|
Publié le 12/07/2008 à 21:05
Par clb-vh
  BUỔI SÁNG ĐI DẠO BỜ SÔNG SEINE htt p:/http://www.thongdvd.com/hongtuyet/buoi_sang_di_dao_bo_song_SEINE. pps SLIDE SHOW / Mỗi sáng tôi thường hay đi dạo Ven bờ sông Seine ướt sương rơi Con sông êm ái bao tình nghĩa Tôi đã cưu mang cuối nửa đời Nơi đây không có con đò nhỏ Chở khách sang ngang để hẹn hò Nhà Bè lất phất chùm mưa bụi Bến Thủ Thiêm vang vọng âm xa Con sông xưa êm đềm xuôi chảy Con sông này tóc rối vàng bay Tôi đi ... đi mãi lòng vô định Làm nhân tình đợi môt vòng tay Dòng nước uốn quanh qua thành phố Paris bừng dậy sống trong thơ Chao ôi sao nhớ SaiGon lạ Lẵng lặng mà mơ bóng ai chờ Từ độ sông SEINE vào xây mộng Tôi bỗng thấy lòng nở nụ hoa Quê tôi thương quá dòng sông nhỏ Quay quắt trong tôi nỗi nhớ nhà
Tôn Thất Phú Sĩ Paris * 18-02-2007 Mồng 1 * TẾT ĐINH HỢI
IN THE MORNING I WALKED ALONG THE SEINE RIVER Each morning I used to wander
Along Seine riverside wetted by dew The calm river with how much affection I born it in late half a life. Here there was no more a small boat
Transporting passengers crossing the river for date Nha Be sparse dusty rain Thu Thiem terminal echoed a certain sound. The old river so calmly ran
This river witnessed yellow hair flying I went... with an undetermined mind For a lover waiting for an embrace. Serpentine water course passed through city
Paris awake lived in poetry Alas! How much I strangely miss Saigon Silent but waiting for a certain shadows waiting. Since Seine river entered building dreams
Suddenly I found inside bud flowering My native land so much I loved the small river Around my heart was a nostalgic feeling. RGC 20-02-2007

|
Publié le 12/07/2008 à 00:19
Par clb-vh
NGÀY VỀ
Cầm tờ giấy ra trại mà tưởng mình đang mơ. Chúng tôi một toán 13 người ngồi quanh trong một cái láng ( phòng ) lợp tranh nhỏ cạnh bìa rừng. Tên Công An Quản Giáo đang lên lớp : - Nhân Dân xét thấy trong thời gian Cải Tạo, các anh có vài tiến bộ, học tập chính trị và lao động tốt, nên ngày hôm nay với chính sách khoan hồng của Cách Mạng, các anh được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa cho các anh về. Các anh về phải trình diện Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố , nơi đây sẽ Quản Lý các anh. Hành lý chúng tôi mỗi người chỉ có một cái võng, vật dụng linh tinh tự chế như chén, lon , muổng , đũa ..., một cái mền cũ và 5 kg khoai mì được nhà nước cấp cho để bồi dưỡng trên đường về . Vi không có áo quần tươm tất , 6 năm khốn khổ đã rách tả tơi , tôi đành phải mặc bộ áo quần Cải Tạo màu nâu, phía sau có hàng chữ đỏ CT5.. ( Cải Tạo khu 5 / Đội 2 ) . Đành vậy thôi, mặc dù có vài Công An Quản Giáo hăm doạ “ các anh coi chừng Nhân Dân biết các anh là Nguỵ Quân Nguỵ Quyền đầy nợ máu, người ta sẽ ném đá các anh”. Tôi nghĩ thầm , dù sao vẫn còn lối thoát , hơn là sống trong tù. Chúng tôi cũng nhiều phần không tin lời tên công an, nhận xét thấy rằng trong thời gian đi lao động, một đôi lần gặp dân, tuy bị cấm ngặt không được liên hệ, họ vẫn len lén vất cho vài củ khoai, vài trái chuối, tuy họ rất lam lũ và quá nghèo. Chúng tôi an tâm phần nào . Nhìn bao khoai mì ( thực phẩm chỉ có vậy thôi), đường về xa thăm thẳm, làm sao nấu nướng, anh Nuôi trại tù, đề nghị mua phần khoai mì này cho heo ăn với giá 6 đồng một kg . Chúng tôi đành phải bán cho nhẹ hành trang . Với ba mươi đồng chúng tôi có thể ăn được một tô phở không người lái và mua thêm một ổ mì, anh nuôi nói vậy. Lấy gì ăn trên đoạn đường về nhà đây? Thôi thì tới đâu hay tới đó, miễn thoát khỏi chỗ này rồi tính , chúng tôi ai cũng nghĩ vậy. Lần đầu tiên nhìn thấy tiền miền Bắc, (theo luật lệ của trại thì cải tạo viên không được giữ tiền), chúng tôi buồn cười :“ sau hơn 6 năm lao động cho xã hội chủ nghĩa, mình được một số tiền 30 đồng cụ Hồ, biết chừng đâu mình sẽ trở thành Tư sản, rồi lại bị đấu tố thì sao”?. Nghĩ tếu cho vui vậy thôi chứ lòng chúng tôi ai nấy cùng hồi hộp, nôn nóng, nghĩ đến chốc nữa đây sẽ được trở về bên mẹ cha, bên vợ con, bên gia đình và lòng lâng lâng một niềm vui khôn tả. Tôi đang mơ nhè nhẹ bước vào nhà, mọi người không ai biết ... Tôi chợt thấy nước mắt mình ứa ra tự lúc nào , không dám tưởng tượng cái sự thật tôi đang có vì mới cách đây vài giờ tất cả đều ngoài tầm tay. Thực hay mơ, nghĩ cho cùng, có lẽ mình giống như chết đi sống lại .. Chiều hôm nay, rừng núi miền Bắc đầy tiếng chim kêu, ánh nắng chiều chan hoà reo vui trong gió. Trong cái ngút ngàn vô cùng tận của đất trời, tôi mơ ... mơ những nụ hôn, những vòng tay, những lời chan chứa ân tình của một ngày về :
Trên đường về nhớ đầy; Chiều chậm đưa chân ngày. Tiếng buồn vang trong mây. Tiếng buồn vang trong mây.
Chim rừng quên cất cánh. Gió say tình ngây ngây Có phải sầu vạn cổ. Chất trong hồn chiều nay. Chất trong hồn chiều nạy
Tôi là người lữ khách . Màu chiều khó làm khuây . Ngỡ lòng mình là rừng . Ngỡ hồn mình là mây .... http://chimvie2.free.fr/amnhCHIỀU - HỒ DZẾNH - DƯƠNG THIỆU TƯỚC -KHÁNH LYmp3 Click here  Tôi hát khe khẽ cho tôi nghe bài thơ Chiều của Hồ Dzếnh ai đó đã phổ nhạc như chính lòng tôi đang phổ nhạc. Theo chương trình, chúng tôi được ăn bửa cơm cuối ngay chiều nay, sau đó xe Công An của trại sẽ đưa bọn tôi xuống núi và cấp vé tàu lửa cho chúng tôi về Nam. Mọi việc đã xong xuôi, khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi tụ họp tại cổng trại, điểm danh một lần cuối, chờ xe của trại chở đi. Xin giã từ tất cả, chào tất cả bạn tù còn lại mặc dù không thấy mặt nhau trong giây phút này vì cổng trại xa quá tầm nhìn về các láng bạn tù đang ở. Tôi nhìn lên cổng trại, lá cờ đỏ sao vàng bay phất phơ, dưới hàng chữ :CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM - CÔNG AN NHÂN DÂN Tỉnh HÀ NAM NINH và ảnh Hồ Chí Minh . Tôi dơ tay chào và thầm nói " Thôi Bác ở lại , ta đi , bye ! bye ! " Xui cho tôi, tên công an gác cổng đàng xa, vẫy tay gọi tôi lại . - Anh kia, lại đây, anh nói gì với Bác đấy ? Tôi lanh trí , trả lời: - Tôi chào bác tôi về, tôi rất hồ hởi phấn khởi, nhờ ơn bác và đảng khoan hồng cứu xét cho tôi được về sum họp với gia đình. - Anh lại đây, chờ làm việc. Tôi đến vọng gác đứng chờ . Khoảng 15 phút sau có một công an Quản Giáo ra, đưa tôi vào phòng làm việc. Vẫn câu hỏi “anh nói gì với Bác? ”Tôi trước sau như một, cứ một lời ban đầu trả lời. Thế là tôi bị giữ lại, 12 bạn lên xe ra đi. Tôi bùi ngùi nhìn theo, chiếc xe vận tải rú lên và lao đầu về phía trước để lại một đám bụi mờ, mờ như số phận của tôi phải trả , do cái tính hay tếu của tôi cho đời nó vui. Vui đâu không thấy bây giờ lại lo, lo một chút thôi, bởi vì thật ra, cũng liều rồi. Sau đó tôi bị giam cách ly và hàng ngày hàng đêm tôi phải làm tờ tự khai với câu hỏi “ Anh đã nói gì với Bác”?. Tôi vẫn cứ thế trả lời hàng trăm lần như một lần “Tôi chào bác tôi về, tôi rất hồ hởi phấn khởi, nhờ ơn bác và đảng khoan hồng cứu xét cho tôi được về sum họp với gia đình”. Cuối cùng sau hai tuần bị giữ lại, tôi được tha, với lời hăm doạ : -Tạm tha cho anh , chúng tôi không tin lời anh nói tốt như vậy . Lần này tôi nhắm mắt đi (không một lời giã biệt Bác). Tôi được trao lại đầy đủ hành lý, kể cả 30 đồng Cụ Hồ. 4 giờ sáng ngày 21- 09 - 81 ( tôi gọi là ngày N ) , tôi quá giang xe anh Nuôi đi chợ. Tài xế chở tôi đến một ga không có tên tuổi gì cả ( sau này tôi biết được là Ga Vinh ), toàn là người miền núi. Họ nói tiếng của họ, họ hiểu với nhau, tiếng Việt của người dân tộc miền núi . Người Quản giáo trao cho tôi tấm vé xe lửa "tàu chợ". Tôi chỉ được cấp vé về đến Qui Nhơn, từ Qui Nhơn về Saigon phải tự túc. Tôi nghe trên loa phóng thanh người ta thông báo xe chạy đến ga Diệu Trì sẽ ngừng để chạy ngược lại về miền Bắc. Suốt thời gian di chuyển, tôi không dám mua một món gì để ăn , dù một củ khoai. Chỉ có 30 đồng, nếu hết thì làm sao xoay xở, trên người không có một cái gì có thể đổi chác được. Tôi uống nước cầm hơi cho qua ngày. Nghĩ ngày về đến Saigon vui quá tôi quên đi cái đói phần nào. Nhưng đến ngày N+3 , vừa bước ra khỏi toa xe lửa, tôi muốn xỉu, hoa mắt, nhức đầu, bụng cồn cào ra chất chua. Chợt thấy con chó hoang ghẻ lác đứng gặm khúc xương bên hè mà nước miếng mình chảy dài. Cầm lòng không được, tôi sà xuống gánh hàng rong bán bún, ăn một tô bún to với nước mắm chanh tỏi ớt đường. Những cọng bún trắng tinh, thêm vị chua ngọt mặn trôi dần xuống cổ. Tôi không dám ăn nhanh, chậm chậm thưởng thức cái mùi vị ngàn năm một thuở. Bụng đã no rồi nhưng bụng lại đau khi người bán hàng bảo: - Cho tớ xin 15 đồng. Thế là toi đi mất nữa gia tài. Chần chờ tại ga Diệu Trì đến trưa phòng bán vé mới mở cửa. Tôi hỏi vé đi thành phố Hồ chí Minh. Anh cán bộ bán vé trả lời “Diệu Trì - TP HCM giá 58 đồng”. Tôi yêu cầu cho giá hạng bét, anh ta lạnh lùng trả lời “đây chỉ có một giá thôi, đồng hạng”. Tôi năn nỉ “xin anh giúp cho, tôi chỉ có vỏn vẹn 15 đồng, cải tạo được tha về mà anh”. Với giọng Bắc lạnh lùng hơn nữa, anh ta dứt khoát trả lời “Không là Không” , tôi đành ở lại Ga Diệu Trì để tìm phương cách khác. Với số tiền còn lại, tôi cầm hơi khoai sắn được hai ngày thì hết sạch. Ban ngày tôi tìm đủ mọi cách để kiếm tiền vé xe nhưng không có cách nào cả, tối lại treo võng tòn ten ngủ trong sân ga. Thấy tôi mặc bộ đồ tù nên chẳng ai hỏi đến. May thay đến ngày thứ ba, trong lúc không còn một xu để mua thức ăn , có một em bé mặt mũi khôi ngô khoảng mười tuổi tự nhiên chạy đến hỏi: - Chú có muốn đi làm kiếm tiền không? Mừng quá tôi hỏi: - Làm chuyện gì em? - Nhà cháu cần người gánh nước, mỗi đôi 1 đồng. Tôi nhận lời ngay. Em bé dẫn tôi về nhà, giới thiệu với bố mẹ. Người ta bằng lòng với điều kiện gánh nước không mặc quần áo cải tạo. Tôi nghĩ điều chi chớ điều này thì quá dễ, mặc quần xà lỏn gánh nước cũng tiện cho tôi. Từ giếng về nhà xa gần cây số, mỗi thùng cỡ 20 lít, cố gắng lắm tôi cũng chỉ gánh được 15 đôi. Ngày đi cải tạo 68 kg, ngày về còn 50 kg, gởi lại 18 kg thịt cho núi rừng Bắc Việt, tôi cảm thấy không đủ sức để gánh nhiều hơn . Tôi nhận mười lăm đồng để sống qua ngày. Ngày hôm sau người ta không thuê nữa, thế là thất nghiệp. Ba ngày vô vị trôi qua, lòng như lửa đốt, tôi đành chọn phương pháp NHAỶ TAÙ. Đây là phương pháp của những người bán hàng rong đi lậu vé, nếu bị xét vé thì bị phạt nặng. Đối với những người bán hàng rong thì dễ dàng vì người ta là dân, lại quen mặt với những người xét vé, còn tôi là tù vừa được thả, chưa có quyền công dân, lỡ bị xét không có vé có thể đi tù trở lại . Biết vây nhưng con người đến đường cùng thì phải liều, tôi quyết định nhảy tàu. Ngày N+6 chuyến tầu Thống Nhất từ Hà Nội vào đúng 8 giờ sáng Từ đấy về Saigon tàu sẽ ghé mỗi ga. Tôi theo những người bán hàng rong đứng chờ sẵn mỗi toa. Khi còi tàu hú và chuyển bánh chầm chậm, dân nhảy tàu lợi dụng thời gian này, bu theo thành tàu chạy một đoạn rồi nhảy lên, đến ga tới, tàu ngừng thì nhảy xuống. Tại mỗi Ga như vậy, tàu ngừng khoảng 30 phút để hành khách lên xuống, chuyển hàng hoá và soát vé. Tôi cứ nhảy ga như vậy cho đến ga Tuy Hoà. Trên đường nhảy ga tôi thường giúp đỡ những người bán hàng rong để chuyển dùm hàng hoá lên xuống, do đó tôi chiếm được cảm tình nhiều người và được tặng vài củ khoai, củ sắn, miếng cơm, cái bánh... no lòng trên suốt đoạn đường dài. Từ Tuy Hoà đến Ga Nha Trang, tàu đang chạy ngon trớn, bỗng nhiên ngừng lại. Sợ bị xét vé, tôi vội nhảy xuống, nhưng không phải soát vé mà là có một tai nạn xảy ra. Tàu đang cán phải một người. Hỏi ra mới biết nạn nhân cũng là một người tù mãn án, trên đường về không có tiền mua vé nên phải nhảy tàu, bị tên cán bộ xét vé đẩy té ngã vào đường rầy . Tên cán bộ này đang bị mọi người phẫn nộ đánh hội đồng. Sau đó tàu phải ngưng giữa đường một đêm, để giải quyết sự việc và từ đấy không còn xét vé . Khi tàu đến Ga Mường Mán, Phan Thiết, tôi ngồi lì không thèm nhảy nữa, bình an về đến Ga Bình Triệu đúng 11 giờ đêm ngày N+16. Gió mát từ sông Saigon thổi vào thành phố. Chợ Bến Thành rộn rịp như ngày tôi đi nhưng tôi vẫn ngỡ ngàng nhìn Thủ Đô ngày nào bây giờ là thành phố đổi tên . 16 ngày đêm trên đoạn đường dài, biết bao kỷ niệm từ Bắc về Nam. Tôi vất hết hành lý, hai tay thọc vào túi áo, thả bộ từ Ga về nhà, trên con đường Trương Minh Giảng quen thuộc, lòng phơi phới nghĩ đến vợ con, đến mái nhà tổ ấm của tôi. Trong niềm tin và hy vọng, tôi chuẩn bị tư tưởng cho một chuyến ĐI XA. Đi thật xa và không bao giờ quay trở lại...
Tôn Thất Phú Sĩ 1975-1981
Publié le 11/07/2008 à 21:34
Par clb-vh
CHIA TAY NGƯỜI
Chia tay người buồn tôi lên đầy mắt Không buồn nào hơn buồn của hôm nay Lòng quay quắt bởi chẳng sao níu được Bước chân người sau cửa kiếng ngăn đôi
Người đi vội sợ con tim se thắt Tôi chần chờ tìm kiếm dáng bơ vơ Giữa biển đời bỗng nhiên nghe nghẹt thở Sa mạc đâu đây liệm chết tiếng cười
Nắng phi trường gửi mây theo cánh sắt Gió chướng theo tôi đem nhớ nhung về Paris chừ như chợt tỉnh cơn mê Chưa kịp giữ người đà bay đi mất
Thoáng hương xưa tôi âm thầm vội cất Nghe cồn cào dư vị những ngày qua Nghe xôn xao một cung trầm vọng ải Để nhốt người còn lại dẫu trong mơ
Thơ tôi viết đường về sao lạnh ngắt Tàu vẫn đi nhanh lăn bánh vô tâm Âm hưởng vẫn chập chờn qua ảo giác Nhớ quá đi thôi tôi gọi tên người
Người ơi người ! đến chi rồi đi vội Cho buồn thương vây kín cả trời Tây Cho cô đơn ôm chặt tháng năm gầy Con phố cũ mai đây... còn đâu nữa !
Tôi, cỏ cây vàng úa ...đợi trời mưa ! Tôn Thất Phú Sĩ

TRANG NHÀ TÔN THẤT PHÚ SĨ Click

Publié le 11/07/2008 à 09:16
Par clb-vh
NHÌN LẠI MỘT THỜI
 | |
Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu lòng và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp – sinh viên Luật Khoa – chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư (ĐSVHNDC), Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch. Để giới thiệu ĐSVHNDC nhân dịp chào mừng mùa Xuân năm đó, chúng tôi cho in tập Xuân Chuyển Hướng. Tôi còn nhớ trước 1954 - thuở còn ở ngoài Bắc – tôi sớm có khuynh hướng viết văn, hoàn tất được một truyện ngắn đầu tay dưới dạng một truyện cổ tích mang tên là “Sợ Lửa”. Di cư vô Nam năm 1954, may sao tôi có mang theo bản thảo Sợ Lửa và cho đăng vào tập Xuân Chuyển Hướng này! Thế là như lửa gặp gió, tôi tiếp tục . . . tiếp tục sang tác để chính thức đi vào nghiệp cầm bút của nhà văn bên cạnh sự nghiệp cầm phấn của nhà giáo sau này. Sau tập Xuân Chuyển Hướng tôi đứng ra làm chủ nhiệm tờ tuần báo Người Việt nhưng cũng chỉ được vài số là đình bản. Sau đó gặp them Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, hai họa sĩ Duy Thanh và Ngọc Dũng nữa, thế là chúng tôi xúm lại chủ trương nguyệt san SÁNG TẠO – vào năm 1956 thì phải, nếu tôi nhớ không lầm! Toà soạn Sáng Tạo ở đường Ký Con. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh của tôi đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách. Sáng Tạo ra được tới số 30 hay 31 thì đình bản. Các văn hữu từ đó vẫn gọi nhóm chúng tôi – Mai Thảo - Nguyễn Sỹ Tế - Ngọc Dũng – Duy Thanh là nhóm Sáng Tạo – Tòa soạn ở đường Ký Con ! Thuở đó anh em chúng tôi ai muốn đem bài đến toà soạn, hay đến toà soạn để sửa bài thì ít nhất cũng phải đợi đến 9 giờ sáng hãy tới, vì tới giờ đó Mai Thảo mới ngủ dậy để ra ngồi trước bàn làm việc. Từ tám chin giờ tối trở đi đó là giờ Mai Thảo có mặt ở vũ trường để khiêu vũ. Thuở đó đám sinh viên Hà Nội di cư chúng tôi đã có nơi cư trú đàng hoàng, đó là khu Đại Học Xá gần nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn. Thỉnh thoảng khoảng 8 giờ tối Mai Thảo lái xe đến đón tôi cùng đi khiêu vũ, khoảng 12 giờ khuya thì về, bao giờ cũng rủ theo một em vũ nữ lên xe để cùng tới một tiệm ăn nào đó, vừa ăn uống vừa nói chuyện vui, rồi đưa em vũ nữ về nơi hẻm em ở. Cùng là nhà giáo kiêm viết văn, chúng tôi có ba người : tôi, anh Nguyễn Sỹ Tế (hiệu trưởng trường Trường Sơn) và anh Nguyên Sa ( hiệu trưởng trường Văn Học). Nhắc đến Nguyên Sa thì hầu hết chúng ta đều biết bài thơ nổi tiếng của anh “Áo Lụa Hà Đông” : "Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung Bay vội vã vào trong hồn mở cửa Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau? Để anh gọi tiếng thở buồn vọng lại..." "Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn? Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng ... Anh vẫn yêu màu áo ấy em ơi" Sau này khi sang tới xứ Cờ Hoa này chúng tôi ở cách mấy tiểu bang – tôi ở Houston, Texas, anh ở Quận Cam Cali - mỗi khi có dịp gặp nhau, tôi vẫn hỏi đùa anh: Chị vẫn mặc áo lụa Hà Đông, phải không anh? Nhớ lại kỷ niệm với anh Nguyễn Sỹ Tế, khi Cộng Sản chiếm nốt miền Nam, chúng tôi cùng bị đi tù chung và cùng bị đày lên tận miền Gia Trung thuộc núi rừng cao nguyên Pleiku, Kontum. Vùng này sở dĩ mang tên Gia Trung vì có dòng suối YA YUNG chảy qua. Tiếng địa phương là Ya Yung được chuyển sang tiếng Việt là Gia Trung ! Anh Nguyễn Sỹ Tế có 4 câu thơ bằng tiếng Pháp trong tập thơ Chant d’Ya (Tiếng Hát Gia Trung) của anh như sau: Sur un fond de ciel balayé Un engourdi crossant de lune Parait las et comme épuisé De sa lumineuse fortune … Và tôi dịch thoát nghĩa thành 4 câu thơ Việt như sau: Đỉnh trời gió quét mây tan tác Trăng lưỡi liềm ngơ ngác lạnh căm Trăng sao đượm vẻ u trầm Trăng sao quá đỗi âm thầm hỡi trăng Vào năm 1956 – cách đây đúng nửa thế kỷ - khi tập truyện cổ tích Sợ Lửa của tôi ấn hành lần đầu, ông bạn Nguyễn Sỹ Tế của tôi viết TỰA và Thanh Tâm Tuyền viết BẠT . Với tinh thần tri âm tri kỷ, ông bạn Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ mang tên “NHỊP BA” đã nêu lên lòng ước muốn thường xuyên nóng bỏng trong tâm tư thầm kín của tôi: đó là ước muốn sao cho đất nước sớm được thống nhất tự do ! Xin quý vị hãy cùng tôi thưởng thức bài thơ “NHỊP BA” của Thanh Tâm Tuyền viết thay lời Bạt cho “Sợ Lửa” NHỊP BA (Tặng Doãn Quốc Sỹ) Ngực anh thủng lỗ đạn tròn Lưỡi lê thấu phổi Tim còn nhảy đập Nhịp ba nhịp ba nhịp ba Tình yêu, tự do mãi mãi Anh về ngồi dưới vườn nhà Cây liền kết trái Hoa rụng tơi tơi ủ xác Anh chạy nhịp hai qua cách trở Mắt bừng Thống nhất, tự do Ngoài xa thành phố Bánh xe lăn nhịp ba Áo màu xanh hớn hở Nhát búa gõ Long máy quay Cửa nhà thi nhau lớn Nhịp ba, nhịp ba, nhịp ba Tình yêu, tự do, mãi mãi Sóng bồi phù sa Ruộng lúa trổ hoa Núi cao uốn cây rừng Nhịp ba, nhịp ba, nhip ba Tình yêu tự do mãi mãi Đất nước ào vỗ nhịp Triều biển chập chùng Hà Nội, Huế, Sàigòn Ôm nhau nức nở Có người cầm sung bắn váo đấu Đạn nổ nhịp ba Không chết Anh ngồi nhỏm dậy khoẻ mạnh lạ thường Bước ai thánh thót Nhịp ba Tình yêu Tự do mãi mãi Tình yêu tự do mãi mãi Tình yêu tư do mãi mãi anh ơi
THANH TÂM TUYỀN * * * Thấm thoát tính tới nay - Năm 2005 – đã vừa một nửa thê kỷ qua rồi. Anh em Sáng Tạo chúng tôi nay chỉ còn: Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền và họa sĩ Duy Thanh. Mai Thảo và họa sĩ Ngọc Dũng đã ra người thiên cổ!
DOÃN QUỐC SỸ Houston ngày 12 tháng 5, 2005
Publié le 11/07/2008 à 01:06
Par clb-vh
VẪN CÒN HY VỌNG Anh thuở ấy Tuổi hai mươi Giã từ mái trường thân yêu Bạn bè - Thầy Cô - và lớp học Chọn đời quân ngủ Vẩy vùng ngang dọc Trên khắp miền đất nước Chiến đấu chống quân thù Trong tim anh đơn giản Bảo vệ Lý tưởng Tự Do Miền Nam nước Việt Vai balô - vui nhịp bước quân hành Đêm giá lạnh, bẩy mìn dưới chân anh Ngày nắng cháy, đạn mưa trên mái tóc Anh đâu đó - trên sa trường hiễm hóc Anh băng rừng, vượt biển , lội qua truông Anh bay cao - không một chút ngại ngùng Đem vinh quang về dâng Tổ Quốc..! Anh vui mừng khi lập được chiến công Anh buồn đau khi bạn bè gục ngã Qua các vùng chiến thuật Việt Nam Đôi giày trận chứng tích bước gian truân Bộ quân phục bạc màu cùng năm tháng
Đêm trăng sáng Tâm hồn anh rạng rỡ Thoang thoảng đâu đây – hương hoa bưởi hoa cau Như sưởi ấm lòng người lính trận Anh man mác về Một mối tình, mộng đẹp ... tương lai Rồi một sớm tác chiến với quân thù Anh dâng hiến một phần thân anh cho Tổ Quốc Anh nhìn đời bằng một con mắt Anh nghe đời bằng một lỗ tai Anh thở khí trời bằng một lá phổi Ôm mẹ già bằng một cánh tay… Anh lang thang phố phường bằng đôi nạn gỗ Anh ngậm ngùi Trên chiếc xe lăn trong những chiều mưa bụi Và Mối tình xưa Giờ chỉ còn chiếc lá thu bay
Anh là anh… Thương phế binh Cọng - Hoà Vẫn chiến đấu vì cuộc chiến chưa tan Vững niềm tin chính nghĩa thắng bạo tàn Mộng ước tuổi xanh - anh còn đó Lỡ một mai Anh trở về với cát bụi Hậu thế theo chân Người Nối tiếp bước hùng anh Dương cao ngọn cờ Tổ Quốc Việt Nam Đồng một lòng Xây dựng lại Giang Sơn Với Tự Do – Dân Chủ Hoa Nhân Quyền thắm nở khắp Quê hương Tôn Thất Phú Sĩ
Dan Chu Ca
THERE WAS STILL AN EXPECTATION I in that time Twenty years old Saying good bye to beloved school Friends- Teachers- Classes Choosing life in the Army For freely acting at will Thronghout the country Fighting against enemies In my simple heart To protect liberty ideal of South Vietnam Snapback on shoulders, happily marched in military cadence In cold nights, under your feet mine traps Burning days, a bullet rain on one’s hair Somewhere I. In perilous battle field Crossing forest, sea, swinnning across moor I flied high- without a bit hesitation Bringing about Glory dedicating to Fatherland. I was happy when making victories I was sad when seeing friends knocked down Through military zones of Vietnam A pair of combat shoes the proof of difficult days Uniform was fading with time Moonlight night My brilliant heart Somewhere smelt the fragrance of grapefruit, of areca As warming inside a soldier In vague manner I came back A love, a good dream, a future Then a morning fighting with enemies I offered a part of my body to Fatherland I watched life with one eye I heard life sound with one year I breathed life air with a lung I embraced old Mommy with an arm I wandered in street with a pair of wooden crutches I with grievance On wheelchair in dusty rainy evening And An old love
Now only remained an autumn leaf flying I was a disabled veteran ofthe Republic Still fighting because of no ended war Firmly confident in that just cause would overcome cruelty Youth dream- I was still there In case of one day I would return to sand and dust Descendants would follow Him In hero steps In holding high Vietnam National Flag In unity To construct again Fatherland With Liberty- Democracy Human Right flowers were blooming throughout the country. RGC 10-07-2006

 |
Noter ce blog :
5294 connectés
47053 visiteurs
|