iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 31/05/2008 à 15:32
Par clb-vh
  
                  
 
     
             
                              Chè kê                            
             

1. 100gr kê vo sạch, cho vào nồi cỡ vừa, đổ vào khoảng một lít nước ngâm kê chừng một giờ. (chọn cỡ nồi sao cho mực nước cao hơn kê khoảng 4 -5 phân,  tương đương ba lóng tay người lớn).
 
 2. Cho nồi kê lên bếp mở lửa, canh chừng vừa chớm sôi thì hạ lửa tối đa chỉ để cho nước sôi váng hơi lăn tăn rất nhẹ, dùng đũa gỗ hoặc vá muỗng kim loại khuấy nhẹ trong mươi giây (đừng dùng dụng cụ muỗng đũa bằng nhựa mélanin để khuấy, món ăn sẽ bị dây mùi nhựa). Để sôi nhẹ qua năm ba phút rồi lại khuấy tiếp mươi lăm giây nữa, cứ như vậy cho đến khi xong. Thăm chừng thấy hột kê nở ra và mềm, thử bằng cách múc vài hột, thổi nguội rồi cho vào giữa hai đầu ngón tay vo nhẹ thấy nát mịn là được. Cho vào khoảng 250gr đường hoặc tùy thích gia giảm đôi chút, khuấy đều tay cho đến khi thấy tan đường hoàn toàn. Thăm chừng cho kê cạn nước dần và đặc lại từ từ, tùy thích để chè đặc ít nhiều nhưng thông thường là thử độ đặc của chè bằng cách dùng cái muỗng nhỏ múc ít chè rồi đổ ra lại thấy chè quánh hẳn và nhểu chậm ra như hồ đặc là được.
3. Tùy thích dùng ít vani, nước hoa bưởi... cho vào nồi kê để tạo mùi nhưng nếu có kê mới thì không ai dùng hương liệu cho vào chè cả vì kê mới, nấu chè rất thơm.4. Thực phẩm phụ ăn kèm chè kê:- Bánh tráng mè nướng dòn.- Đậu xanh tán: Dùng chừng 200gr đậu xanh cà đã đãi vỏ, vo sạch, nấu chín như nấu cơm cho thật ráo hột, bới ra để nguội dùng máy xay cắt có dao hình chữ S làm cho mịn nhuyễn rồi tải mỏng ra để cho ráo ở dạng hơi khô để có thể rắc được. Bếp VN hay làm đậu tán theo cách cổ truyền là sau khi đậu chín, cho vào cối giã cho mịn nhuyễn rồi dùng tay vo thành viên tròn thật chắc, để nguội và khô, cần dùng bao nhiêu thì lấy dao mỏng bén cắt gọt vào viên đậu để lấy đậu tơi nhuyễn ra bấy nhiêu.- Cơm dừa khô nạo sợi mỏng trụng qua nước sôi để ráo.5. Trình bày món ăn: Đa số người vùng Bình Trị Thiên hay múc chè kê ra chén nhưng khi ăn lại dùng bánh tráng mè nướng bẻ nhỏ và cầm miếng bánh tráng xúc chè thay cho cái muỗng. Trong khi nhiều người Bắc lại thích nấu chè kê thật đặc, khi ăn, bẻ bánh tráng nướng ra thành miếng nhỏ, phết chè lên, rắc thêm ít đậu xanh tán hay cơm dừa nạo rồi đặt một miếng bánh tráng khác lên kẹp lại. Đây là cách ăn mà trẻ em rất thích. Đáng tiếc, bây giờ món chè kê bánh tráng hiếm khi thấy bán ở thành phố, hoạ hoằn chỉ thấy người ta nấu và bán... biểu diễn trong những hội chợ ẩm thực dân tộc.
 

Chè bột báng
  

Nguyên Liệu:

Vỏ bánh:
- 100 gram bột năng     - 250 gram bột báng
- dầu ăn    - 1 miếng lá chuối

Nhân bánh:
- 150 gram đậu xanh cà vỏ (ngâm nước)
- 150 gram đường    - 1 ống vani

Nước dừa:
- 1 lon nước cốt dừa lớn (hoặc 1 trái dừa khô)
- 50 gram đường   - 1/8 tsp muối
- 1 TSP bột gạo     - 50 gram mè rang
 Cách Làm:

Nấu nước sôi rồi đổ bột báng vào cho đến khi bột báng bắt đầu hơi trong, dẻo là được. Xong đổ bột báng ra rổ cho ráo. Cho bột năng vô trộn đều, xong chia làm 20 phần.

Đậu xanh rửa sạch, nấu (hấp) chín, rồi tán nhuyễn, trộn đường, bắt lên bếp sên cho đặc (hơi khô) rồi trộn vani vào, vo tròn, chia 20 phần làm nhân.

Lấy bột báng bọc đậu xanh lại, vo tròn (hoặc dẹp) tiếp tục cho đến hết. Lá chuối thoa dầu, lót vô xửng hấp, đặt bánh vô. Nước nấu sôi, cho bánh lên hấp. Khi bột báng trong hết là bánh chín.

Trong khi chờ bánh nấu nước dừa. Nước dừa + bột gạo + đường + muối cho vô 1 cái nồi nhỏ nấu lửa nhỏ, quậy đều cho tan đường khi nước dừa vừa sôi là tắt bếp (đừng để sôi lâu quá dừa sẽ ra dầu, nước dừa sẽ bị hôi mùi dầu và dễ bị thiu).

Khi dùng cho bánh ra dĩa chế nước dừa lên bánh , trên rắt tí mè. 
  

Chè bưởi
  

Vật liệu và chế biến:
 – 300g đậu xanh cà, ngâm nước nóng khoảng 2 giờ, đãi vỏ, hấp hoặc nấu chín như nấu cơm. – 400g dừa nạo, cho vào túi vải sạch, châm vào chừng 1 chén nước nóng, vắt lấy nước cốt. Bắc nước cốt lên bếp, để nhỏ lửa, cho nước cốt dừa sôi nhẹ, hơi sánh lại là được. Tùy ý dùng nước cốt dừa đóng lon nhưng phải nấu lại cho sôi, để nguội rồi mới dùng.– 100g đậu phụng rang vàng, đãi vỏ, giã nhỏ.– 2 muỗng canh bột năng pha với lưng tô nước lạnh để sẵn.– Một ít phần vỏ xanh của vỏ bưởi, vát thật mỏng thành miếng nhỏ cỡ móng tay hoặc ít tinh dầu bưởi hay vài cánh hoa bưởi tươi nếu có để tạo mùi. Tùy thích dùng một ít các hương liệu khác như vani, dầu chuối…  Nấu chè:– Bắc khoảng non 2 lít nước lên bếp, cho vào 600g đường cát trắng (tùy ý gia giảm lượng đường theo khẩu vị), nấu nhỏ lửa cho tan đường rồi thả vỏ bưởi vào nấu chín (vỏ bưởi sẽ nở ra), nêm vào nồi chè khoảng ½ muỗng cà phê muối, thả đậu xanh vào khuấy đều, nước sôi lại, cho vào chừng một muỗng cà phê vỏ bưởi xanh vát mỏng hoặc vài giọt tinh dầu hoa bưởi hay mươi cánh hoa bưởi tươi. – Để làm chè nóng: Châm từ từ nước bột năng vào trong khi vẫn khuấy đều cho nước chè vừa hơi sánh lại là được, đừng làm đặc quá, khuấy đều, bắc xuống. Múc chè ra chén, chan nước cốt dừa vào, rắc đậu phụng lên. – Để làm chè lạnh: Không cho bột năng, nước cốt dừa, đậu phụng. Múc chè ra ly, để nguội, tùy ý cho vào tủ lạnh hay thêm nước đá bào.
 

Bột lọc heo quay
 

 

Vật Liệu:
 - Thịt heo quay, chỉ lấy phần thịt nạc, cắt thịt thành miếng vuông vức cỡ đầu ngón tay út. - Đường cát trắng hoặc đường phèn; hoa bưởi, hoa lài tươi hoặc tinh dầu.- Phần phụ gia tùy thích: Mè rang vàng giã nhuyễn mịn, gừng non cắt sợi thật nhỏ. - Phần làm bột lọc (*): Hướng dẫn căn bản, tùy nhu cầu làm ít nhiều để nhân lên: 3 chén bột năng khô; 2 chén nước - dùng cỡ chén ăn cơm VN thông thường để lường; ít muối bọt.  

THỰC HÀNH

Bột lọc là từ chuyên dùng của vùng Bình Trị Thiên Huế chỉ cho bột năng, chế biến thành dạng chín trong. Hai món ăn điển hình làm bằng bột lọc là chè bột lọc và bánh bột lọc. Dáo bột là khuấy bột trên bếp ở dạng nửa sống, nửa chín trước khi làm cho chín hẳn. 
 
1. Dáo bột: Cho vào nồi 2 chén bột + 2 chén nước + 1/3 muỗng cà phê muối, để nhỏ lửa, khuấy đều tay cho đến khi bột sánh đặc, nửa sống nửa chín, không còn chảy nhảo là tắt bếp. Đổ từng phần bột vừa cháo xong ra một góc mâm sạch cho dễ làm, rắc từ từ từng ít bột của chén bột khô còn lại vào, nhồi kỹ thành từng nắm vừa mềm dẻo, không dính tay là được, không cần thiết phải sử dụng hết số bột. Nếu chưa quen tay, không nên làm hết cả tất cả phần bột vừa dáo một lần, vừa khó nhồi vừa khó gia giảm phần bột khô.(Nhận xét bột nửa sống nửa chín: Khi dáo bột, phần bột chín sẽ trở trong, phần bột còn sống vẫn có màu trắng sữa, Khi làm đúng, tùy chất lượng bột và canh lửa vừa, hỗn hợp sẽ sệt lại với hai màu trắng đục và trắng trong quyện đều nhau.  
2. Ngắt từng phần bột, nhận một viên thịt vào giữa, vo tròn lại cỡ lớn hơn viên bi một chút. Nếu thay viên thịt bằng một viên đậu phụng rang đải vỏ sẽ trở thành món chè bột lọc truyền thống.
3. Nấu nước đường: Ít nhiều tùy lượng chè muốn nấu. Dùng khoảng 150gr đường phèn hoặc 350gr đường cát trắng / 1 lít nước - nếu dùng đường phèn, món ăn sẽ có vị ngọt thanh. Nấu sôi nước cho tan đường, vớt bọt nổi trên mặt nước đường. Để nồi nước đường sôi nhỏ lửa trên bếp, thả từng viên bột vào, qua chừng mươi giây mới thả tiếp viên khác, dùng đũa khuấy nhẹ tay liên tục cho những viên bột không nằm sít đáy nồi, khi thấy viên bột trở trong là viên bột đã chín. Nếu thả tất cả bột vào một lần, các viên bột sẽ dính vào nhau.
4. Chia vào mỗi chén 6 - 8 viên chè, tùy ý chan ít nhiều nước đường nóng vào, nếu có hoa bưởi, hoa lài tươi thả vào mỗi chén một đóa hoặc 1 -2 giọt tinh dầu hoa bưởi. Tùy thích thay thế hoa bưởi bằng ít mè hoặc gừng sợi. Nếu thích, thả hẳn vào nồi nước đường vài lát gừng vừa đủ cho nước chè dậy mùi gừng.
5. Chè bột lọc nói chung ăn khi còn nóng ấm hoặc nguội không ăn với nước đá bào hoặc ướp lạnh.
6. Nói thêm: Khi vào mùa thì những ngôi nhà vườn Huế thì chẳng bao giờ thiếu hoa bưởi, còn hoa lài thì có thường xuyên hơn. Sau khi nấu xong nồi chè chừng 2 - 3 lít, trong khi nước đường còn nóng, thả vào chừng mươi lăm đóa hoa bưởi hoặc hoa lài tươi, hương hoa sẽ thấm vào nước chè và giữ được mùi hoa qua nhiều giờ. Vào mùa bưởi, thanh trà (một loại bưởi nhỏ trái)... trong những ngôi nhà vườn Huế, nhất là giấc chừng tám chín giờ tối - khi hoa bắt đầu nở - du khách sẽ thích thú khi theo chân người phục vụ vừa múc cho mình một chén chè bột lọc nóng - thường là một cô gái rất duyên đáng - len lỏi trong khu vườn chập chờn ánh đèn lồng, đến bên một gốc cây bưởi nào đó, ngắt lấy một nụ hoa bưởi vừa chớm nở, thả vào chén chè đang bưng trong tay, rồi đưa lên mũi hít nhẹ hương hoa lẫn trong mùi đường ngọt.

Chè chuối
 

Với món chè này bạn có thể ăn nóng cũng như
lạnh do đó có thể thích hợp cho cả bốn mùa.
Bằng tài khéo léo của bạn theo công thức dưới
đây sẽ khám phá được một vị khác cũng
không kém hấp dẫn của trái chuối.

Nguyên liệu:

- Nước cốt dừa: 1 hộp 400 ml

- 2-3 quả chuối tây.

- Đường, vừng, muối.
 Thực hiện:

Chuối tây chọn quả chín, có vị ngọt đậm, ăn không chát. Chuối bóc vỏ, bổ làm tư theo chiều dọc và chiều ngang quả.

Vừng rang chín vàng, sẩy sạch vỏ, để riêng.

Cho nước cốt dừa vào nồi đun vừa lửa, nêm chút muối, đường vừa ăn. Vừa đun vừa quấy đều tay, khi sôi cho chuối vào đun nhỏ lửa, thỉnh thoảng lại quấy nhẹ vài lần. Đun cho đến khi chuối chín mềm (đun từ 6-8 phút tuỳ vào độ cứng của chuối) thì tắt bếp để nguội.

Múc chè ra âu, rắc vừng lên trên rồi đặt vào tủ lạnh, khi nào ăn mới đem ra múc vào bát con.

Có thể ăn chè chuối ngay khi còn nóng cũng rất ngon.


Chè cốm
  

Phân lượng tượng trưng cho chừng mươi chén chè với cách nấu truyền thống.
- Chuẩn bị 500gr cốm. Xem lại chất lượng cốm, nếu cốm không sạch, thơm cần phải xả nhanh qua một hai lần nước sạch, để ráo.- Hoà tan 3 muỗng súp bột sắn dây (hoặc bột năng, bột bắp) với 1/4 lít nước lọc, để riêng.- Nấu tan 1 lít nước với 400gr đường cát trắng hoặc 150gr đường phèn, trong khi nước đường đang sôi châm từ từ nước bột vào, vừa châm khuấy đều tay, thấy nước đường hơi sánh lại là ngưng, không cần thiết phải dùng hết số nước bột, nước đường chỉ cần sánh là được chứ không sệt lại. Tắt bếp, để nước đường hơi nguội bớt, vừa rắc cốm vào vừa đảo đều, tùy thích lượng cốm ít nhiều trong nước đường.- Nếu thích ăn cốm nở mềm thì cứ cho cốm vào khi nước đường còn nóng. Chè cốm với nước đường đánh bột thường dùng ăn nguội, nếu ăn nóng thì người ta thường thả cốm vào nước đường nóng mà không đánh bột. Tùy ý thích chè ngọt ít nhiều để gia giảm đường. Nếu có điều kiện, thả một hai cánh hoa bưởi hoặc hoa lài tươi vào nước đường dang sôi.* Một hình thức khác "hiện đại" hơn của chè cốm là người ta nấu những loại chè như sâm bổ lượng, đậu xanh hột... và rắc thêm cốm vào. 

CỐM DẸP TRỘN DỪA


- 500gr cốm dẹp nhặt lượm kỹ, xả nhanh với nước cho sạch bụi, châm vào chừng 150gr nước nóng, để qua 15 phút, thấy hột cốm nở lớn, chắt hết nước ra cho thật ráo.
- 300gr dừa nạo sợi. Phần dừa này trộn đều với cốm.- Thêm 200gr dừa nạo nhuyễn, cho vào 3 chén nước ấm (chừng 300 cc) vắt lấy nước cốt, nấu với 150gr đường trắng cho tan, trong khi còn đang sôi, múc tưới vào hỗn hợp cốm dừa từ từ, trộn đều để cho cốm thật nổi và ráo, không nhất thiết phải dùng hết lượng nước dừa.- Để nguội, tùy thích nặn thành viên tròn hay nén vào khuôn dẹp, để nguội rồi xắn ra thành miếng nhỏ. tùy thích dọn cốm xào dừa ra dĩa hay dùng giấy bóng kiếng gói lại từng miếng.

Chè đậu trắng
  

1. 0,5kg đậu trắng khô
(Bush bean, White cowpea), vo sạch, ngâm nước qua mười hai giờ. Đây là thời gian ngâm loại đậu khô VN, có thể đã để trên 3 tháng, tùy loại đậu bạn đang có mà ước định thời gian ngâm nước lạnh có thể mau hoặc lâu hơn 1 -2 giờ. Khi ngâm đổ nước cao hơn mặt đậu nhiều vì đậu sẽ ngấm nước làm nước cạn xuống, vớt bỏ những hạt đậu nổi lên mặt nước. Sau đó đổ bỏ nước ngâm, châm ngập nước mới, bắc lên bếp nấu sôi nhỏ lửa, lưu ý nếu thấy cạn nước thì châm thêm nước sôi, cho đến khi thấy hạt đậu vừa mềm - lấy thử một hột, thổi nguội, cạy mày đậu giữa hột ra và lột được phần vỏ cứng dễ dàng là hột đậu đã được. Tắt bếp, đổ qua rổ rá cho nguội bớt, xả lại nước lạnh, để cho thật ráo, dùng tay  cạy mày và lột bỏ vỏ từng hạt đậu, sau đó xả sạch lại nước lạnh vài lần để ráo.
Nếu dùng nồi áp suất để nấu đậu thì tùy thương hiệu nồi để tuân theo hướng dẫn sử dụng. Cho đậu đã ngâm và nước vào nồi với phân lượng nhất định, nấu với thời gian chỉ định đã nấu thử qua để biết chính xác thời gian đậu mềm.
2. Cho vào đậu 600 - 700gr đường cát trắng, gia giảm tùy thích muốn ngọt ít nhiều, xốc trộn cho đều, để qua 1 giờ.
3. 0,5kg dừa nạo, cho vào ¼ lít nước ấm vắt lấy nước cốt; cho vào lại khoảng 2 lít lít nước ấm nữa vắt lấy nước dảo. Lượng nước dảo này vừa dùng để nấu nếp và không nhất thiết phải dùng hết. Ở nước ngoài tùy ý dùng nước cốt dừa đóng lon, pha loãng ra để làm nước dảo.
4. Nấu nếp: Vo sạch 250gr nếp, châm nước dừa dảo vào cao hơn mặt nếp chừng 3 - 4cm, nhỏ lửa, nấu nếp thành dạng cháo đặc, thăm chừng khi nấu để châm thêm nước dừa dảo nếu thấy thiếu, khi nếp nở đều, vẫn để nhỏ lửa, trút phần đậu đường vào nếp, đảo nhẹ tay, để sôi váng hơi trong khoảng 5 phút nữa, thấy đường tan hoàn toàn là được. Sau khi nấu xong, hỗn hợp đậu, nếp vừa sệt là đã canh nước đúng.
5. Nấu nước cốt dừa: Bắc nước cốt dừa lên bếp + ½ muỗng cà phê muối + 1 muỗng cà phê bột năng + 2 ống va-ni nếu thích + vài cọng lá dứa rửa sạch vo dập, nấu nước cốt dừa sôi lên, khuấy đều tay, để vừa sệt lại là được.
6. Múc chè ra chén, tùy thích ăn nóng hay để nguội, chan nước cốt dừa lên mặt chè.
7. Nhiều người miền Bắc, Trung VN nấu chè đậu với nước thường chứ không dùng nước dừa cũng như nước cốt dừa chan lên mặt.
 


Chè đậu ván
  
Nguyên Liệu:

1 gói đậu ván 16 oz
6 cup water
2 cup đuong
3/2 cup bột năng (thiếu thì cho thêm)
vài giọt màu vàng
1 gói vanilla
1 lon nước dừa
 Cách Làm:

Đậu ván ngâm 1 đêm mai luộc đậu trên bếp với tí muối cho mềm. Sau đó bóc vỏ. Có thể ngâm đậu một đêm, đậu nở ra hết rồi bóc vỏ. Sau đó đem hấp chín trên bếp = trỏ giống kiểu hấp đậu xanh cà nấu chè táo xọn á. Nhớ đừng để lửa cao quá đậu sẽ bị nát nhen.

6 cups nước + đường = nấu sôi, giảm lửa cho đường hơi kẹo xí xi . Nhỏ vài giọt màu vàng vô nước đường.

Quậy bột năng trong cái tô nhỏ với tí nước lạnh cho tan. Sau đó đổ từ từ vô nồi nước đường đang sôi , vừa đổ bột, vừa quậy . Thấy đường và bột sánh lại là được rồi. Sau đó đổ đậu vô quậy nhẹ lên, chè sôi lên nhè nhẹ là xong. Nhắc ra múc ra chén ăn với nước cốt dừa.

Cách làm nước dừa:

Nước dừa + tí xí muối + tí xí đường + 1 tsp bột năng, quậy đều bắt lên bếp quậy nhẹ tay với lửa vừa. Quậy đến khi nước dừa sôi lại, và đặc là nhắc ra. Đừng để dừa sôi lâu quá sẽ hôi dầu.


Chè kho


Vật Liệu: Đây là món ăn mời khách trong ngày mùng một Tết
 của người Hà Nội xưa. Cũng có gia đình làm chè kho để cúng phật, gia tiên. Khi khách đến chơi nhà chúc phúc ngày Tết, chủ nhà thường cắt từng lát chè mời khách thưởng thức với chè sen.

- Đậu xanh 1 bịch
- Đường trắng 1/2 cup
- Mè (vừng)
- 2 gói vani
- 1/4 tsp muối

Cách Làm: Chè kho làm bằng đỗ xanh, nhưng phải lựa chọn đỗ xanh hạt tiêu (hạt nhỏ lòng vàng). Sau khi ngâm đỗ nửa ngày, đem ra đãi. Người làm phải hết sức tỉ mỉ công phu, nhặt hết những vỏ, hạt đỗ sạn, hạt sâu, đen và bỏ bớt đi những hạt vụn. Sau đó rắc vài hạt muối vào, để ráo nước mới đem thổi xôi hoặc đem đồ trong chõ.

Khi đồ chín, phải giã nhuyễn rồi nắm thành từng nắm, rồi dùng dao thái lát mỏng cho đỗ tơi và mịn, sau đó cho đường trắng vào nước sôi để nguội đánh cho tan đường và vani, rồi trộn đều với đậu và đem đun nhỏ lửa. Yêu cầu khi nấu chè kho phải đạt độ vàng, ngọt đậm và thơm. Khi cho chè kho ra đĩa, nên phủ một lớp vừng trắng đã rang vàng lên đĩa chè kho. Chè kho để nguội hãy thái lát ra từng miếng và đặt lên đĩa mời khách.


Chè khoai môn
 

Cho 2 người ăn , hay 1 người ăn hai bữa

1/2 cup nếp
2 cups nước
4 củ khoai môn nhỏ,cắt làm 4, hay một miếng khoai to 1/2 lb cắt miếng
3/4 cup đường(nếu muốn ngọt cho thêm đường)
1/8 thìa cà phê muối
vài giọt nuớc lá dứa
Nước cốt dừa

Nấu nếp cho nở nhưng không nở quá,cho muối, khoai đã gọt vỏ, cắt miếng vào tiếp tục nấu cho mềm.  Khi khoai mềm, cho đường vào nấu cho tan đường.  Nếu chè thấy đặc, đừng lo, khi cho đường vào chè sẽ loãng ra.  Nhỏ vào vài giọt nước lá dứa coi cho duyên dáng.
Nhắc ra khỏi bếp, khi ăn, chan nuớc cốt dừa lên mặt.
Isa thường cho thêm tí nước cốt dừa nấu chung với chè cho béo.

Muốn dễ lột khoai môn, cho vào mỉcowave zap 4 phút cho khoai chín sơ sơ.




Chè thạch lựu
  

Nguyên liệu :

50g rau câu tươi
100g đậu xanh cà vỏ
1 hộp dừa nước
1 hộp thạch dừa
1 hộp củ năng
1 gói bột năng
Màu nấu ăn
Nước hoa lài (hoặc hoa bưởi)
Thực hiện :

Đậu xanh cà vỏ nấu vừa chín còn nguyên hạt. Rau câu ngâm nước rồi vớt ra để ráo. Đong rau câu bao nhiêu thì đong lượng nước bấy nhiêu, bắc lên bếp nấu cho tan, vớt bọt. Để cho rau câu đông lại, bào sợi rau câu. Dừa nước rửa sơ cho bớt phần nhớt. Thạch dừa dùng luôn nước đường.

Củ năng cắt hạt lựu, chừng 1.5 - 2 mm. Pha màu cho vào chén, rồi bỏ củ năng cắt nhỏ, trộn vào các chén màu cho thấm đều. Sau đó rây bột năng vào củ năng, sao cho bột phủ 1 lớp áo mỏng đều các hạt củ năng đã cắt nhỏ.

Bắc nồi nước thật sôi, bỏ củ năng đã phủ bột + màu vào. Khi vừa nổi lên là chín, vớt ra ngay, xả nước, để ráo.

Nấu nước đường, để nguội. Đổ tất cả các vật liệu nấu chín vào. Bỏ vài giọt nước hoa lài hoặc nước hoa bưởi cho thơm.

Món chè này có thể bỏ tủ lạnh ăn lạnh, hoặc dùng chung với đá bào đều ngon.


Chè thưng
  

1.
200gr đậu xanh cà sạch vỏ, vo đãi sạch, ngâm nước nóng qua 2 giờ rồi cho vào xững hấp chín cho rời hạt.
2. 200gr đậu phụng khô, ngâm nước nóng qua đêm, đãi vỏ, nấu đậu cho đến khi mềm.
3. 20gr nấm mèo, ngâm nước nở mềm, cắt bỏ gốc rễ, xắt nấm thành sợi nhỏ.
4. 100gr bột khoai miếng dài, bột báng viên.ngâm riêng trong nước lạnh chừng 1 giờ, vớt ra để ráo.
5. 15 trái táo tàu khô ngâm nước nóng cho nở mềm, cắt hai, bỏ hột.
6. 500gr dừa nạo, cho vào ½ lít nước sôi, vắt lấy nước cốt; cho thêm khoảng 1,5 lít nước nóng nữa vắt lấy nước dão.
7. Nấu nước dừa dão với chừng 5 - 7 lá dứa rửa sạch. Khi nước sôi, cho bột báng, bột khoai vào nấu nhỏ lửa cho nở mềm, rồi cho vào tiếp khoảng 350 đến 450gr đường (tùy ý muốn ngọt ít nhiều), đường tan, vớt bỏ lá dứa rồi cho đậu xanh, đậu phụng, nấm mèo vào khi nước sôi lại lần nữa cho nước cốt dừa, táo tàu.vào khuấy đều, nêm vào khoảng non muỗng cà phê muối cho chè đậm đà là tắt bếp.8. Tùy thích ăn chè nóng ấm hoặc múc ra từng chén và ướp lạnh trước khi ăn; nếu muốn ăn kèm nước đá bào thì nên tăng lượng đường cho chè ngọt đậm hơn

XEM TIẾP THEO CLICK Ở ĐÂY
CHE-TT

Publié le 30/05/2008 à 21:31
Par clb-vh

KỲ QUAN 5
Vạn lý trường thành 
'vô tiền khoáng hậu'


VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH
              
Truyền thuyết về "tường thành dài một vạn dặm" nhiều vô số kể. Người ta cho rằng đây là công trình nhân tạo duy nhất có thể nhìn thấy từ mặt trăng.
      Công trình này gợi lên ý tưởng về Trung Quốc như một vùng đất huyền bí, rộng bao la và khép kín.
Về quy mô, Vạn lý trường thành không có đối thủ. Trải dài khoảng 2.700 km theo một đường thẳng từ Shanhaiguan ở bờ biển phía Đông thuộc Hồ Bắc đến Jiayuguan thuộc Gansu ở phía Tây, nhưng chiều dài thực sự, kể cả các đoạn thành gấp đôi, gấp ba và thậm chí gấp bốn cùng các đường nhánh ở các đèo và các điểm chiến lược khác ít nhất cũng nhân chiều dài của trường thành lên gấp đôi.
      Nếu tính cả những đoạn lúc đầu của trường thành, chiều dài tổng cộng gần 10.000 km, lớn hơn chu vi trái đất 20%. Hiện còn khoảng 20.000 tháp canh trên trường thành và 10.000 tháp canh hay truyền tin riêng biệt khác, số gạch đá của trường thành có thể xây dựng mười bức tường dày 1 m, cao 5 m vòng quanh trái đất.
     Tuy nhiên, trong thực tế, Vạn lý trường thành là một từ chung để gọi nhiều bức tường dài, xây dựng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử Trung Quốc. Từ đầu, trường thành không khác gì hơn là một công trình phòng thủ: đánh dấu ranh giới của nền văn minh. Đặc điểm Trung Hoa ở trường thành cũng mang đặc điểm thành phố, trường thành đánh dấu một đơn vị hành chính, tách biệt một nước Trung Hoa nông nghiệp, có tổ chức với tình trạng man rợ, vô tổ chức của các bộ tộc du mục thảo nguyên.
      Khi vị Hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa năm 221 TCN, ông ra lệnh cho viên tướng Meng jian phải nối liền và mở rộng một loạt các đoạn thành trước kia, do các nhà nước mà ông xâm chiếm xây dựng để lập thành một tường chắn liên tục chống lại các bộ tộc cướp phá ở vùng biên giới phía Bắc và Tây Bắc.
     Sự gian khổ và hy sinh trong việc xây dựng Vạn lý trường thành đầu tiên này được đề cập đến rất nhiều trong thơ ca và truyền thuyết. Hơn 300.000 người bị bắt lính kể cả binh lính, nông dân, quan chức bị thất sủng, tù binh và học giả bất tuân mệnh lệnh "phần thư khanh nho" (đốt sách giết kẻ sĩ).
   Làm việc ở những vùng núi non hay sa mạc, trong cái nóng và lạnh cực độ, không đủ lương thực hay chỗ ở, người ta nói cứ xây dựng mỗi mét thành là có một người phải bỏ mạng. Từ lâu, trường thành phản ánh sức mạnh của Trung Hoa và thái độ của nước này đối với các bộ tộc du mục láng giềng. Trong thời điểm cùng tồn tại hoà bình, người ta xao lãng và để cho trường thành hư nát, lúc ấy các láng giềng của Trung Hoa hùng mạnh và thù địch, nên mới xây dựng lại trường thành như một công trình phòng thủ đối phó với các dân tộc có tài cưỡi ngựa điêu luyện ở vùng thảo nguyên.
   Nhà Hán (221 TCN), mở rộng trường thành đến mức dài nhất xưa nay, xây dựng một thành vòng về phía Tây để bảo vệ hành lang Hexi ở Gasnu, lối vào Con đường tơ lụa băng qua Trung Á.
    Nhiều tường thành sau này do các dân tộc không phải Trung Hoa xây dựng, những người đã chiếm đóng miền Bắc Trung Hoa, muốn tự bảo vệ mình trước các đợt xâm lược mới của kẻ xâm lăng.
    Hầu hết trường thành còn đến ngày nay đều được xây dựng từ thời nhà Minh (1368-1644). Uốn lượn dọc theo đỉnh núi, chiều rộng chân thành 6 m, cao khoảng 6 đến 8,7 m.  
    
    Đường đi dọc theo các thành luỹ, lót bằng bốn lớp gạch, tường có lỗ châu mai xây cao để chống sườn ở cạnh ngoài, trong khi bờ công sự xây ở cạnh trong, chiều rộng đủ cho năm ngựa chạy song song.Ở các đèo và trong thung lũng, xây thêm tường thành phụ để làm công trình phòng thủ bổ sung.
     Tháp canh, đặt cách khoảng 70 m, được xây bậc thang bằng đá đi lên, có nhiều đường dốc đều đặn dẫn lên tường thành dùng cho ngựa.

Từ ngoài Trái đất

Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc trong một hình radar màu giả chụp từ phi thuyền không gian vào tháng 4, 1994
Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc trong một hình radar màu giả chụp từ phi thuyền không gian vào tháng 4, 1994


Đã có một sự tranh cãi từ lâu về việc bức tường thành sẽ thế nào nếu nhìn từ vũ trụ. Quan điểm rằng nó có thể được nhìn thấy từ vũ trụ có vẻ xuất hiện trước khi có các chuyến bay của con người vào vũ trụ.

Trong cuốn sách Cuốn sách thứ hai về những kỳ quan của Richard Halliburton năm 1938 có nói Vạn Lý Trường Thành là vật nhân tạo duy nhất có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, và một truyện tranh tên là "Tin hay không tin của Ripley" ở thời gian đó cũng đưa ra tuyên bố tương tự. Niềm tin này kéo dài và trở thành một truyền thuyết đô thị, thỉnh thoảng thậm chí xuất hiện cả trong những cuốn sách giáo khoa. Arthur Waldron, tác giả cuốn lịch sử Vạn Lý Trường Thành đáng tin cậy nhất trong mọi ngôn ngữ đã chỉ ra rằng sự tin tưởng vào việc Vạn Lý Trường Thành có thể nhìn thấy được từ mặt trăng cũng giống như sự phấn khích của một số người khi tin rằng có những "kênh đào" trên bề mặt Sao Hỏa vào cuối thế kỷ 19. Trên thực tế, Vạn Lý Trường Thành đơn giản là không thể nhìn thấy bằng mắt thường nếu không có công cụ hỗ trợ từ Mặt Trăng, chưa nói đến nhìn từ Sao Hỏa.

Khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng khoảng một nghìn lần lớn hơn khoảng cách từ Trái Đất đến con tàu vũ trụ bay trên quỹ đạo gần Trái Đất. Nếu Vạn lý trường thành có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, thì sẽ dễ dàng nhìn thấy nó từ quỹ đạo gần Trái Đất. Trên thực tế, từ quỹ đạo gần Trái Đất, nó rõ ràng là hơi thấy được, và chỉ trong những điều kiện tốt. Và nó cũng không rõ rệt hơn nhiều vật thể khác do con người tạo ra.

Một nhà du hành tàu con thoi thông báo rằng "chúng tôi có thể thấy những vật nhỏ như những đường băng sân bay [nhưng] Vạn Lý Trường Thành hầu như không nhìn thấy được từ khoảng cách 180 dặm Anh (290 km) trở lên." Nhà du hành vũ trụ William Pogue cho rằng ông đã thấy nó từ Skylab nhưng phát hiện ra rằng trên thực tế ông đang nhìn vào Đại Vận Hà gần Bắc Kinh. Ông phát hiện ra Vạn Lý Trường Thành với ống nhòm, nhưng nói rằng "nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường không có thiết bị hỗ trợ." Một nhà du hành trong chương trình Apollo đã nói không một cấu trúc nào của con người có thể nhìn thấy từ khoảng cách vài nghìn dặm. Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Jake Garn tuyên bố có thể nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành bằng mắt thường từ trên quỹ đạo của tàu vũ trụ đầu thập kỷ 1980, nhưng tuyên bố của ông còn đang bị nhiều nhà du hành vũ trụ chuyên nghiệp khác của Mỹ phản đối. Nhà du hành vũ trụ Dương Vĩ Lợi người Trung Quốc sau 21,5 giờ bay vòng quanh Trái Đất đến 14 lần, trở lại mặt đất đã xác minh trên truyền hình là không nhìn thấy được Vạn Lý Trường Thành từ không gian. Điều này dẫn đến việc Trung Quốc phải đính chính lại sách giáo khoa đã đăng thông tin này.

Từ quỹ đạo Trái Đất tầm thấp nó có thể được nhìn thấy với điều kiện thời tiết tốt. Điều này giống như việc có thể thấy các đặc điểm của Mặt Trăng ở những thời điểm nhất định và không thấy chúng vào những thời điểm khác, vì sự thay đổi trong hướng ánh sáng. Vạn Lý Trường Thành chỉ rộng vài mét — kích thước tương đương với đường xa lộ và đường băng — và nó đồng màu với đất đá xung quanh.

Cựu phi hành gia Mỹ Gene Cernan đã nói: "Ở quỹ đạo Trái đất từ 10km đến 320km, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc quả thực là có nhìn thấy được bằng mắt thường." Ed Lu, Sĩ quan khoa học Expedition 7 trên Trạm vũ trụ quốc tế, nói thêm rằng, "...nó còn khó nhìn hơn nhiều vật khác. Và bạn phải biết cách tìm nó ở đâu."

Leroy Chiao, một nhà du hành người Mỹ gốc Hoa, đã chụp một bức ảnh từ Trạm vũ trụ quốc tế có hình bức tường thành. Nó không rõ đến mức mà ông không biết có phải đã thực sự chụp nó không. Dựa trên bức ảnh đó, một tờ báo nhà nước của Trung Quốc đã kết luận rằng Vạn Lý Trường Thành có thể được nhìn thấy từ vũ trụ bằng mắt thường, trong những điều kiện quan sát tốt, nếu người ta biết chính xác phải nhìn ở đâu .

Publié le 30/05/2008 à 00:38
Par clb-vh




PHƯỢNG TÍM
Thơ Tôn Thất Phú Sĩ
                               
TRANG BLOG CÁ NHÂN 
VUI CHƠI  TRONG THỜI GIAN
NHÀN RỖI CỦA TUỔI VỀ HƯU



MỜI VÀO ĐÂY VỚI TÌNH THÂN ÁI



Ne me quitte pas
La dernière valse
Une histoire d'amour
Une femme amoureuse
Paris en colère


Hồng Vân ngâm
Xuân Trường  nhạc



SAIGON NĂM XƯA

The Blue Danube
Click

http://www.diendandotien.net/sitebuilderconten
GIÒNG SÔNG XANH - THÁI THANH



NHỮNG BẢN NHẠC ĐEO ĐUỔI TÔI SUỐT MỘT ĐỜI


Hội Nghị Diên Hồng

Vó câu muôn dậm
Bóng cờ lau
 Ải Chi Lăng
Chiến sĩ vô danh 
Khoẽ vì Nước

Lên đàng
Đoàn Quân đi
Bach Đằng Giang
Khúc khải hoàn ca
Đêm Mê Linh
Thúc quân

BÀI ĐỌC TRONG THÁNG
MAI-2008


ÐỨC PHẬT

DONG DAT TAĐỘNG ĐẤT TẠI TRUNG CỘNGI TRUNG CONG
ANH BIẾT EM ĐI CHẴNG TRỞ VỀ - VŨ KHANH
Jambalaya (On The Bayou)
ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN  2552-2008 Tại Chùa KHÁNH ANH
Nhớ Về Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa
 SỬA ĐẶC CÓ ĐƯỜNG
 TRUNG CỘNG : NGƯỜI HẠI KHÔNG BẰNG TRỜI HẠI

COCA COLA
MUNMỤN RUỒI VÀ UNG THƯ RUOI
ALEXANDRE YERSIN
TIEN THƠN CẢ TIỀN TÀI VÀ TUỔI THỌTUOI THO
G Ư Ơ N G   S Á N G   T I Ề N   N H Â N
Hillary Clinton và Barack Obama
PHO TONG THONG MY ?
CO VAN TRANH CU CUA OBAMA
CHE DONGÀNH GIÁO DỤC CỦA CHẾ ĐỘ XHCN XHCN
RAURau Má Và Bệnh Thấp Khớp

MA

PHU VAN LAU-HUE
      
Sài Gòn đang trở lại với VIỆT NAMGON
TRAI  TRÁI DỨA - TRÁI THƠM DUA

ĐẢNG CƯỚP RUỘNG ĐẤT
CA DAO TUC NGU THOI VC
MỆT
BS Nguyễn văn Hoàng


Thánh Gioan Báptít Rossi

SINH HOẠT NHÀ MAY MẮN


Nụ Cười

Chiến lược trên mặt biển của Hải quân Trung quốc
Sự thật về vụ án báo chí Việt Nam
TRANG NHÀ TRẦN BÌNH NAM


http://wwwmariadoitoi.
HÀI KỊCH
CHUNG MỘT MÁI NHÀ

org/cl/ChungMotMaiNha.html


http://video.aol.com/video-detail/
ĐỌC BÁO VẸM
doc-bao-vem-59-part-1/2669568802



http://siph       TIẾNG HÁT SĨ PHÚ blogspot.com/
ANH VỀ THỦ ĐÔ
Only Love Is Real - Broken Hearted Woman - That is Love
Dòng Sông Cũ - La Maritza -Sylvie Vartan
Ga chiều
Tuổi học trò 
Em chờ anh trở lại 
Tiếng sáo chiều quê 
Histoire_D'un_Amour_Dalida.wma
Những Bước Chân Âm Thầm


1930-2008

Click vào hình Cố NS Trịnh Hưng
Paris 16 - 05 -2008
Ngày Anh vĩnh viễn về với cõi thơ và nhạc







Năm 20
Tuổi đẹp nhất trong đời
1942-2008 ...?

TUOI 20
SINH NHẬT LỤC TUẦN

  
http://honqucom/2008_DVD/B

enDoi_KThanh_TTPSi/BenDoi.html

 DVD THI TẬP BẾN ĐỢI
  
Click vào hình
THO

TON THAT PHU SI

Click vào hình
 
XIN ĐỌC TIẾP CÁC MỤC SAU

THÁNG  5    NGÀY LỂ   MẸ
  THÁNG 5-THỜI SỰ-TIN TỨC
THÁNG 5-TRANG CÁ NHÂN
LUU  TRU   AVRIL - 2008 
LUU TRU     MARS - 2008
LUU TRU FEVRIER -2008
LUU TRU JANVIER -2008
Click


1942


1966

2004
Đi Tìm vần thơ


1964


VN 2003
PS - Thầy Tòng


Phusi va Co Giao LIEU
2006
Paris

Publié le 29/05/2008 à 21:55
Par clb-vh

Trái Dứa

 
   
      Tại một số quốc gia trên thế giới, Trái Dứa là biểu tượng của sự hân hoan đón tiếp và lòng hiếu khách. Dứa đã được trang trí trên các cánh cửa ra vào chính, trên tường và ngay cả trong nhà, trên các kỷ vật bằng kim loại, gốm, sứ hoặc bàn ghế gỗ quý.

    Khi mới du nhập Âu châu, Dứa được coi như quý hiếm, nên được trồng trong các phòng khách rất trân trọng. Đầu thập niên 1700, thương gia người Pháp La Cour là người tiên khởi thành công ở Âu châu khi trồng dứa trong một căn nhà kiếng, để làm cảnh cũng như để lâu lâu thưởng thức.
Lịch sử
    Dứa là trái cây của miền nhiệt đới, có nguồn gốc từ các quốc gia Brazil, Paraguay ở Trung và Nam Mỹ. 
    Khi Christopher Columbus (1451-1506) thám hiểm Mỹ châu, thấy dứa trồng ở quần đảo Guadeloup rất ngon, bèn mang về triều cống nữ hoàng Tây Ban Nha Isabella Đệ nhất. Từ đó, dứa được đem trồng ở các thuộc địa của Tây Ban Nha, nhất là các quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương như Phi Luật Tân.
Tiếng Anh của Dứa lá Pinapple. Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha thấy trái dứa nom giống như cái chóp quả thông, bèn đặt tên là “Pina”. Người Anh thêm chữ “Apple” để nói rõ hơn về tính cách ngọt dịu, ăn được của trái này.
    Tiếng Việt còn gọi Dứa là trái Thơm, có lẽ vì hương thơm dìu dịu thoát ra từ trái dứa vừa chín tới.
Trồng dứa
    Cây dứa thân ngắn, lá dài và cứng với gai mọc ở mép, quả có nhiều mắt; phía trên có một cụm lá. Thực ra, trái dứa không phải là một trái đơn điệu, mà là một tập hợp của cả trăm bông hoa (sorosis) kết tụ trên một cái cuống mà thành.
   Nông trại trồng dứa quy mô lớn đầu tiên trên thế giới được thiết lập ở Hawai vào năm 1885. Quần đảo này dẫn đầu về sản xuất dứa trên thế giới cho tới năm 1960. Sau đó, Phi Luật Tân là nước trồng nhiều và xuất cảng nhiều nhất. Các quốc gia khác ở Đông Nam Á châu cũng sản xuất một khối lượng dứa khá lớn.
  Nhờ kỹ thuật canh tác hàng loạt nên nhu cầu dứa được cung cấp đầy đủ với giá phải chăng.
   Dứa có quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào tháng 3 tháng 7. Trung bình thời gian từ lúc trồng tới lúc thu hoạch là 18 tháng. Trước khi hái, dứa được thử để ước tính lượng đường của trái. Dứa thường được hái khi đã chín nên sẵn sàng để ăn.

Hái khi hãy còn xanh, dứa sẽ không chín tiếp vì không có đủ tinh bột để chuyển thành đường. Do đó, không nên để dành chờ dứa chín mà dứa sẽ hư thối dần.
   Tại Hoa Kỳ, có hai loại dứa phổ thông là dứa Cayenne dài, vỏ mầu vàng trồng ở Hawai và dứa Red Spanish ngắn hơn vỏ nâu đỏ trồng ở tiểu bang Florida và Puerto Rico.
Ở Việt Nam, dứa được trồng rất nhiều ở Phú Thọ, Ninh Bình, Lâm Đồng, Long An, Kiên Giang, Cần Thơ. Dứa Bến Lức vẫn nổi tiếng khắp miền Nam.
Mỗi trái dứa có thể nặng khoảng từ 1/2kg tới 3 kg.
Dinh dưỡng
    Dứa có nhiều sinh tố C, chất xơ pectin và chất gum. Thành phần dinh dưỡng của 100gr dứa:
 
Độ ẩm
81.3-91.2 g
Tinh chất Ether
0.03-0.29 g
Chất xơ
0.3-0.6 g
Nitrogen
0.038-0.098 g
Tro
0.21-0.49 g
Calcium
6.2-37.2 mg
Phosphorus
6.6-11.9 mg
Iron
0.27-1.05 mg
Carotene
0.003-0.055 mg
Thiamine
0.048-0.138 mg
Riboflavin
0.011-0.04 mg
Niacin
0.13-0.267 mg
Ascorbic Acid
27.0-165.2 mg

      Dứa còn có chất bromelain, một loại enzyme thủy phân protid giống như papain của đu đủ, có tác dụng làm mềm thịt và cho thịt vị thơm ngon. Br cũng hay gây ra dị ứng da cho người tiêu thụ. Dứa đóng hộp còn giữ được sinh tố C nhưng bromelain bị hơi nóng thiêu hủy.

Ăn dứa
     Dứa tươi có hương vị nồng ngọt, rất thích hợp để làm món tráng miệng kích thích tiêu hóa hoặc làm món ăn vặt.
Miếng dứa phía đít, gần phía gốc thường ngon hơn phần khác, vì như kinh nghiệm của ông cha ta là “dứa đằng đít, mít đằng cuống”.
    Sau khi gọt vỏ, khía xéo để bỏ mắt, dứa được bổ dọc làm tám hoặc cắt khoanh tròn mỏng vừa phải, rắc thêm một nhúm đường, bỏ tủ lạnh độ 15 phút rồi mang ra ăn thì tuyệt hảo. Nước dứa hòa với đường ngọt húp vào lạnh mát cả người. Nhiều người lại thích chấm dứa với tí muối ớt, ăn vừa ngọt, vừa mặn, hơi cay, rất thỏa mãn khẩu vị.
   Dứa còn dùng để xào nấu với thịt cá. Món canh chua cá lóc, dứa xanh thêm vài ngọn ngổ thì cơm ba nồi cũng hết. Khi nấu, hơi nóng làm mềm dứa vì chất cellulose tan rã, dứa hút gia vị và chất ngọt của thịt cá.
    Một đĩa sà-lách trộn thập cẩm thêm vài miếng dứa thái nhỏ ăn càng ngon.
Nướng gà, nướng cá mà nướng kèm theo mấy lát dứa là một hỗn hợp món ăn hấp dẫn. Vừa vị ngọt của thịt vừa vị ngọt của trái cây. Dứa mau chín, cho nên đợi khi thịt cá gần chín hãy đặt dứa lên vỉ.
    Năm 1892, một người Anh là Đại úy John Kidwell lần đầu tiên sản xuất dứa đóng hộp. Dứa thường được hái khi đã chín mùi, mà phải chuyên chở xuất cảng đi xa, mau hư nên được đóng hộp cho dễ di chuyển. Dứa đóng hộp là dứa đã chín từ dưới cuống trở lên, nên thường cần đến ba quả dứa mới được một hộp dứa có phẩm chất tốt. Dứa hộp được thêm nước đường để bảo quản nên có nhiều calori.
Ngoài ra còn dứa sấy khô hoặc nước dứa ép cũng là những món ăn thức uống ngon, bổ.
Công dụng y học
   Đông y coi dứa như có vị chua ngọt, tính bình, có tác dụng giải nhiệt, hỗ trợ tiêu hóa, tránh táo bón.
-Diếu tố bromelain trước đây được lấy ra từ nước chiết dứa. Ngày nay chất này cũng được chiết ra từ cuống dứa. Diếu tố này được giới thiệu là có thể trợ giúp cho sự tiêu hóa thực phẩm, nhất là thịt cá, làm giảm sưng tế bào mềm khi bị thương tích hoặc giảm viêm sau giải phẫu.
-Nước rễ dứa là chất lợi tiểu tiện rất tốt.
-Xúc miệng bằng nước trái dứa làm giảm cơn đau viêm cuống họng.
-Thổ dân Indians ở Panama dùng nước dứa để tẩy ruột, loại trừ sán lải.
-Nước lá dứa non làm hạ nóng sốt.
Cắt bổ dứa
    Đây cũng là cả một nghệ thuật vì phải cắt làm sao cho sạch hết mắt dứa mà vẫn giữ được phần thịt ăn được của dứa.
Trước hết, đặt trái dứa nằm trên thớt cắt bỏ phần cuống của trái rồi cắt bỏ một khoanh mỏng ở đầu và đít trái. Dựng đứng trái, cắt dọc để bỏ phần vỏ. Gọt vừa phải để tránh mất hết thịt.
Trên trái dứa vẫn còn nhiều mắt cần loại bỏ. Có thể dùng dao sắc khía vòng xéo trên trái dứa hoặc dùng một dao nhọn cậy bỏ mắt dứa.
Sau đó, cắt dứa theo chiều ngang hoặc dọc thùy theo ý thích hoặc tùy theo định dùng vào việc gì. Giữa trái dứa có phần lõi nếu mềm có thể ăn được, nhưng thường thường đều cứng, có thể cắt bỏ.
Lựa, Cất giữ Dứa
    Mua dứa tươi lựa trái to, nặng nước, toát ra mùi thơm của dứa còn tươi chứ không phải đã lên men, lá trên cuống còn xanh. Dùng ngón tay gõ, dứa phát ra một âm thanh đặc, quả dứa cầm thấy chắc tay, không chỗ nào mềm hoặc dập vỡ. Vỏ dứa có thể hơi xanh hoặc vàng tùy loại cũng không sao. Nhiều người cho rằng, khi dễ dàng kéo lá rời khỏi cuống là dứa chín tới, nhưng điều này cũng không luôn luôn đúng. Tránh mua các trái dứa nom có vẻ khô già, nhăn nheo, mắt thâm đen, lá úa vàng.
Mặc dù có vỏ cứng nhưng dứa rất dễ hư hao, dập nát và mau lên men nếu để ở ngoài không khí quá lâu. Do đó nên dùng sau vài ba ngày. Muốn để dành dăm ngày, bọc dứa trong túi nhựa có lỗ rồi cất trong tủ lạnh.
Sau khi gọt cắt mà chưa ăn, bọc kín và cất dứa trong tủ lạnh và dùng trong vòng 5 ngày.
Dứa hộp có thể để dành ngoài không khí, nơi mát và khô khoảng 1 năm. Nếu ăn không hết, nên để trong tủ lạnh với nước dứa phủ kín.
Lưu ý
    Dứa là món ăn rất lành và bổ dưỡng.
Tuy nhiên, đôi khi dứa có thể gây dị ứng nhẹ ở da vì có chất bromelain.
Tại các tiệm bán “thực phẩm tốt” Health Food có bán viên Bromelain và được giới thiệu là chữa được bệnh tim, phong khớp, viêm xoang, viêm nhiễm đường tiểu tiện, trật gân, bong gân và vài bệnh khác. Tuy nhiên chưa có chứng minh khoa học đối với các tác dụng này. Cũng nên nhớ bromelain là một enzyme không cần thiết.
   Dùng chung với kháng sinh như Amoxicillin, tetracycline, chloramphenicol, bromelain có thể gia tăng sự hấp thụ các kháng sinh này và làm cho mức độ thuốc trong máu lên cao.
   Dứa có chất tyrosine. Một vài u bướu hạch nội tuyến cũng tiết ra nhiều tyrosine. Nên mấy ngày trước khi thử máu tìm u bướu này lại ăn dứa thì thử nghiệm có thể sai lệch, cho kết quả dương tính mà thực ra không có.
   Một vài báo cáo khoa học cho hay là trên mắt vỏ dứa có một hóa chất không tốt cho sức khỏe. Vì thế, tốt nhất là nên tránh ăn mắt dứa.
Khi còn xanh, dứa không những không ăn được mà đôi khi gây ra kích thích cuống họng và tiêu chẩy.
Ăn quá nhiều lõi dứa có thể tạo ra cục chất xơ trong ruột.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Texas-Hoa Kỳ

__._,_.___
Publié le 28/05/2008 à 16:36
Par clb-vh



 

Sài Gòn đang trở lại với VIỆT NAM


Nguyễn Giang


Trên chuyến bay ra Bắc, tôi mở tạp chí Heritage của Vietnam Airlines ra đọc và ngạc nhiên thấy địa danh Sài Gòn được dùng rất tự nhiên, như thể đấy mới là tên gọi chính thức của đô thị lớn nhất Việt Nam.

Không kể bài về khu Nam Sài Gòn, các bài khác về chủ đề văn hóa, xã hội đều gọi Sài Gòn một cách bình thường. Thậm chí có bài song ngữ, phần tiếng Việt viết "Sài Gòn" còn bản tiếng Anh lại để là TP Hồ Chí Minh.

Ra đến Hà Nội, ngồi lên taxi thấy ngay trước mặt dòng chữ "Taxi Sao Sài Gòn" và nghe người lái hỏi: "Anh ở Sài Gòn ra?". Đi qua ga Hàng Cỏ thấy dòng chữ chạy trước mắt trên bảng điện tử: "Tuyến tàu Hà Nội - Sài Gòn".

Ta đi Sài Gòn

Gần như chính thức cái tên Sài Gòn cũng trở lại mặt báo, trên truyền thông, trong giao thông công cộng. Chỉ có đi máy bay thì vẫn nghe đều đặn "Hàng khách đi chuyến bay VN...đi TPHCM ra cửa số...".

Phải chăng tàu hỏa thì bình dân hơn nên dễ "Sài Gòn hóa" hơn phi cơ vốn nhiều quan chức bay đi bay lại? Nhưng ra khỏi Việt Nam hay bay về nước thì lại thấy ngay ký hiệu chuyến bay từ lâu nay vẫn là SGN. Lịch sử quả là kỳ lạ.

Thực ra, theo tôi biết, việc dân chúng sống ở phía Nam và nhất là trên địa bàn TPHCM đã có những cách dùng hai chữ Sài Gòn hay gọi tên thành phố này theo kiểu riêng của họ từ lâu nay.

Nhưng tại Hà Nội, việc Sài Gòn trở lại trong ngôn ngữ và báo chí, văn hóa có phần mới và đậm nét đáng chú ý.

Nếu để ý kỹ thì sẽ thấy việc dùng cách tên ngoại tỉnh hay ngoại quốc ở Hà Nội là một trào lưu có từ mấy năm nay.

Tâm lý "thương nhớ đồng quê" - một chỉ dấu về gốc tích làng xã của nhiều người sống ở thủ đô, được thể hiện trong các biển hiệu: "Gà đồi, lợn Mán, cơm quê", "Vịt Lạng Sơn", "Gà Mạch Hoạch", (có chỗ viết là Mạnh Hoạch), hay các món "cơm niêu", "cháo cá".

Rồi gần thì bánh cuốn Thanh Trì, rượu làng Vân, xa thì quán Huế, phở Nam Định, mì Quảng...cũng Việt Nam ta cả thôi nhưng nghe cũng khoái khẩu ra phết. Xa và lạ hơn chút nữa thì "Lẩu Tứ Xuyên", "Bia Đức, Xúc-xích Tiệp" đủ kiểu.

Ngoài ra, cứ ngồi trên taxi lúc kẹt xe mà nhìn biển phố thì còn thấy đủ kiểu cách ghép thương hiệu, biển hàng pha trộn Âu-Á hoặc chơi nguyên tiếng Anh, tiếng Pháp. Nào Cà phê Honey, Laptop Khoa Nam, Phở Bò nằm cùng Games o­nline.

Xuyên vùng văn hóa

Một nhịp của toàn cầu hóa chính là việc tự kiến tạo bản sắc của mỗi người hay từng nhóm người qua sinh hoạt, tiêu dùng, dựa vào những nhãn hiệu, thương hiệu tự chọn, tự chế biến. Tính cách xuyên vùng văn hóa là một trào lưu không tránh khỏi.

Trong bối cảnh đó, tôi tin rằng nhãn hiệu Sài Gòn có vẻ như được dùng để mô tả những gì có phần mới lạ, hiện đại hơn những thứ vịt gà hay cơm cháo kể trên.

Nó nằm trong dòng trở lại những cái tên thời Pháp, thời Mỹ mà người nước ngoài dùng để đặt cho khu vực này. Cứ để ý sẽ thấy những chữ như Indochine, thậm chí Tonkin hay Orient nay được dùng khá nhiều trong mảng liên doanh, đầu tư du lịch.

Nhưng cách dùng hai từ Sài Gòn không chỉ có vậy.

Theo tôi, trong trái tim người Hà Nội và những người mang tâm thức Bắc Hà chân chính, Sài Gòn luôn chiếm một vị trí đầy tình cảm. Cảm giác vừa tự hào vì đó là miền đất cha ông gây dựng được, vừa thương, vừa nể, vừa mặc cảm có lỗi gì đó với Sài Gòn, nhất là vì giai đoạn sau 1975, luôn bâng khuâng trong tâm trí.

Kể từ thời Pháp, rồi sang đến thời đất nước bị chia làm hai, Sài Gòn là nơi người Bắc hướng đến.

Trong làn sóng mở cửa, người Hà Nội, cả gốc Hà thành và những người đến sống một hai thế hệ nhưng hấp thụ văn hóa Thăng Long, đã và đang chứng kiến một cuộc xâm nhập ào ạt, nóng hổi thời Đổi Mới của quan chức và người dân các tỉnh. Lúc đó, họ lại càng thầm thông cảm với tâm trạng của người Sài Gòn sau 1975.

Bây giờ dù mức sống hai thành phố đã không còn khoảng cách xa như thập niên 70, với người Hà Nội thì Sài Gòn xưa và nay, vẫn đậm chất Pháp, chất Mỹ và nét miền Nam ngày trước.

Với cả nước, đây vẫn là cửa ngõ lớn nhất hướng sang Hoa Kỳ vì chỉ người Sài Gòn mới thực sự có liên hệ gia đình đông đảo với khối Việt Kiều ở Bắc Mỹ, còn quan hệ với Phương Tây của Hà Nội vẫn nặng tính quan chức, ngoại giao.

Nhưng cũng phải nói rằng trong tình cảm dành cho Sài Gòn, người Hà Nội cũng có đôi điều ghen tị pha lẫn tự hào riêng về phong cách người ta cho là thuần Bắc.

Ý thức hệ cộng sản - tư bản và cuộc chiến vài chục năm trước giữa hai chính thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình bản sắc hai thành phố. Chính vì thế, người ta đã phản ứng mạnh trước những lời chê bai Hà Nội một cách thô ráp của một cô bé blogger từ Sài Gòn ra hồi 2007.

Chính trị Việt Nam là chính trị Hà Nội và sẽ còn như thế trong nhiều năm tới. Nhưng theo tôi, sự cạnh tranh, đi cùng giao lưu giữa hai đô thị này sẽ còn tăng, với Sài Gòn trở thành một điểm đối trọng quý báu và cần thiết.

Và như sự trở lại Hà Nội một cách tự nhiên của cái tên Sài Gòn cho thấy, việc xích lại gần nhau không đến từ những mệnh lệnh chính trị, mà từ sinh hoạt của người dân, từ các dòng chảy của văn hóa của ẩm thực sôi động.

Ra phố Vọng buổi tối, thấy tấm biển sáng choang "Tẩm quất Sài Gòn" thì tôi cũng "choáng" luôn. Đấm bóp kiểu Sài Gòn là kiểu gì thế, có đê mê hơn kiểu Thanh Hóa hay Nghệ Tĩnh? Hai chữ Sài Gòn đã đi vào tận da thịt người Hà thành thế này thì chỉ còn cách ngả mũ chào sức sống dân gian!

Nguyễn Giang

Pages : 1 2 3 4 5

Mes catégories
Mon calendrier
< Mai. 2008 >
L M M J V S D
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
Trafic
Noter ce blog :
1 5
4481 connectés
45305 visiteurs