫn phải chịu sự chi phối nghiệt ngã của chế độ mà họ đang bắt buộc phải sống, không có chọn lựa. Vì thế, cho dù không đồng thuận, người đối thoại vẫn có thể tiếp nhận để soi sáng cho quan điểm của riêng mình.

    Tự hỏi: nếu trong lá thư gửi ra hôm 04-6-2008, đức HY Phạm Minh Mẫn có được phong cách tự do, thông thoáng không nghiêng về một lập trường xơ cứng nào để bình tĩnh, chân thành và thẳng thắn bày tỏ lẽ thiệt hơn thì phản ứng của người đọc chắc chắn sẽ khác. Có thể nhiều người vẫn không hoàn toàn chia sẻ quan điểm của ngài, nhưng hẳn sẽ không có thành kiến là ngài nói thay cho nhà nước, cho những thế lực đã và đang là căn nguyên gây ra những tai ương cho Mẹ Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa qua.

    Đây không phải lần đầu vị chủ chăn TGP Sàigòn có những tiếng nói lạ tai.

    Sau khi linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền nhân phẩm Việt Nam vào đầu thiên niên kỷ mới, trước khi bước lên phi cơ sang Hoa Kỳ, TGM Phạm Minh Mẫn đã gửi ra một bài viết mang tiêu đề "Đi Tìm Ánh Sáng Soi Đường". Một cách úp mở, tác giả gián tiếp chê bai và phủ nhận tiếng nói Ngôn Sứ của người mục tử từng ra tù vào khám nhiều phen chỉ vì đã kiên trì bước theo vết chân vị chủ chăn gương mẫu của cha là đức cha Philipphê Nguyễn Kim Điền, nguyên TGM Huế. Cuối năm qua ngài cũng đã công bố một bài nhận định trong đó gợi lại cung cách "cầu nguyện cho bạo chúa từ chóng chết đến sống lâu" của một bà già xưa, một lời cầu thiếu hẳn phẩm chất phải có trong tôn giáo, nhằm nhắn gửi một điều gì đó nhân những buổi cầu nguyện của giáo dân Hànội để đòi lại Tòa khâm Sứ cũ. Ngưới ta cũng nhớ tới nội dung lá thư của ngài gửi linh mục Liêm, Chủ tịch LĐCGVN tai Hoa Kỳ cách đây không lâu. Nội dung lá thư công khai nói lên chủ trương muốn kiểm soát và chi phối sinh hoạt của tập thể giáo dân Công Giáo Việt Nam ở hải ngoại, nói riêng tại Hoa Kỳ. (Ngoài tính tương cận về ý nghĩa khiến phải nhắc tới trong bài viết này, vì tầm rộng lớn và nghiêm trọng của nó, chúng tôi mong sẽ có dịp bàn rộng và sâu hơn trong một dịp khác). 

    Và mỗi lần như thế, người ta không khỏi liên tưởng tới những nguồn dư luận nói về những điều cam kết của ngài với đảng và nhà nước CSVN để đánh đổi lấy vai trò lãnh đạo một TGP lớn nhất nước là Sàigòn, mà lẽ ra phải là đức cha Huỳnh Văn Nghi, người đã được Tòa Thánh chính thức bổ nhiệm nhưng bị bạo quyền ngăn cản! Ngay lập tức, người ta cũng nghĩ tới một khuôn mặt khác luôn kèm sát bên ngài như hình với bóng. Đó là linh mục Huỳnh Công Minh, người cầm đầu nhóm linh mục được bà con giáo dân cả nước mệnh danh là Tứ Nhân Bang Minh-Cần-Từ Bích. 


Nam
California 11-6-2008


TRẦN PHONG VŨ


(Bài viết cho nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân số phát hành tháng 6 năm 2008 – Tác giả gửi để phổ biến sớm trên mạng lưới Đàn Chim Việt. TPVũ) 


Publié le 19/06/2008 à 14:54
Par clb-vh

V – CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM GÌ?

Một số người cho rằng giáo dân Việt Nam ở hải ngoại chỉ biết làm hai việc: góp tiền và chỉ trích. Nếu góp tiền bừa bãi để làm hư một số tu sĩ, để xây cất những cơ sở không cần thiết như một thách thức với dân nghèo và với những tôn giáo khác; nếu chỉ trích chỉ nhằm đả phá, gây chia rẽ, thì những việc này nên được chấm dứt càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu chỉ muốn người ta góp tiền mà không cho góp ý thì thiếu công bằng và có vẻ chơi không đẹp. Việc yểm trợ từ ngoài vào trong vẫn có mặt tích cực và vẫn cần thiết, nếu được thực hiện một cách hữu lý và hữu hiệu.

      1/ Yểm trợ tài chánh: không ai có thể phủ nhận việc yểm trợ tài chánh của giáo dân hải ngoại đã giúp Giáo Hội trong nước xây dựng được rất nhiều thánh đường, cơ sở hoạt động và thực hiện những chương trình hữu ích. Vấn đề đặt ra là cần sự cộng tác giữa trong và ngoài để điều hợp việc phân phối ngân khoản cho hợp lý, tránh phí phạm, tránh dồn vào chỗ đã có qúa nhiều trong khi tại những vùng sâu, vùng xa, chủ chăn và giáo dân vẫn phải tiếp tục sống đạo trong những điều kiện thiếu thốn. Cách quyên góp ở nước ngoài cũng nên được xét lại để tránh những cảnh không đẹp, có thể làm mất uy tín của các chủ chăn. Nhiều người ở hải ngoại đã nêu vấn đề phối hợp quyên góp và phân phối, nhưng cho đến nay, các vị hữu trách trong nước vẫn giữ im lặng, không đáp ứng.

      2/ Yểm trợ tinh thần và ngoại vận: mỗi khi Giáo Hội trong nước bị đàn áp, bị bắt bớ, bị cướp tài sản, người ở ngoài khi biết tin, không cần chờ trong nước yêu cầu, vẫn mau mắn lên tiếng bênh vực nạn nhân, tố cáo những vi phạm, vận động dư luận, các chính quyền, các cơ quan quốc tế, để họ can thiệp với nhà cầm quyền Việt Nam. Có khi đạt kết qủa. Có khi không. Tuy nhiên, phải nhìn nhận yểm trợ bằng lên tiếng và vận động đã góp một phần không nhỏ vào việc thay đổi cách ứng xử của nhà cầm quyền và khiến họ phải suy nghĩ kỹ hơn khi muốn lấy quyết định đàn áp mới. Điều đáng phàn nàn là khi trong nước cần bên ngoài yểm trợ thì thúc đẩy tận tình. Khi không cần, thì lại sẵn sàng “giung giăng giung giẻ” với cộng sản. Những hành động ca tụng cộng sản, hãnh diện nhận huy chương của cộng sản, chỉ trích người ở ngoài là qúa khích, đòi hỏi qúa nhiều về chính trị, thật sự là những cái tát vào mặt những người đã rút từng đồng tiền tiết kiệm gửi về và chạy xuôi chạy ngược để vận động cho lợi ích của anh chị em ở quê nhà.

      3/ Yểm trợ ý kiến: khi thấy những điều vô lý, những điều chướng tai gai mắt, nhiều giáo dân hải ngoại đã lên tiếng. Đôi khi có những lời nói qúa, có thể gây tổn thương. Nhưng đa số là những phát biểu có tính cách phân tích tình trạng, trình bầy cái nhìn khách quan từ bên ngoài, cho biết những phản ứng của giáo dân (nguồn yểm trợ tinh thần và vật chất), và luôn luôn đưa những đề nghị xây dựng nhằm cải thiện tình trạng. Giáo dân trong nước không có điều kiện nói. Hầu hết giáo sĩ cả trong lẫn ngoài không dám nói. Khi giáo dân hải ngoại lên tiếng thì bị kết án là “chống cha chống Chúa”, bị một vài đấng bậc viết bài chửi xéo hoặc xúi một số người viết những bài phản bác, đôi khi chửi bới, rất thiếu trình độ và tư cách. Điều đáng buồn là không có đối thoại vì không có lý luận giá trị, chỉ có chụp mũ và kết án. Sau một hồi điều qua tiếng lại, giáo dân hải ngoại đã ngưng việc tranh cãi và đề nghị các vị hữu trách của Giáo Hội trong nước mở những cuộc đối thoại nghiêm chỉnh để tạo tình thông cảm và tìm sự thật khách quan. Qúy vị vẫn im lặng, không đáp ứng, trong khi qúy vị vẫn luôn đề cao việc đối thoại với nhà cầm quyền. Hành động của các vị làm người ta có cảm tưởng các vị chỉ muốn đối thoại với “người trên”, người có quyền, không muốn đối thoại với “người dưới”. Điều này đã làm uổng phí không ít những tài nguyên chất xám của giáo dân hải ngoại muốn cống hiến cho Giáo Hội trong nước.

Tuy có những điều đáng phàn nàn như thế, bổn phận của chúng ta là vẫn phải tiếp tay yểm trợ và xây dựng Giáo Hội quê nhà qua ba việc trên, dĩ nhiên bằng cách hữu lý và hữu hiệu. Tích cực hơn nữa, chúng ta phải tìm cách tham dự vào tiến trình thay đổi của đất nước và thúc đẩy Giáo Hội đồng hành với sự chuyển mình của dân tộc. Tham dự và thúc đẩy cách nào, đó là việc phải thảo luận. Tương lai của đất nước và tương lai của Giáo Hội không cho phép chúng ta bất động nhìn Giáo Hội đứng bên lề của cuộc chuyển mình đang diễn ra.

Khi nhìn về thực trạng của Giáo Hội và quê hương, chúng ta thấy giữa những điểm đen, có rất nhiều điềm hy vọng. Tuổi trẻ Việt Nam đã bắt đầu thức tỉnh và vượt qua sự sợ hãi. Công nhân và nông dân đã ý thức quyền lợi của mình. Trí thức đã dám phê bình và bàn tới những giải pháp tương lai. Hàng ngàn người đã công khai ký tên đứng vào hàng ngũ tranh đấu cho tự do dân chủ. Tôi muốn nói đến Khối 8406. Trong Giáo Hội, nhiều linh mục và nam nữ tu sĩ trẻ đã dấn thân phục vụ những đồng bào nghèo khổ, bệnh tật, thiếu may mắn. Họ sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, thiếu thốn khi đi rao giảng lời Chúa tại những vùng xa xôi, nghèo đói, chậm tiến, thiếu đủ mọi thứ tiện nghi. Công việc của họ cần phải được giúp đỡ ưu tiên. Những dấu hiệu hy vọng này giúp chúng ta tin tưởng rằng ngày Giáo Hội và quê hương được đổi mới, đồng bào được sống trong tự do, nhân phẩm và tình người, sẽ không còn xa. Chúng ta đặt niềm tin nơi Thiên Chúa và niềm kỳ vọng vào thế hệ trẻ đang lên.

OAN THỊ KÍNH

Người Việt Nam “tiền cộng sản” không mấy ai không biết truyện Thị Kính, Thị Mầu. Thị Kính giả trai đi tu chùa (chắc để tránh sexual harassment), sớm kinh tối kệ rất ngoan hiền. Thị Mầu lẳng lơ nên đeo thúng trước bụng. Bị làng tra hỏi tác giả của cái thúng, Thị Mầu khai đại là chú tiểu Kính. Đến ngày khai hoa nở nhụy, Thị Mầu vác trẻ sơ sinh đến chùa “trả” cho chú Kính. Chú Kính không nói một lời, ẵm trẻ vô chùa nuôi nấng. Khi chú Kính lià trần, lúc tẩm liệm, người ta mới biết chú Kính là phụ nữ. Từ đó tục ngữ Việt Nam mới có câu “Oan Thị Kính”.

Giới trẻ Công Giáo Việt Nam hải ngoại chưa đi dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008 ở Sydney, Úc, đã bị mắc oan Thị Kính rồi. Họ bị tiên thiên kết án là “làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN” nếu họ vác cờ vàng ba sọc đỏ đến Sydney.

Trong “Tiếng Vọng Gioan Baotixita” tháng 4, 2008, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn gửi một thư ngỏ cho 3 vị giám mục trong nước (chắc là 3 vị sẽ hướng dẫn phái đoàn từ VN), nhưng chủ tâm là phổ biến ra nước ngoài. Nội dung thư ngỏ cho biết Ngài rất bận công tác mục vụ di dân, nhưng nể tình Đức Hồng Y G. Pell năn nỉ, Ngài sẽ đi dự Đại Hội Giới Trẻ ở Sydney vào mùa hè này với tư cách cá nhân. Vì thế Ngài mới lo ngại bọn trẻ VN hải ngoại, như những lần trước ở Pháp, Canada, Đức, lại vác cờ vàng ba sọc đỏ đến đại hội, sẽ làm tắc nghẽn sự hiệp thông với những người trẻ đến từ VN.

Tội cho bọn trẻ hải ngoại qúa Đức Ngài ơi! Tụi nó chắt bóp dành từng xu để đi hiệp thông với giới trẻ thế giới và để hâm nóng đức tin. Tụi nó có muốn ngăn chặn hiệp thông với ai đâu? Tụi nó có muốn đem cờ quốc gia đi đấu với cờ cộng sản đâu? Mỗi phái đoàn đều có lá cờ biểu tượng của mình. Phái đoàn từ VN sang cứ việc trưng cờ đỏ sao vàng. Nếu không muốn hay không dám trưng là quyền của họ. Chẳng lẽ vì thế mà bắt phái đoàn VN hải ngoại phải đi chân tay không để nhập đoàn hay sao? Họ cũng có lá cờ riêng của họ chứ. Cả thế giới (trừ chính phủ cộng sản VN) chẳng ai phiền lòng về việc trưng lá cờ này, cớ chi Đức Ngài phải thắc mắc qúa thể như vậy? Nếu muốn cho giới trẻ trong và ngoài nước gặp nhau để tìm hiệp thông và cùng cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ, các vị giám mục và linh mục hướng đẫn có thiếu gì cách khôn ngoan để thực hiện việc này. Tuổi trẻ vốn ham vui, thích kết đoàn, gặp nhau là sáp lại ngay. Chính người lớn làm cho tụi trẻ e ngại, nghi ngờ nhau. Người lớn mới hay đặt vấn đề vì lập trường khác biệt, vì “ăn cây nào rào cây nấy”, vì bị áp lực, vì sợ bị kết án mất lập trường, nên mới đè đầu lũ trẻ mà đổ tội cho chúng.

Đức Hồng Y còn dậy thêm: “Người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc mặc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN, vẫn là người mẹ đã để lại cho dân tộc VN một di sản vô giá”. Đức Ngài ơi! Người mẹ với cái áo là hai chuyện khác nhau. Bắt mẹ mặc cái áo mẹ không thích có phải là ơn trả nghiã đền với mẹ không? Thằng con thích áo mẹ mầu đỏ có thể kết án thằng con thích áo mẹ mầu vàng là bất hiếu được không? Chưa chắc thằng nào yêu mẹ hơn thằng nào. Yêu mẹ vì mẹ là mẹ chứ không phải vì mầu áo của mẹ hoặc áo mẹ lành hay rách. Nếu mỗi thằng khăng khăng đòi mặc một mầu áo khác cho mẹ là gia đình có vấn đề. Hãy tìm phương cứu chữa tận căn bản. Giảng luân lý xuông không giải quyết được gì.

Đức Hồng Y thuyết thêm rằng Giáo Hội Công Giáo chưa bao giờ được xây trên nền tảng một chủ nghiã thế trần, dù tư bản, cộng sản hay quốc gia, vì những chủ nghiã tạo nên sự đối kháng và loại trừ nhau trong lòng một dân tộc, trong hàng ngũ con cái chung một mẹ. Mọi người là con một Cha, anh em chung một nhà, tình huynh đệ giữa đồng bào có thể phát huy trên cơ sở một sắc tộc và một nền văn hóa dân tộc.

Thưa đúng như vậy. Giáo Hội không dựa vào chủ nghiã nào. Nhưng Giáo Hội được sống trong chủ nghiã quốc gia có đỡ khổ hơn sống trong chủ nghiã cộng sản không? Tại sao Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị lại phải giúp dân Ba Lan thay đổi chế độ nhỉ? Giáo Hội gặp chủ nghiã nào cũng phải sống với chủ nghiã đó, nhưng không thể sống theo kiểu đồng lõa với chủ nghiã bằng cách im lặng trước những tội ác và bất công. Giáo Hội phải sống vì con người. Còn nói đến tình huynh đệ, anh em một nhà, con một Cha, cùng giòng giống, cùng văn hóa, thì điệp khúc này đã được ca hơi nhiều. Người Việt ở nước ngoài không thiếu những tình cảm này. Họ yêu anh em đồng bào ở trong nước “hết lòng, hết sức, hết trí khôn”. Chẳng vậy mà hàng năm họ gửi về cho anh em gần chục tỷ đô la, mỗi khi thấy anh em bị ăn hiếp là họ chạy đôn chạy đáo, bớ làng bớ xóm để hô thiên hạ đến cứu anh em. Họ chỉ chống những người làm khổ anh em thôi.

Kẻ viết bài này ở gần bọn trẻ hải ngoại khá lâu, nên cũng hiểu kha khá tâm lý của bọn chúng. Vậy xin mách Đức Ngài một kế mọn để thuyết phục tụi nó. Ngài cứ nói nhỏ với tụi nó thế này:

“Các con ơi! Các con có thương cha thì đừng vác cờ vàng ba sọc đỏ chụp hình chung với cha. Thú thiệt với các con là việc này sẽ gây rầy rà cho cha lắm”.

Ngài ca vọng cổ như thế may ra tụi nó sẽ mủi lòng vì nghĩ rằng Ngài nói thiệt. Còn cứ rào đón, chặn trước chặn sau, bắn xéo bắn xiên, khi này khi khác là tụi nó không chịu đâu. Tụi nó đã qúa ớn cái trò này của cộng sản rồi. Tụi nó cũng đã thuộc lòng câu ca dao mới:

Khi Thị Kính, lúc Thị Mầu
Váy dài, váy ngắn, biết đâu mà lần...


MẶC GIAO


 

Publié le 19/06/2008 à 14:33
Par clb-vh

GIÁO HỘI VÀ QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM


MẶC GIAO


(Bài này đã được tác giả thuyết trình trong Ngày Hội Ngộ kỷ niệm Đệ Thất Chu Niên Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân được tổ chức ngày 15-06-2008 tại Trung Tâm CGVN, Santa Anna, California)


     Giáo Hội và Quê Hương Việt Nam đã cách xa chúng ta về phương diện địa dư từ trên 33 năm nay, nhưng vẫn ở trong lòng những đứa con cuống rốn chưa lià, những kỷ niệm vẫn còn sống động và những liên hệ vẫn còn tồn tại. Vì thế, khi suy nghĩ về Giáo Hội quê hương, chúng ta không phải là người ngoài cuộc. Những ý kiến của chúng ta không thể được coi như những nhận định thiếu cơ sở của kẻ bàng quan. Chúng ta đã cùng trăn trở, cùng chia sẻ những thăng trầm, buồn vui với Giáo Hội quê nhà. Chúng ta thật lòng mong cho Giáo Hội vượt qua những cơn sóng gió. Chúng ta có những nỗi lo âu, nhưng đồng thời cũng có những niềm hy vọng. Tình hình Giáo Hội Việt Nam không thể không liên hệ với tình hình đất nước. Một câu hỏi luôn được đặt ra là, ngoài việc duy trì và phát triển Giáo Hội, Giáo Hội có thể đóng góp được gì cho việc đoàn kết các thành phần dân tộc, xây dựng quê hương, cải thiện đời sống của những con người Việt Nam? Nếu trong bài này có những băn khoăn, thắc mắc được nêu lên thì đó cũng chỉ là cách tra vấn, tìm tòi một câu trả lời cho vấn nạn trên. Chúng tôi không làm một bài nghiên cứu với những chi tiết và con số nhằm xử dụng cho việc tra cứu, nhưng chỉ dựa vào hiện trạng để đưa ra một số nhận định theo 5 tiểu mục sau đây:

      1 - Những khó khăn mà Giáo Hội còn phải gánh chịu

      2 - Hội Đồng Giám Mục VN hành động ra sao?

      3 - Tòa Thánh Vatican can thiệp như thế nào?

      4 - Liên hệ hai chiều giữa tình hình Giáo Hội và tình hình đất nước

       5 - Chúng ta có thể làm gì để góp phần cải thiện tình hình?

I - NHỮNG KHÓ KHĂN GIÁO HỘI CÒN PHẢI GÁNH CHỊU

Từ sau 1975, Giáo Hội tại miền Nam không còn được tự do tung hoành như trước đó, thời mà cha cố và sư sãi có thể làm áp lực trên chính quyền, không vừa ý là kéo xuống đường phản đối. Giáo Hội hai miền Nam Bắc khi gặp lại nhau sau một thời gian dài chia cách đã tỏ ra rất thực tế, chấp nhận sống chung với chế độ cộng sản, cố gắng giữ những gì có thể giữ, với niềm mong muốn rất khiêm tốn là được yên hàn giữ đạo, nếu không thể phát triển thì cũng có thể xây dựng kế thừa. Trong thời gian đầu, những mong ước khiêm tốn đó cũng gặp những trở ngại tưởng khó vượt qua. Nhưng từ khi chế độ cộng sản bắt buộc phải áp dụng chính sách đổi mới, từ 1986, thì toàn dân Việt Nam, trong đó có các giáo hội, được dễ thở hơn đôi chút. Việc hành đạo được dễ dàng hơn, việc sửa sang, xây cất các cơ sở được cho phép thực hiện. Thêm vào đó là những biện pháp dễ dãi cho việc chuyển tiền, cho phép các giám mục, linh mục và tu sĩ xuất ngoại, đã tạo cơ hội cho Giáo Hội có nguồn tài trợ quan trọng từ bên ngoài hầu thực hiện những dự án cần thiết, cũng như phung phí vào những công trình chỉ có tính cách phô trương, chưa kể một số trường hợp lạm dụng, gây tai tiếng. Nói như vậy không có nghiã là Giáo Hội đã được hoàn toàn tự do. Giáo Hội vẫn còn phải đương đầu với những khó khăn lớn như sau:

      1/ Tòa Thánh Vatican vẫn chưa có toàn quyền bổ nhiệm các giám mục cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Tòa Thánh đưa tên những vị Tòa Thánh chọn. Chính quyền Việt Nam dành quyền chấp nhận hay bác khước. Họ là người có tiếng nói cuối cùng. Năm 2007, Tòa Thánh đề nghị hai giám mục cho hai giáo phận trống tòa là Phát Diệm và Bắc Ninh, cả hai đều bị nhà cầm quyền từ chối. Hậu qủa là Tòa Thánh phải kiếm những vị khác, những vị dễ được nhà nước cộng sản chấp thuận. Chỉ cần có tinh thần độc lập đã khó được chấp thuận. Vậy nếu không cử người có cảm tình với cộng sản, thì ít ra cũng phải chọn người hiền lành, không lập trường, không ý kiến. Nếu tình trạng này kéo dài, trong một thời gian không lâu nữa, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ ra sao?
      2/ Các ứng viên linh mục cũng phải được phép của nhà nước mới được chịu chức, dù trước đó, khi xin nhập đại chủng viện, họ đã bị tra xét lý lịch rất kỹ lưỡng. Hiện nay, một số giám mục chỉ thông báo danh sách cho chính quyền, qúa một thời hạn nào đó, nếu chính quyền không trả lời, các giám mục xúc tiến việc phong chức. Nhưng tại nhiều địa phương, chính quyền đòi chuẩn y trước. Khi có quyền chuẩn y là có quyền bác khước vì rất nhiều lý do, trong đó có cả lý do tống tiền, khiến không ít “chuẩn linh mục” phải nhờ cậy cha mẹ, anh em, bạn bè góp tiền, góp vàng để “mua” chức linh mục, khởi đầu sự nghiệp tông đồ bằng việc hối lộ.
      3/ Nhà nước kiểm soát chặt chẽ các đại chủng viện. Theo Thông tư ngày 30-06-1999 của Ban Tôn Giáo của chính phủ do Trưởng Ban Lê Quang Vịnh ký, chiếu các Điều 18 và 29 của Nghị Định số 26/1999/NĐ-CP, thì

-         Nội dung giảng dậy trong Đại Chủng viện không được trái với chính sách, luật pháp của nhà nước,

-         Môn Giáo dục Công dân là một trong những môn học chính khóa trong chương trình đào tạo,

-         Giám đốc Đại Chủng viện do giám mục giới thiệu và phải được Trưởng Ban Tôn Giáo của chính phủ chấp thuận,

-         Các giảng viên phải là công dân Việt Nam, chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật của nhà nước… được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận,

-         Ban Tôn giáo và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đại chủng viện phối hợp với Sở Giáo Dục-Đào Tạo xem xét về nội dung, chương trình và giảng viên môn Giáo dục công dân,

-         Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý hoạt động của Đại chủng viện theo những qui định của Thông tư này.

Đó là một số những điều chính trong Thông Tư, qúa đủ để chứng minh nhà nước cộng sản kiểm soát việc đào tạo linh mục ra sao. Cần nhấn mạnh môn Giáo dục công dân là môn học về chủ thuyết cộng sản, về lịch sử và thành tích của đảng cộng sản Việt Nam do cán bộ cộng sản giảng dậy. Trước những lo ngại của giáo dân về việc các linh mục tương lai phải học môn này, Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam số 44 ngày 28-06-2007 đã trấn an: “Việc cán bộ nhà nước vào dậy môn “Công dân giáo dục” cho chủng sinh là sự thật, nhưng không gây trở ngại nhiều. Nhất là chúng ta hoàn toàn có thể tín nhiệm vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, cộng với sự trưởng thành của các chủng sinh”. Mong được như vậy. Nhưng sau giờ học, các linh mục giáo sư có dám giải độc cho chủng sinh, hay sợ sẽ bị tố cáo nếu dám nói sự thật? Khi làm bài thi, các chủng sinh phải ca ngợi cộng sản như đã được dậy nhưng trong lòng không tin (biết đâu có kẻ tin). Như vậy  có phải họ đã phải tập dối trá ngay trong thời gian được huấn luyện để trở thành những người hướng dẫn lương tâm cho bổn đạo mai sau? Cứng rắn từ chối môn học này thì sẽ khiến các đại chủng viện phải đóng cửa. Các vị hữu trách đã có biện pháp nào để bảo vệ sự nhận thức khách quan và lòng ngay thẳng của các mục tử tương lai?
      4/ Việc cấm hành đạo tại những địa phương xa xôi vẫn còn tiếp diễn, cụ thể là vụ đàn áp cộng đoàn Công Giáo Mai Sơn, tỉnh Sơn La ngày 17-03-2007, vụ cấm 7 trên 10 giáo điểm thuộc tỉnh Hòa Bình cử hành lễ Giáng Sinh 2007 như Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xác nhận, vụ cấm một cha xứ thuộc giáo phận Komtum làm lễ Giáng Sinh 2007 vì không xin phép, không nộp các bài đọc và bài giảng… Nhà nước chỉ cần biểu diễn màn kịch tự do tôn giáo tại những nơi thị tứ “nhĩ mục quan chiêm”. Tại những vùng xa xôi hẻo lánh, họ để mặc các quan địa phương muốn hành hạ giáo dân cách nào tùy ý.
      5/ Vấn đề trưng thu, cưỡng chiếm nhà đất của Giáo Hội vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Trong thời gian qua, nhà nước đã trả lại một số bất động sản cho Giáo Hội, vụ trả “đột xuất” khu đại chủng viện Mỹ Đức, Thái Bình, là điều cần suy luận, nhưng lại chiếm thêm một số khác, như đất của Dòng Thiên An gần Huế. Thỉnh thoảng lại có tin tỉnh này tỉnh kia xảy ra những vụ cưóp nhà, cướp đất hay lấn đất của Giáo Hội. Đức Giám Mục Vĩnh Long đã công bố thư ngỏ phản đối chính quyền chiếm khu vườn trẻ thuộc tài sản của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô để làm khách sạn vào tháng 04/2008. Vụ mới nhất xảy ra ngày 12/06/2008 khi cơ quan quản lý nhà đất TP “HCM” giao cơ sở vốn là trường mẫu giáo Măng Non của các nữ tu dòng Bác Ái Vinh Sơn (Saint Vincent de Paul) cho Ủy Ban Nhân Dân Quận 3 để xử dụng làm vũ trường. Trong khi đó những cơ sở lớn và những khu đất qúy giá bị tịch thu vẫn chưa được giải quyết, như tòa Khâm Sứ cũ, đất nhà thờ Thái Hà ở Hà Nội, Giáo Hoàng Chủng Viện Pio X ở Đà Lạt. Riêng đất thuộc khu Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang, Quảng Trị, đã được hứa trả lại một phần lớn, nhưng cho tới nay thủ tục trao trả vẫn chưa được ấn định. Nếu tính tất cả tài sản của Giáo Hội từ Bắc chí Nam bị trưng thu từ 1954 tới nay thì còn nhiều vô số kể. Nhà nước trao trả nhỏ giọt một cách khó khăn. Giáo Hội cũng không dám đòi hết, chỉ xin lại những gì cần thiết để xử dụng hay qúy giá về phương diện tin thần.

Xem như vậy, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mới được vuốt ve và trấn an theo kiểu chích thuốc gây tê cho bớt đau, cấm đoán và kiểm soát ngặt nghèo vẫn còn đó. Giáo Hội mới được hưởng một số tiện nghi bề ngoài, chưa được giải phóng về căn bản.

II - HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM HÀNH ĐỘNG RA SAO?

Trong tình trạng khó khăn như vậy, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đối phó ra sao? Bề ngoài, người ta thấy các vị có vẻ nhẫn nhục chịu đựng hoàn cảnh. Lần lên tiếng duy nhất của Hội Đồng với nhà nước là bức thư “kín hở” năm 2002 đặt một số vấn đề nguyên tắc. Một số vị chủ chăn, với tính cách riêng rẽ, chỉ lên tiếng đòi lại cơ sở đất đai thuộc giáo phận mình bị chiếm. Chỉ riêng việc đòi khu Tòa Khâm Sứ cũ tại Hà Nội là có một số giám mục cùng chung tiếng ủng hộ. Ngoài ra, các vị không hề lên tiếng về các vấn đề căn bản như quyền tự do quản trị nội bộ Giáo Hội, quyền tự do đào tạo, phong chức và bổ nhiệm các giáo sĩ và các vị lãnh đạo cao cấp, chưa nói tới việc đòi hỏi quyền được sống xứng đáng với phẩm giá con người cho toàn dân.

Trên thực tế, các vị không ngồi khoanh tay bất động như nhiều người tưởng. Chính một số vị trong Hội Đồng cho biết các vị vẫn tranh đấu một cách âm thầm theo phương thức đối thoại, thay vì đối đầu với nhà cầm quyền. Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt còn tin rằng “với thiện chí và với khả năng đối thoại thì tất cả mọi sự sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp” (Vietcatholic.net, 12-03-2005). Kết qủa ra sao, thực tế đã trả lời. Dĩ nhiên các vị lãnh đạo Giáo Hội phải lựa thời lựa thế, tìm cách thích ứng với hoàn cảnh để đưa con thuyền Giáo Hội đi giữa những phong ba, thác ghềnh. Tuy nhiên, sự nhẫn nhục qúa đáng đi đôi với sự nể vì nhà nước, sợ nhà nước không ban phát thêm những ân huệ, đã khiến cho giáo dân bức súc và làm cho đồng bào không Công Giáo nhìn Giáo Hội bằng con mắt nghi ngờ, thiếu kính phục.

Phải công nhận rằng thái độ và hành động hòa hoãn, kiên nhẫn của qúy vị có đem lại một số cải thiện cho điều kiện sinh hoạt của Giáo Hội, nhưng cũng không tránh khỏi những chỉ trích là các vị đã không làm tròn vai trò ngôn sứ nói lên sự thật và tiếng lương tâm, tránh né những vấn đề nhạy cảm dễ làm mất lòng nhà nước, kể cả việc bênh vực những giáo sĩ bị bắt, bị quản thúc một cách oan ức theo luật đời và vô tội theo luật đạo (vì nếu có tội, tại sao không chế tài theo luật Giáo Hội?). Có vị viện tới sự soi sáng của Chúa Thánh Linh để biện minh cho những hành động của mình. Dĩ nhiên, tin Chúa thì trông cậy vào Chúa, hành động theo cách mình cho là đẹp ý Chúa. Nhưng có phải lúc nào cũng biết làm theo đúng ý Chúa, hay theo ý mình rồi cho là ý Chúa? Chúa có soi sáng cho việc tuyên bố và viết sách ca tụng đảng cộng sản không? Chúa có soi sáng việc cho phép các linh mục ra ứng cử đại biểu quốc hội vi phạm Giáo Luật điều 285 không? Chúa có dậy phải im lặng trước việc vi phạm nhân quyền, trước những bất công xã hội và sa đọa luân lý không? Sở dĩ Giáo Hội còn tồn tại là vì, may thay, vẫn còn những vị chủ chăn thánh thiện, dám làm dù chưa dám nói. Điều khó là tâm trạng nghi ngờ, cộng thêm thái độ nể nang trong Hội Đồng Giám Mục, khiến nhiều vấn đề không được đưa ra hoặc không được thảo luận thẳng thắn đến nơi đến chốn, từ đó mới có tình trạng nương vào trách nhiệm tập thể để tránh né trách nhiệm cá nhân.

Dư luận rất thắc mắc về thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn mới đây về vấn đề cờ vàng ba sọc đỏ tại Ngày Đại Hội Giới Trẻ tại Sydney vào tháng 07/08. Ngài cho rằng lá cờ này là một trở ngại cho việc hiệp thông giữa những người trẻ trong và ngoài nước. Ai cũng hiểu ý ngài là không muốn có lá cờ vàng trong ngày đại hội. Như vậy sẽ chỉ còn cờ đỏ sao vàng. Cờ đỏ sao vàng, dù được công nhận về chính trị theo công pháp quốc tế, không được chấp nhận như một biểu tượng cho giới trẻ VN hải ngoại. Đây là một vấn đề nhậy cảm, có tính cách chính trị và liên quan tới sự khác biệt ý thức hệ. Một vị lãnh đạo tôn giáo cấp cao như Hồng y không nên dính vào. Hãy đứng ở trên tất cả để dậy lời Chúa và tìm ra một cách thức phi chính trị để những người trẻ VN trong và ngoài nước gặp gỡ nhau, hiệp thông với nhau. Đừng nên khơi ra những khác biệt chính kiến trong một biến cố tôn giáo kẻo sẽ bị suy diễn là vô tâm, hoặc phục vụ chính sách kiều vận của nhà nước VN và chỉ rước lấy những hậu qủa trái ngược (effets contraires).

Chúng ta là những giáo dân, là những con chiên nhỏ bé, có truyền thống vâng phục và nương tựa vào những vị chủ chăn. Nhưng một khi chủ chăn không dậy những điều đáp ứng với thời thế, đương đầu với sói lang, khi chủ chăn không bảo vệ con chiên, mặc cho con chiên bị bắt bớ, mặc cho tượng thờ bị đập phá, thì chủ chăn có làm bổn phận “hy sinh mạng sống vì đoàn chiên” như Chúa dậy hay không? Sự lên tiếng của chúng ta không có nghiã là chỉ trích, báng bổ, mà chỉ như những lời than phiền, rên xiết của đoàn chiên về những gì đoàn chiên đang phải chịu. Dù những lời rên xiết này không lọt tai những vị hữu trách của Giáo Hội thì cũng phải đến tai Thiên Chúa, nếu chúng ta biết cầu nguyện và trông cậy.

III – VATICAN CAN THIỆP NHƯ THẾ NÀO?

Qua 15 cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Tòa Thánh và nhà cầm quyền Hà Nội, chúng ta thấy đường lối can thiệp của Vatican được tóm gọn trong mấy điểm sau đây:

      1/ Cố gắng duy trì liên lạc và đối thoại với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam,

      2/ Không can thiệp những việc có liên quan xa gần đến chính trị (vụ nhà thờ Vinh Sơn, vụ Cha Nguyễn Văn Lý…). Không đề cập những vấn đề nhậy cảm đối với chính quyền, như nhân quyền, bất công xã hội,

      3/ Quan tâm giữ cho Giáo Hội Việt Nam được hiệp thông với Tòa Thánh, với Giáo Hội hoàn vũ, không trở thành một giáo hội quốc doanh. Cụ thể là các vị chủ chăn cầm đầu giáo hội địa phương phải được Giáo Hoàng La Mã bổ nhiệm,

      4/ Can thiệp cho những vấn đề thuần túy tôn giáo để giúp Giáo Hội Việt Nam được sinh hoạt bình thường và có điều kiện phát triển, như giảng đạo, đào tạo nhân sự, xây cất cơ sở…

Vatican không làm áp lực với Hà Nội, chỉ dùng ảnh hưởng tinh thần để thuyết phục người đối thoại chấp nhận những điều hợp lý. Tuy nhiên, Vatican tuy không dùng võ khí chính trị nhưng vẫn tế nhị xử dụng những hành động phản đối của Linh mục Lý cũng như của các giáo sĩ và giáo dân trong lẫn ngoài nước để làm lợi khí điều đình với nhà cầm quyền cộng sản. Tất cả mọi hành vi phản kháng, vận động, dù không đem lại kết qủa trực tiếp tức thời , cũng sẽ được xử dụng một cách gián tiếp, lúc này hay lúc khác, để làm áp lực trên đối phương trong những cuộc mặc cả. Chúng ta đừng quên rằng chính phủ Hoa Kỳ đã nhiều lần dùng khí thế chống cộng của người Mỹ gốc Việt như một lý do để hù họa, đòi hỏi hoặc từ chối trong các cuộc điều đình với cộng sản Việt Nam.

Lần này, theo Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương, một nhân vật cao cấp của Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh, phái đoàn Vatican đến Việt Nam vào tháng 6, ngoài việc thảo luận việc bổ nhiệm một số giám mục mới, còn có việc nói chuyện về đất đai. Người ta nghĩ vụ Tòa Khâm Sứ, Thánh địa La Vang, Giáo Hoàng Học Viện sẽ được đề cập. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Hà Nội cũng có thể được bàn luận. Có quan hệ ngoại giao không có nghiã là có tự do hoàn toàn cho Giáo Hội, nhưng Tòa Thánh sẽ có lợi thế trong việc đặt đại diện thường trực tại chỗ để nhìn tận mắt, xét đoán tình hình, can thiệp và điều đình khi cần, không phải chờ phái đoàn từ Vatican mỗi năm đến một lần. Về phiá nhà cầm quyền, bang giao chỉ giúp họ được tiếng là đã được “chơi” với một thế lực tinh thần quan trọng của nhân loại, đã tiến thêm một bước trong việc hội nhập toàn cầu và tuyên truyền cho chính sách tôn giáo của họ. Tuy nhiên, họ rất e ngại sự hiện diện thường xuyên của đại diện Tòa Thánh. Đó là lý do họ kéo dài việc điều đình để đòi cho được những điều kiện bảo đảm quyền toàn trị mà họ đang nắm giữ. Ngoài ra, phái đoàn cũng đặt vấn đề Giáo Hội phải được đóng góp vào việc xây dựng đất nước, đặc biệt trong lãnh vực xã hội và giáo dục để xoa dịu phần nào những đau khổ của nhưỡng người bị gạt bên lề xã hội và đào tạo những công dân tốt, những nhân tài cho đất nước. Hiện nay Giáo Hội chỉ được phép mở lớp dậy trẻ em cấp tiền mẫu giáo dưới 5 tuổi.
Phái đoàn điều đình lần thứ 15 này do Đức Ông Pietro Parolin, Thứ Trưởng Ngoại Giao Tòa Thánh, hướng dẫn, đã thảo luận với các viên chức của nhà cầm quyền Hà Nội trọn ngày 10/06/08, sau đó đi thăm Huế, La Vang, Đà Lạt và từ Sài Gòn về lại Roma ngày 16/06/08. Theo thông cáo chính thức của phái đoàn được phổ biến ngày 18/06/08, phái đoàn đã có các phiên họp làm việc với Ban Tôn Giáo của chính phủ do ông Trưởng Ban Nguyễn Thế Doanh cầm đầu, trong không khí thẳng thắn và thân mật. Đề tài thảo luận là việc bổ nhiệm các giám mục, trao trả từ từ các tài sản của Giáo Hội, sự đóng góp vào việc thăng tiến con người, liên đới với những tầng lớp yếu thế nhất trong dân chúng, giáo dục luân lý cho các thế hệ trẻ. Không có một kết quả nào được công bố, kể cả việc họp với Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội để thảo luận vụ tòa Khâm Sứ. Về vấn đề này, bản thông cáo ngầm ý cho biết hai bên vẫn còn đang tìm kiếm những giải pháp thích hợp. Phái đoàn cũng được Phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm tiếp kiến. Vấn đề quan hệ ngoại giao được nêu lên, “hai bên dự kiến rằng Nhóm Làm Việc, với nhiệm vụ xác định thời gian và thể thức, sẽ khởi sự công việc sớm nhất trong thời gian tới đây”. Trừ việc bổ nhiệm các giám mục còn được giữ kín, người ta thấy cuộc điều đình lần này không đạt được kết qủa nào cụ thể. Việc trao trả toà Khâm Sứ chưa bàn xong. Việc hoàn trả Giáo Hoàng Học viện Đà Lạt chưa bàn tới. Yêu cầu đóng góp vào lãnh vực xã hội và giáo dục chưa được trả lời. Việc bang giao còn trong giai đoạn nghiên cứu và ủy ban nghiên cứu cũng chưa nhóm họp phiên nào. Có thể nói phái đoàn Tòa Thánh ra về gần như tay không, khiến giới quan sát càng thêm thắc mắc tại sao cả ba vị tổng giám mục của ba tổng giáo phận trên toàn quốc đều đi ra khỏi nước trong thời gian phái đoàn Vatican điều đình và thăm viếng tại VN. Phải chăng đó là một sự tình cờ có hậu ý?

IV – LIÊN HỆ HAI CHIỀU GIỮA GIÁO HỘI VÀ ĐẤT NƯỚC

Không ai có thể phủ nhận sự liên hệ chặt chẽ giữa Giáo Hội và đất nước. Không có đất nước Việt Nam thì không có Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Giáo Hội cùng nổi trôi với vận nước. Khi đất nước bị kềm kẹp thì Giáo Hội cũng không thoát khỏi gọng kềm. Khi gọng kềm được mở rộng ra dần, Giáo Hội cũng được dễ thở theo. Tuy nhiên, Giáo Hội không thể đóng vai thụ động, mặc cho tình thế đưa đẩy. Giáo Hội không có sứ mạng thay đổi thể chế chính trị, nhưng có bổn phận cải tiến xã hội. Những người cầm quyền hiện tại đang áp dụng một mô thức quản trị xã hội theo hai chiều trái ngược. Một mặt, họ giải phóng sinh hoạt kinh tế (trừ quy hoạch vĩ mô và cái đuôi ‘định hướng xã hội chủ nghiã’), nhờ đó kinh tế có phát triển, giảm bớt nghèo đói, nhưng đồng thời cũng tạo ra những bất công, hố ngăn cách giầu nghèo ngày càng mở rộng, những tệ nạn gia tăng, đặc biệt nạn tham nhũng và suy thoái luân lý. Mặt khác, về phương diện chính trị, họ vẫn duy trì chế độ độc tài toàn trị, tiếp tục trấn áp mọi quyền tự do căn bản của con người. Có thể nói, con người trong xã hội Việt Nam hiện nay mặc nhiên chia thành hai phe. Phe theo chính quyền vì dinh líu quyền lợi hơn là vì ý thức hệ. Họ là thiểu số, nhưng có quyền và có tiền nên vẫn nắm nhiều thế lực. Phe chống, công khai hay thầm lặng, gồm đa số nhân dân, bất mãn vì bị tước đoạt tự do, vì thấy trước mắt những bất công, và nhiều khi là nạn nhân của bất công. Tình trạng này đã tạo nên một khát vọng và một khuynh hướng hình thành một xã hội công dân có khả năng bảo vệ quyền lợi của mình, thực hiện một nếp sống dân chủ, công bằng và nhân ái. Có những dấu hiệu cho thấy khuynh hướng này ngày càng lớn mạnh và không thể đảo ngược. Câu hỏi đặt ra cho Giáo Hội là Giáo Hội đứng vào phe nào? Muốn đồng hành với khuynh hướng tiến bộ của đa số thành phần dân tộc hay vẫn muốn bám cứng thế lực thủ cựu để bảo vệ những gì đã thụ đắc? Đây không phải là thái độ chính trị ủng hộ hay chống đối, nhưng là môt lựa chọn có tính cách luân lý xã hội. Nếu Giáo Hội biết dùng sức mạnh tinh thần của mình để tác động trên những biến chuyển theo chiều hướng tốt thì những biến chuyển đó sẽ đạt thành qủa mau hơn và to lớn hơn. Đổi lại, khi tình hình đất nước được cải thiện, Giáo Hội cũng sẽ có những điều kiện thuận lợi để phát triển một cách tự do và lành mạnh hơn, lại không bị mang tiếng là không đoàn kết liên đới trong cuộc tranh đấu chung của đại khối dân tộc.

Khẩu hiệu “sống giữa lòng dân tộc” không có nghiã chỉ sống với những người có quyền, có tiền, mà ưu tiên phải sống với những người nghèo khổ, những người bị áp bức, bị đối xử bất công. Khi Giáo Hội hành động như vậy, lời rao giảng Tin Mừng mới dễ được đón nhận vì Giáo Hội đã triển dương công lý và bác ái bằng hành động. Không cần phải ra mặt chống đối chính quyền, vẫn có thể tiếp tục đối thoại và hợp tác khi những quyền lợi của Giáo Hội được tôn trọng. Tuy nhiên, Giáo Hội không nên đầu tư bằng uy tín và danh dự của mình vào cửa đang bị nguyền rủa và có triệu chứng ngày càng mất dần quyền lực.

GIAOXEM PHAN 2 HOI tt
           Click here


Mes catégories
Mon calendrier
< Jun. 2008 >
L M M J V S D
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
Trafic
Noter ce blog :
1 5
5161 connectés
46737 visiteurs