|
Publié le 24/07/2008 à 08:35
Par clb-vh
8 người cầm bút Việt Nam được trao giải thưởng Hellman/Hammet | 23/07/2008
| |
Để tuyên dương lòng dũng cảm biểu lộ giữa lúc phải đương đầu với những ngược đãi chính trị, 8 người Việt trong số 34 nhà văn thuộc 19 quốc gia khác nhau đã được trao tặng giải thưởng Hellman/Hammet năm nay.
 | Linh Mục Nguyễn Văn Lý tại phiên xử hôm 30/3/2007
|
Theo thông cáo báo chí của tổ chức tranh đấu cho nhân quyền Human Rights Watch, giải thưởng Hellman/Hammet, do tổ chức này điều hành và được khởi sự từ năm 1989, hàng năm được trao tặng cho các nhà văn trên thế giới nằm trong tình trạng bị ngược đãi chính trị hoặc nhân quyền bị vi phạm.
Trong số những nhà văn người Việt được trao tặng giải thưởng này năm nay có Linh Mục Nguyễn Văn Lý, một trong những người đứng đầu phong trào đòi dân chủ tại Việt Nam. Trong 30 năm qua, Linh Mục Lý đã nhiều lần bị chính quyền giam giữ vì những bài viết kêu gọi nhà nước tôn trọng nhân quyền, quyền tự do tôn giáo và tự do bày tỏ tư tưởng.
Trong phiên tòa xử Linh Mục Lý gần đây nhất vào tháng 3 năm 2007, trong đó Linh Mục bị kết án thêm 8 năm tù, cảnh sát đã bịt miệng, không cho Linh Mục Lý lên tiếng.
Ông Brad Adams, Giám Đốc vùng Á Châu của Human Rights Watch, cho rằng không có hình ảnh nào chứng minh rõ rệt chính sách cấm đoán người dân bày tỏ tư tưởng cho bằng hình ảnh cảnh sát bịt miệng Linh Mục Lý trong phiên xử.
Ngoài Linh Mục Nguyễn Văn Lý, 6 người Việt khác được trao tặng giải thưởng của Human Rights Watch năm nay gồm luật sư Lê Quốc Quân, luật sư Lê Thị Công Nhân, ông Nguyễn Phương Anh, nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà văn Hà Sỹ Phu và Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn. Human Rights Watch đã chỉ công bố tên tuổi 7 người này, còn người thứ 8 chưa được tiết lộ vì lý do an toàn.
Bản thông cáo báo chí của Human Rights Watch nói rằng nhà cầm quyền Việt Nam đã dùng cả những biện pháp trừng phạt chính thức lẫn không chính thức để bịt miệng những người Việt được trao tặng giải thưởng Hellman/Hammett năm nay.
Theo bản thông cáo, những người bất đồng chính kiến đã bị sách nhiễu, bị tù đầy vì những lời buộc tội bịa đặt, bị mất công ăn việc làm, bị cô lập trong xã hội, bị cảnh sát bắt giữ và thẩm vấn, bị sỉ nhục tại những phiên tòa được chính thức xếp đặt của Tòa Án Nhân Dân, bị những băng đảng do nhà nước bảo trợ gây thương tích và trở thành mục tiêu của những tai nạn xe cộ.
 | |
Ông Brad Adams, Giám Đốc vùng Á Châu của Human Rights Watch
Ông Brad Adams của Human Rights Watch nói rằng nhiều người trên thế giới không hiểu được tình trạng nhiều nhà văn Việt đang bị chính quyền giam giữ chỉ vì bày tỏ quan điểm của mình, và bởi thế, trong lúc này không gì quan trọng cho bằng việc tuyên dương những nhà văn can trường đang chịu cảnh ngược đãi hay đang phải hy sinh những tự do của mình để đòi quyền tự do báo chí, nhân quyền và một hệ thống đa đảng tại Việt Nam.
Human Rights Watch đã điều hành giải thưởng Hellman/Hammett từ năm 1989, trao tặng giải này cho khoảng 700 nhà văn trong 19 năm qua. Giải còn trợ cấp những món tiền nhỏ cho các nhà văn cần phải rời bỏ
ngay đất nước của mình hoặc những người cần chăm sóc chữa trị sau khi bị tù đầy hoặc tra tấn.
Publié le 24/07/2008 à 07:28
Par clb-vh

Rủ nhau cùng về
Mấy chục năm về trước cho đến nay, khi những bài viết có tính thời sự chính trị được đưa lên mặt báo hay trang mạng, các tiên đoán lạc quan đã được nhiều người nêu lên. Ðặc biệt là bài viết của những người có những hoạt động liên quan đến vấn đề chính trị. "Chúng ta sẽ về lại Việt Nam …" họ nói với nhau như thế, cứ như người Do Thái trước kia, hễ gặp nhau, những người này hẹn sẽ gặp lại tại quê nhà của họ.
Và rồi …họ, đúng hơn, những người Việt tại hải ngoại, đã về lại Việt Nam, vào những năm 1990. Họ trở về quê hương vì nhiều lý do, phần lớn là thăm gia đình. Họ về bằng phương tiện hàng không. Hết rồi những gian khổ, thuơng tật, đau chết bởi những chuyến vượt biên, vượt biển, tìm đường vượt thoát ra nước ngoài.
Thoạt đầu, việc về thăm quê hương của họ, bị cản trở nhiều ít bởi thái độ của những cá nhân, nhóm phái làm chính trị. Họ bị gán tội là "thân Cộng". Các cá nhân, nhóm phái gán cho họ tội đó cũng là do lỗi của các tố chức này. Từ những đợt tìm cách xâm nhập vào Việt Nam (dù mới phát xuất tại các nước láng giềng như Thái và Lào hoặc Kampuchia) thất bại, các tổ chức đó đã không làm gì hơn; nếu có, chỉ là những cuộc biểu tình ở dạng này dạng khác. Nếu những người dân Việt bình thường tại nước ngoài đã được trang bị đầy đủ tinh thần chống Cộng, chính việc họ về, đôi khi còn là sự lo ngại của ngụy quyền Cộng sản.
Phần ngụy quyền CS, sau khi đã ổn định được tình hình an ninh trong nước, phần vì "mở cửa" để người Việt về thăm quê hương cũng là một giải pháp tháo gỡ một số vấn đề kinh tế, họ đã đưa kế hoạch cho phép người Việt về thăm quê hương, trải nghiệm trong thực tế. Thực tế đã chứng minh. Người Việt ngoài nước trở lại quê nhà đã làm cho vấn đế chống Cộng bước sang khúc ngoặt rẽ !
Vì không được chuẩn bị đầy đủ, người về thăm nước, vô tình cách này khác, đã làm cho việc chống Cộng trở nên khó khăn hơn. Trước kia, khi chưa về nước, họ đã nuôi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bởi việc gửi tiền cho thân nhân của họ còn kẹt lại tại quê nhà. Nay, không những gửi, họ còn về nước, trực tiếp tiêu xài. Lâu dài, tiến đến việc đầu tư làm ăn. Sau hơn 10 năm với tình trạng đó, sự việc trên lôi kéo thêm các thành phần ca sĩ, nghệ sĩ ở nước ngoài, về Việt Nam trình diễn.
Phần ngụy quyền CS, sau khi củng cố an ninh, làm giàu kinh tế (dù phần lớn trước tiên là lo cho túi tiền của cá nhân các thành phần lãnh đạo, của các đảng viên cao cấp)…nay, đã đủ sức tung lực lượng ra tấn công tập thể người Việt tại nước ngoài, lâu nay vốn là thành trì hậu phương của các cuộc tranh đấu cho dân chủ trong nước. Thoạt đầu, họ đưa văn nghệ sĩ ra nước ngoài trình diễn, sau đó đến việc thành lập các tổ chức của họ tại nước ngoài. Nghị quyết 36 của họ là phát súng lệnh !
Chia rẽ -không đoàn kết- lâu nay là căn bệnh trầm kha, nay, được bọn tay sai ngụy quyền tại hải ngoại tìm cách gia tăng quấy phá, càng làm cho căn bệnh trở nên nguy kịch hơn. Nếu chỉ tấn công ngụy quyền bởi hai lý do chủ yếu như: bán lãnh thổ, lãnh hải và duy trì độc đảng, đã là hai việc khó làm. Nay, đã không đoàn kết, lại chia sức ra đánh những mặt trận nhỏ, khiến lực đấu tranh càng ngày càng suy giảm.
Gỡ gạt cho thế yếu này, có tổ chức chủ trương "đưa quân" về Việt Nam. Cũng hợp lý phần nào, như việc Mỹ, sau khi bị đánh sập toà nhà tháp đôi ngày 11.09, đã tấn công vào hậu phương của lực lượng khủng bố tại Afganishtan và Irak. Bây giờ, phe nhóm chống Cộng không dùng đến các lực lượng quân sự như trước kia. Có nhiều lý do. Trước hết, giả sử họ có được số quân lên đến cả sư đoàn, lực lượng đó sẽ đồn trú chổ nào, trước khi mở các cuộc tấn công bằng quân sự ?. Có chiến thắng quân sự nào bỏ qua yếu tố nhân tâm ? Irak là một thí dụ gần và cụ thể nhất. Việc kết hợp hai yếu tố này, để đạt đến thành công tối ưu, do những người lãnh đạo các tổ chức chống Cộng quyết định. Nhưng, những người này không thể quên một điều hết sức cơ bản và quan trọng: "Thời gian là người thày của chiến lược"!. Dễ hiểu hơn là: có được yếu tố địa lợi và nhân hoà mà không có được yếu tố thiên thời thì cũng không thể có được sự thành công. Lẽ ra, các lực lượng chống Cộng người Việt phải làm việc này vào những năm 1990, khi đối phương "mở cửa" cho người Việt ở nước ngoài về nước.
Những lực lượng chống Cộng đã mất gần 20 năm, chưa kể thời gian trước kia, từ những năm 1980 đến 1990. Bây giờ, chúng ta có thể làm được việc tiến công bằng yếu tố nhân tâm hay không?
Chưa trễ !.... Nhưng, không thể chần chừ lâu hơn nữa. Yếu tố nhân tâm gì đây? Ai đã về thăm gia đình, nhất là tại nông thôn, không thể không nghe những tin tức từ loa thông tin, ra rả cả tiếng vào buổi sáng. Cho đến hôm nay, thứ năm, 17.08.2008, bên cạnh những tin nông nghiệp, vẫn còn những tin thời sự, với những chữ được dùng như "diễn tiến hoà bình" và "các thế lực thù địch" …và những bài hát hành quân, trước năm 75. Những lực lượng chống Cộng đã có những loa thông tin có thể đánh bạt những luận điệu tuyên truyền ấy không? Tối thiểu họ có được đến gần cả 500.000 cái loa trong mỗi đợt người Việt về nước. Nhưng, như đã nói, họ đã cản trở sự làm việc hữu hiệu của những loa này trong gần cả chục năm nay. Bây giờ, cộng với những cái loa đó, họ có thể có những tờ báo "rơi" không …??? Chuyện này hình như đã được nhiều người nói đến, nhiều lúc, nhiều lần …mà đến giờ vẫn chưa thành hình được.
Chuyện xem chừng đơn giản ấy mà cũng khó thực hiện. Nói chi đến những chuyện khó khăn phức tạp khác. Do đó, nếu chưa thực hiện được vài chuyện đơn giản như trên, việc đưa người về làm công tác dân vận (hình thành xã hội dân sự ?...) nghe sao chừng như câu hát ru trẻ " ò ơi …ví dầu …".
Chúng ta đã làm được chuyện vinh danh lá cờ vàng tại nước ngoài. Có tổ chức, để lôi kéo mọi người vào việc đấu tranh chống Cộng, cứ nói đi nói mãi một phương cách chống Cộng theo lối dùng chân đạp vào hình Hồ chí Minh. Tại sao họ không thể làm được việc vinh danh cờ vàng ngay tại trong nước ?
Vào ngày 30.04 năm nào đó, hàng ngàn người, đi xe gắn máy với lá cờ vàng ba sọc đỏ, đi suốt từ mũi Cà Mau đến biên giới Trung quốc, để tưởng niệm những người đã chết trong cuộc chiến trước 75. Người ta chỉ có thể làm được việc đó khi nhân tâm đã được thu phục. Như trước đây, khi đoàn xe chở các người tù cải tạo miền Nam đi qua các nẻo đường đất nước, người dân đã ném cho họ những hoa, quả, thực phẩm. Ðiều đáng nói, dĩ nhiên, không phải là những người tù đã được tiếp tế lương thực mà là người dân đã thấy rằng, những người tù cải tạo là những người đã có một thời chiến đấu cho lẽ phải. Lần này, nếu lá cờ vàng ba sọc đỏ lôi kéo được sự ủng hộ của người dân, điều đó sẽ chứng tỏ cuộc chiến đấu cho lẽ phải vẫn còn đang tiếp diễn.
Ðặng quang Chính

Publié le 23/07/2008 à 21:19
Par clb-vh

MỘT TRONG MUÔN NGÀN KỶ NIỆM VỀ MẸ
Ngày LỄ MẸ cũng chính là ngày giỗ của Mẹ tôi ,một sự trùng hợp rất cảm động đối với tôi. Không biết các nơi khác ra làm sao, ở Pháp, ngày LỄ MẸ là ngày 25 Tháng 5 . Hôm nay mới 12 Mai 2003 mà tất cả mọi người đã bắt đầu xôn xao vui mừng chuẩn bị ngày lễ lớn trong Hạnh phúc chung của những nguời con còn Mẹ. Riêng tôi, lòng cảm thấy bùi ngùi nhớ về Mẹ. Tôi đã không còn cái Hạnh phúc có Mẹ đúng mười năm rồi. Mười năm tròn đứa con bất hiếu đã mất Mẹ. Hình ảnh Mẹ tôi cứ chập chờn trong trí nhớ với từng chuổi kỷ niệm dài về Mẹ từ thuở ấu thơ cho đến ngày khôn lớn, trưởng thành. Thời gian qua nhanh, nay đã trở thành ông Nội, ông Ngoại, thế mà trong lòng tôi, tôi vẫn là đứa con nhỏ dại của Mẹ . Những khi gặp hoạn nạn trong đời tôi thường gọi Mẹ để cầu cứu. Không giống những nguời khác thường gọi Trời, gọi Đất, gọi Chúa, gọi Phật hay kêu cứu một đấng thiêng liêng nào đó khi gặp điều không may,tôi luôn luôn gọi Mẹ ơi, kể cả lúc Mẹ tôi còn sống, để được tai qua nạn khỏi. Làng xưa của tôi nghèo lắm nhưng đã hằng sâu trong lòng tôi những thân thương bên cạnh Me. Tôi nhớ rõ nhà tôi có khu vườn thơ mộng đầy cây ăn trái nằm bên một nhánh sông của dòng Hương xứ Huế với bờ Bạch Đằng sớm đục chiều trong Thủơ đó, tôi như con khỉ con thường đong đưa từ cành này qua cành nọ tìm trái chín trên cây. Thế ro^`i,mồt buổi trưa, đang đong đưa trên một cành cây măng cụt, tôi đã đối đầu với một con rắn xanh, xanh như một cành cây nhỏ. Rắn le lưởi dài cả tấc, nhìn to^i ,miệng rí từng hơi như gió tho^? i Tôi run lên, ôm chặc cành ca^y . Không biết làm gì hơn,tôi gọi Mẹ ơi! và con rắn quay đầu trườn đi chỗ khác. Tôi hoàn hồn, thả tay rơi xuống đất như trái mít rụng. Hình như hai tiếng MẸ ƠI đã cứu tôi thoát khỏi hiểm nguy. Tôi nghì rằng ai đã đi qua một thời làm học sinh Đà nẵng thì không thể không mê bờ sông Hàn,nhầt là học sinh Phan Châu TrinhTự trường Phan Châu Trinh ra bờ sông Hàn không xa mấy, chỉ vài vòng xe đạp, vài bước chân chim là chúng tôi có thể lửng thửng dạo bờ sông những chiều trốn học. Bờ sông có một chiều dài để vui đùa không dài mấy nhưng sao lang thang hoài vẫn không thấy chán. Gió biển, gió sông dịu dàng thổi mát ruợi , rào rạc trên hàng phuợng thẳng tắp. Hàng ghế đá, gánh quà rong mời gọi lũ học trò ít tiền trong túi nhưng lúc nào cũng ham ăn quà vạtTợi và bạn bè thích nhất là chiếc cầu gổ nằm cạnh cầu tàu Toà Thị ChịnhChiếc cầu cao và dài khoảng bốn thuớc Du+o+'i cầu nuớc sâu và trong mát. Chúng tôi thuờng rủ nhau ra đây vào những trưa nắng gắt. Áo quần sách vở gói lại nhét dưới chân cầu, chỉ? cần cái quần xà lỏn là chúng tôi thoả thích vui đùa bơi lặn trong hồ tắm thiên nhiên tuyệt vời . Một buổi trưa hôm đó, một buổi trưa của năm đệ lục Phan Châu Trinh nhớ đời, trong lúc đang đùa giỡn bơi lội bên bờ song,một thằng bạn thách:" Ê, Sĩ, đố mày leo lên cầu plonger xuống nuớc, tụi tau phục sát đất. Lúc đó thấy chiếc cầu không cao mấy, tôi hăng tiết vịt . Dễ ẹt, tau nhảy cho tụi bay coi. Đứng trên ca^`u,nhìn xuống nuớc thấy cũng hơi o+'n,nhu+ng lỡ làm anh hùng rồi, không thể quay lui,tôi chúi đầu phóng xuống dòng sông , thân hình lao như một mũi tên .Tôi có cảm giác đang bay rồi nghe ầm một tiếng như bể lồng ngực. Nước xoáy mạnh hút lấy thân hình tôi và tôi không cò biết gì nữa. Tôi tỉnh lai thấy xung quanh toàn màu tra('ng,cớ họng cứng như khúc củi, khắp thân thể đau nhừ. Qua ánh sáng mờ mờ, tôi thấy có ai ngồi cạnh , tay đặt lên chân tôi, mặt cúi xuống, tóc rối xoả dài, tôi chợt buộc miệng gọi lớn: Mẹ ơi! Đúng là Me rồi. Người ngẩn đầu lên, nét mặt bơ phờ chợt rạng rỡ. Mẹ ôm lấy tôi, nói trong hơi thơ dồn dập:" Con đã khỏi rồi !" rồi .Mẹ xin y tá nuớc , thấm từng giọt vào đôi môi khô nứt nẻ cu?a tôi. Tôi tỉnh dần dần rồi ôm chầm lấy Me tôi khóc nức nở. Người ta đưa tôi vào bệnh viện Đà Nẵng từ 5 giờ chiều hôm qua, mãi đến 4 giờ sáng hôm sau tôi mới tỉnh. Mẹ mừng rối rít, báo về nhà cho Ba và em tôi biết. Tôi hối hận vô cu`ng ,cầm lấy tay Me méo mó xin lô~i Me cười ,n.u cười thương yêu muôn thuở của tôi, Me nói như rót mật vào lòng: " con không có lỗi nhưng lần sau đừng chơi dại nư~a,chẵng may có điều gì, Me chết theo con". Tôi thương Me quá , tự hứa với lòng :"Con sẽ không bao giờ chết , Me sống đời với con". Giữa năm Đệ Nhị tôi bị ṃôt cơn bịnh thập tử nhất sinh. Đi học về, trời nắng chang chang bỗng đổ mưa. Tôi bị ướt dầm dề vì trận mưa bất thường đó, lên cơn sốt dữ dội, thân nhiệt có lúc cao đến 40 độ C Hôm sau Ba Me đưa tôi đi khám bệnh tại phòng mạch ông Đốc CÁT,nằm ở đuờng Cô Giang,lúc bấy giờ rất nổi tiếng ở Đà Nẵng, ai cũng biết. Sau bốn ngày chửa trị, bệnh không thuyên giảm mà còn có phần nặng thêm. Cuối cùng tôi đuợc chuyển vào bệnh viện. Tóc tôi càng ngày càng rụng .To^i không ăn được , chỉ uống mỗi ngày một chút sữa. Mười ngày nằm bệnh viện tôi chỉ còn da bọc xu+o+ng . Mẹ tôi còn thê thảm hơn, gầy nhiều vì đêm nào cũng ở lại ḅênh viện chăm sóc cho to^i , hoảng hồn to^i hỏi Me tại sao ? Me nói Mẹ đến chùa xuống tóc để cầu nguyên. cho tôi lành bệnh .Tôi chết điếng cả nguời, thương tiếc mái tóc Me tôi, mái tóc đen tuyền như một gia~i lụa muợt mà, mái tóc ṃôt thời, theo lời Ba kể, đã làm vương vấn bao chàng trai xứ Qua~ng,mải tóc mà thuở nhỏ, mỗi khi đuợc ngủ với Mẹ , to^i thuờng nhỏng nhẻo lấy to'c che mặt để ngửi mùi thơm. Sau này khôn lớn không còn đuợc ngủ chung với Me nữa, tôi thuờng hay len lén thương thương nhìn Me mỗi khi Me ngồi chải tọc . Hình ảnh Mẹ ngồi chải tóc theo làn gió đong đưa đã in sâu vào lòng tôi từ thủơ nào tôi không nhớ rõ. Tôi đau đớn nói với chính tôi . Mẹ ơi, con phải chóng lành ḅênh để trả lại Mẹ, người Mẹ TUYỆT VỜI của con, mái tóc huyền muôn đời như lòng Me thương con. Không như thời bây giờ ,ngày sinh nhật của mọi người trong gia đình đuợc trân quý để chung vui với nhau, thời của tôi ít ai trong gia đình để ý đến ngày sinh nhật, nhiều khi quên hẳn . Vậy mà một hôm Ba bảo nhỏ chúng tôi ngày mai là sinh nhật Me mình đi mua quà tặng Me . Ba chọn mua cho Me xấp vải lụa màu vàng đa^.m, em tôi mua cho Mẹ con chó lông xù, riêng tôi tìm hoài tìm huỷ chẳng biết mua gì tặng Mẹ, cuối cùng tôi nghĩ ra đuợc mua một cuốn album để hình tặng Mẹ và một bó hồng tươi. Ba còn mua thêm một cái bánh Sinh nhật, một chai ruợu nhỏ, đèn cầy và một ký thịt heo quay. Chúng tôi hớn hở đi về, lòng vui như mở hội. Buổi cơm tối bình thuờng như mọi ngày đuợc Me dọn tươm tất trên bàn. Chúng tôi đã bàn kế hoạch chọc phá Mẹ. Ba làm như vô tình đổ ly nuớc vào uớt c?a áo Me rồi vội vàng vào phòng lấy bộ áo quần đẹp nhất để Mẹ thay . Mẹ ngạc nhiên thắc mắc" Làm gì phải thay bộ đồ đẹp vậy anh?" . Bất ngờ Ba đem thịt quay và ruợư ra rồi tuyên bố" MỪNG SINH NHẬT BÀ NỘI TUỚNG. Mẹ như từ cung trăng rơi xuống " cám ơn cám ơn lòng tốt của quý vị, thì ra hôm nay là sinh nhật của kẻ hèn này mà kẻ hèn này quên mất" , tiếp theo là tiếng vui đùa nổ như bắp rang, vui như ngày Tết. Ăn uống xong Ba lại dõng dạt tuyên bố: " Còn nu+~a , co`n nu+~a ... mu.c tặng quà bắt đầu". Tôi thắp sáng ngọn nến lung linh, thằng em tắt ngọn đèn điện,tiếng vổ tay liên hồi. Quà của Ba được ưu tiên tặng truớc. Me hồi họp mở quà. Xấp lụa màu vàng đậm dưới ngọn nến lung linh sao mà đẹp lạ lùng! Ba nói" Em may áo dài mặc thì trên thế gian này không ai đẹp bằng em". Mẹ cuời nhìn Ba" Khéo nịnh! ". Ba cúi xuống hôn Mẹ. Lần đầu tiên tôi thấy Ba hôn Mẹ âu yếm truớc mặt anh em chúng tôi. Hạnh phúc đâu đây len vào hồn tôi và tôi đang mê say mái ấm gia đình. Thằng em phân bì:" Ba hun Mẹ mà không hun con". Nói xong nó cuời, đem gói quà của nó đặt vào lòng Mẹ, rồi nó dành mở, lôi ra con chó lông xù có cái kèn sau đít bóp kêu te te. Ba Mẹ đều hôn nó để nó hết phân b`i . Quà của tôi là quyển album có bảng danh dự của tháng học vu+`a qua. Me xoa đầu tôi mỉm cười. Tôi thấy Me vui khi nhận bó hoa hồng. Ngày ấy tôi chưa đọc quyển sách Bông Hồng Cài Áo của Thuợng toạ Nhất Hạnh nên tôi không biết tục lệ ở Nhật, trong ngày Lễ Mẹ, bông màu hồng tặng cho những nguời còn Mẹ, bông màu trắng tặng cho những người mất Mẹ . To^i thấy hình như Mẹ biết tục lệ này và Mẹ nói:" Tháng Năm là tháng Sinh nhật của Mẹ và cũng là ngày Lễ Me. dành cho mọi người , quà của con làm Mẹ nhớ về Bà Ngoại đang sống ở quê . Rồi Mẹ run run cầm dao cắt bánh sinh nhật, khuông mặt Mẹ ửng hồng trong ánh sáng toả ra từ mấy ngọn đèn ca^`y .Tồi thấy Mẹ là bà Tiên dịu hiền nào đó của câu chuyện cổ tích xa xưa hiện về trong căn nhà nhỏ bé nhưng đầy tình thân ái. Sau đó mọi người yêu cầu Mẹ hát để tặng lại mọi người. Mẹ cuời, khẻ hát ru con:" Dí dầu cầu dán (ván) đóng đinh,cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi... à ơi . Công Cha như núi Thái Sơn ,Nghĩa Mẹ như nuớc trong nguồn chảy ra,một lòng thờ Mẹ kính Cha, cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con A` . ơi... Mẹ hát ru con như tiếng lòng tôi goi: Sữa Mẹ ngọt nuôi con lớn Tiếng nói đầu đời con gọi Mẹ ơi Mẹ ơi! tiếng gọi từ thơ ấu Ấm áp tim con suốt một đời
Từ thuở ngỡ ngàng đi chập chững Mẹ là điểm tựa buớc chân son Vừa đi vừa ngã trong tình Mẹ Lớn thật nhanh cây mọc xanh chồi Buổi chiều nắng ngủ trên cành phuợng Tan học chờ con truớc cổng truờng Bóng Mẹ chập chờn bên cửa lớp Rộn ràng quen thuộc dáng thân thương Con lớn khôn theo mùa chinh chiến Non sông giục giã đó Mẹ ơi Mẹ đâu còn biết ngày vui nữa Lòng Mẹ buồn, suối lệ ngàn khơi Tóc xanh bỗng chốc thành tơ trắng Làm suối tình con chảy trở trăn Mẹ ơi! tiếng gọi từ nhung nhớ Là tiếng thiêng liêng tự muôn đời Tôn Thất Phú Sĩ Mẹ ơi (trích tập thơ ttps) Tuổi học trò quan trọng lo âu hồi hộp vào những ngày thi cử, nhất là thập niên 60. Con gái thì bình yên đi học nhưng với con trai , kết quả những kỳ thi trung học, đai học là yếu tố quyết định tương lai. Chiến tranh và quân truờng đang mở rộng vòng tay chờ đón nhưng thí sinh con trai không may thi rớt. Mỗi lần tôi đi thi là mỗi lần Mẹ lo lắng đến ốm nhom, trông rất thê thảm. Ngoài s.ư mong muốn cho tôi có một tương lai tốt đẹp đủ để sống với đời ; Mẹ lo nhất là tôi phải vào lính . Mẹ sợ tôi bỏ thây nơi chiến trường hay trở thành thương phế giống như tất cả các Bà Mẹ khác thời bấy giờ. Mỗi lần tôi đi thi, tôi không nghĩ thi cho tôi mà thi cho Mẹ .Còn chừng một tháng đến ngày thi, Mẹ lo cho tôi từng bửa cơm sao cho đủ chất bổ duỡng , rồi thuốc bổ óc, bổ máu, bổ thần kinh ... Có nhiều lần tôi cằn nhằn không chịu uống. Mẹ phải dỗ dành, Mẹ uống một viên, tôi uống một viên. Biết rằng TỔ QUỐC lâm nguy thì toàn dân phải có trách nhiệm bảo vệ, thanh niên là rường cột nuớc nhà, giặc đến nhà đàn bà phải đánh nhưng làm sao hơn khi tình Mẹ thương con là bao la như vậy. Xin đừng trách nguời Mẹ khi ngày ngày Mẹ lặng lẻ nhìn những đám tang đi qua, quan tài phủ màu cờ ...Sợ hãi nghĩ đến nỗi đau tận cùng nếu phải mất con. Lòng yêu nuớc và lòng Mẹ xin để cho con tim phán xét. Thời trung học không có một kỳ thi nào mà Mẹ không đi theo con. Trong phòng thi tôi thấy thấp thoáng Mẹ cười , nụ cười tươi mát như trao cho tôi niềm tin, giúp trí tôi minh mẩn hơn. Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào, tha thiết như vừng trăng rằm mùa Thu, trong tôi tiếng nói và chữ viết không đủ để ca tụng LÒNG MẸ. Kỳ thi nào Mẹ cũng mong tôi thi đỗ, thế mà có một kỳ thi Me sợ tôi thi đỗ, đó là kỳ thi vào truờng Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân. Khi nộp đơn thi tôi trấn an Mẹ:" bạn bè rủ, con nộp đơn thi cho vui thôi, con không có trở ngại việc học, con không đi lính đâu". Mẹ im lặng không nói gì nhưng tôi biết Mẹ lo lắng. Một buổi chiều Xuân năm đó, trời nắng trong và mát, hoa đào, hoa mai nở rộ bày bán tưng bừng dọc theo đuờng Trần Hưng Đạo HUẾ, tôi từ truờng ra, không về nhà vội, thả bộ qua cầu Truờng Tiền để mơ mộng. Tôi chợt thấy một toán thanh niên đồng lứa tuổi tôi trong bộ đồng phục Hải quân rất dễ thương và giang hồ làm sao! Vốn ưa thích du lịch qua biển nọ sông kia, lại bị ảnh huởng con dế mèn phiêu lưu của Tô Hoài, hình ảnh những sinh viên sĩ quan áo trắng ám ảnh tôi từ hôm nay .Tôi mơ cùng con tàu vượt trùng dương về những bờ bến lạ . Thế là cuối năm học tôi theo bạn nộp đơn thi vào Hải Quân. Miền Trung thi tuyển 103 sinh viên, lấy 13 nguời . Địa điểm thi là Sơn Trà Hải khu Đà Nẵng. Tôi không ngờ tôi thi đậu. Tôi cương quyết bỏ truờng , bỏ lớp, bỏ ngành y dài đăng đẳng để đi làm người thuỷ thủ cho thoả mộng giang hồ. Me khuyên tôi thế nào cũng không được. Ba Me tôi buồn lắm, kể cả thằng em sắp vào đại học cũng ngăn cản tôi. Trong thời gian chờ nhập ngủ, không còn tiếng cười trong gia đình tôi, mọi nguời trở nên yên lạng .Mo^.t hôm Mẹ đeo vào cổ tôi một dây chuyền có lá bùa hộ mạng. Me nói Me thỉnh lá bùa này của một vị sư trong chùa, lá bùa kỵ thuỷ giữ gìn mạng sống cho tôi trong đời làm thuỷ thủ. Tôi không tin nhưng vẫn đeo cho Mẹ yên lòng. Sau này tôi may thêm vào lá bùa hình Me tôi và suốt đời đeo nơi cổ cho đến bây giờ. Ngày tôi xuống tàu đi Nha Trang nhập ngủ, nuớc sông Hàn dâng cao,trời mưa , gió lạnh. Hình ảnh Ba Me và em tôi đưa tiễn mờ dần khi chiếc tàu từ từ rời cầu tàu ra xa, xa da^`n Mẹ tôi, nguời Mẹ yêu quý của tôi đang khóc như chính lòng tôi đang khóc nghĩ đến người thân. Tháng Năm là tháng Sinh Nhật và cũng là tháng giỗ Mẹ tôi. Mẹ tôi mất khi người tròn 70 tuổi. Ngày tiễn đưa Mẹ ra nghĩa trang thành phố Courcouronnes, nơi gia đình tôi cư ngụ, hai hàng cây bên đuờng nở toàn hoa trắng. Dòng sông Seine uốn khúc chạy quanh, hoa trắng rơi như hoa bụi bay suốt con đuờng đưa Mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng. Thành phố đang chuẩn bị đón ngày Lễ Mẹ. Thân thể tôi lạnh băng như không còn dòng máu lưu thông, hồn tôi quấn quít bên quan tài Mẹ. Tôi không tin, nhất định tôi không tin, một ngàn lần , một vạn lần tôi không tin là Mẹ đã bỏ tôi ra đi vĩnh viễn. Tôi nghĩ Mẹ đi chơi một chút, chốc nữa Mẹ về với con. Và đến bây giờ tôi vẫn còn nghĩ vậy. Nhân ngày Lễ Mẹ, tôi tham lam muốn gom tất cả những ca tụng về Mẹ của mọi nguời để dành riêng ca tụng MẸ TÔI. MẸ ƠI ! con muốn gọi Mẹ đến hơi thở cuối đời. Paris Ngày Lễ Mẹ 12-05-2003
Tôn Thất Phú Sĩ
Publié le 23/07/2008 à 10:04
Par clb-vh
Chia tay nhau, em trở về xứ lạ Con phố chiều quay quắt thiếu người thương Bên kia trời hẳn là cõi vấn vương Để anh gọi tên em làm điểm hẹn Chia tay nhau, như một lời nhắn nhủ Mỗi ngày qua là mỗi nhớ nhung về Tâm hồn anh ngọn núi lửa đam mê Không yên nghỉ vở tan thành mảnh vụn Em đi rồi Paris buồn gió cuốn Chiều sông Seine đâu nữa bước song đôi Hạnh phúc nào đưa thuyền tìm Bến Đợi Anh thẩn thờ vuôn sới mối tình si Có một lần cô đơn về bóp nghẹt Trái tim anh đau nhói buốt đợi chờ Anh gọi vô cùng vòng tay rộng mở Ôm cho tròn hình bóng dáng kiêu sa
Có một lần anh đi qua bến mộng Thấy em cười lồng lộng tóc mây đưa Mùa thu về lá vàng rơi trước cửa Vẫn xa xôi .. .vẫn sóng vỗ bạt ngàn Con thuyền tình BẾN ĐỢI Tháng ngày trôi...
Tôn Thất Phú Sĩ
Publié le 22/07/2008 à 21:35
Par clb-vh
Lời Kêu Gọi Khẩn thiết Giúp Đỡ cho Trưởng Nữ của Cố Thiếu Tướng Lê Văn Hưng.
Kính Gủi: Tất cà quý Chiến Hữu QLVNCH, Đặc biệt quý vị từng phục vụ dưới quyền Tướng Lê Văn Hưng Quý đồng bào Việt Nam tại Hải Ngoại Ba mươi ba năm trước đây, khi miền Nam thất thủ, Thiếu tướng Lê Văn Hưng đã cùng nhiều quân nhân anh hùng đã chọn cái chết để bảo toàn khí tiết. Hành động can trường đó đã để lại trong lòng chúng ta những niềm kính phục, tiếc thương vô vàn. Chúng ta đã viết hàng trăm bài báo ca tụng, hát hàng chục bài hát vinh danh. Nhưng rất ít khi chúng ta có dịp thực hiện một sự báo đền xứng đáng đối với các anh hùng và gia đình họ. Thì nay, qua bài báo của nhà văn Văn Quang đăng trên Văn Nghệ ở Úc, chúng ta biết tin cô Lê Ánh Tuyết, con gái đầu cuả Tướng Hưng đang lâm cảnh khốn cùng với mẹ (Vợ đầu của Tướng Hưng) trong một căn nhà rách nát ở Sài Gòn. Bà Mai,(vợ đầu của Tướng Hưng) hiện đau yếu trầm trọng.
Tâm đắc câu Huynh Đệ Chi Binh, và thấm nhuần nhân nghĩa cổ truyền là luôn nhớ ơn những anh hùng tử sĩ đã hy sinh cho đại nghĩa; chúng ta bắt buộc phải có hành động khẩn thiết để giúp đỡ cho bà Mai và cô Tuyết trong cơn khốn cùng của họ. Là các quân nhân từng phục vụ dưới quyền Tướng Hưng, chúng tôi xin đứng ra nhận trách nhiệm quyên góp và xin hứa sẽ chu toàn nhiệm vụ, xứng đáng với lòng tin cậy của quý vị. Chúng tôi sẽ nhờ các cơ quan truyền thông (vietland.net, Canhthep.com, báo KBC Hải Ngoại, báo Con ong Việt, Chính Nghĩa, Sóng Thần… ) để thông báo tin tức và báo cáo cập nhật tài chánh để quý vị theo dõi.
Xin gửi chi phiếu về; Republic of Vietnam Veterans Association of Austin 16204 Viki Lynn Pl. Pflugerville, TX 78660 Memo : Le Van Hung
Hoặc Lê Tường Vũ (KBCHai Ngoai) 9353 Bolsa Ave., St# M-41 Westsminster, CA 92683
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý vị, và kính chúc quý vị mọi điều hạnh phúc.
Đỗ Văn Phúc, Lê Tường Vũ (Cựu Quân nhân Sư Đoàn 5 Bộ Binh)
Đính Kèm: Thư từ Úc Châu:
Cuộc đời binh nghiệp Th T. Hưng: http://thuducnamdinh.tripod.com/LeVanHung.htmlFrom: Tuan Le Subject: [PhoNang] Trưởng Nữ của Cố chuẩn tướng Lê Văn Hưng To: phonang@yahoogroups .com Date: Sunday, July 13, 2008, 5:17 AM
Kính thưa Quý vị,
An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt cách dù vị quốc vong thân
Chắc chắn ai cũng biết Người hùng An Lộc, Tướng Lê văn Hưng tuẫn tiết trong ngày 30/4/75, để lại bao thương tiếc và lòng kính trọng cho đồng bào Miền Nam Việt Nam. Trong 33 năm qua chúng ta hết lòng ngưỡng mộ các vị Tướng đã tử theo thành, không bút mực nào tả hết hình ảnh uy hùng của các Ông, cũng không bút mực nào tả hết lòng kính phục của chúng ta đối với các Ông.
Hôm qua, TL đọc được bài "Gặp gỡ con gái đầu lòng của cố Chuẩn tướng Lê Văn Hưng" do nhà văn Văn Quang viết đang trên báo Văn Nghệ (Sydney) số ra ngày 10/7/08. Bài báo cho biết:
"...Hai anh thương binh ngồi trên xe gắn máy ba bánh, kiểu xe dành cho người tàn tật, dẫn đường. Đi vòng vo mãi 5 cây số mới đến đường Dương Quảng Hàm, ...chui vào con hẻm đường đất đá lởm chởm, chúng tôi mới tới được căn nhà tôn khép nép bên hai căn nhà đang xây chẳng biết của đại gia nào....Một người phụ nữ dáng người lam lũ lật đật chạy về. Anh Toàn giới thiệu đó là con gái lớn của Tướng Lê Văn Hưng."
"...Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là là một bà cụ già nằm ngay đơ trên chiếc giường nhỏ kê sát tường....Anh Toàn giới thiệu đó là bà Mai, vợ của Tướng Lê Văn Hưng. ( Tuan Le ghi chú, theo 1 đoạn khác của bài viết : vợ trước)...Người con gái của bà mà chúng tôi gặp ngoài cửa , đỡ lời: Mẹ cháu yếu quá rồi, chẳng còn biết gì đâu".
"...Chúng tôi hỏi hiện nay chị sống ra sao. Chị chỉ lắc đầu, buôn thúng bán bưng được đồng nào hay đồng nấy..."
Thưa Quý vị, theo bài báo cho biết, khi được các quân nhân trong quân đoàn báo tin Tướng Hưng tự sát, mẹ của Tướng Hưng đã ngất đi và sau khi chôn cất con trai xong bà âm thầm uống thuốc tự tử chết.
Ông Văn Quang cũng cho biết địa chỉ của Cô Lê ánh Tuyết (ghi chú: con đầu của Tướng Hưng): 25/510 Q, Phường 16 Quận Gò Vấp (Sài Gòn) Việt Nam. Điện thoại 9846212-nhờ nhắn giùm chị Tuyết.
Sau khi đọc bài này, TL nảy ra ý nghị trong đầu là muốn giúp cô Tuyết và Phu nhân của Tướng Lê Văn Hưng 1 chút gì để gọi là tưởng nhớ công ơn, ngoài lòng kính phục tài đức của Tướng Hưng và ngưỡng mộ khí thái hào hùng Sinh Vi Tướng Tử Vi Thần, nếu mình giúp cho ngưòi thân của Tướng Hưng trong lúc sa cơ thất thế theo vận nước, trong khi mình may mắn vượt thoát được thì cũng là điều nên làm.
Vì vậy TL mạo muội nêu lên ý nghĩ của TL là muốn kêu gọi trong vòng thân hữu cùng nhau góp 1 chút tài chánh gởi về giúp cô Tuyết và Bà Mai. Nếu được thân hữu ủng hộ nghĩa cử này, xin vui lòng liên lạc TL qua diễn đàn Phố Nắng ( để mọi chuyện minh bạch) hoặc có thể liên lạc trực tiếp với Cô Tuyết qua địa chỉ và số phone bên trên.
Cuối cùng cám ơn Nhà văn Văn Quang (Sài Gòn) và Văn Nghệ Tuần Báo (Sydney) đã loan tải cậu chuyện tưởng như không còn ai biết đến.
Quý vị có thể kiểm chứng câu chuyện này qua email của Văn Nghệ Tuần Báo chủ nhiệm là Ông Nguyễn Vy Túy vntb@optusnet. com.au hay phone (02) 8704 6444.
Kính
Tuan Le Gặp con đầu lòng của cố Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
 | Tướng Lê Văn Hưng khi còn là Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 5. (Ảnh do gia đình cung cấp - Rất tiếc chúng tôi không còn tấm hình nào khác trang trọng hơn)
| Ngày 06/7/2008 * Văn Quang
Rất tình cờ, ngày 2-7 vừa qua, tôi nhận được điện thoại của một anh Thương Phế Binh báo tin vừa biết địa chỉ của bà vợ tướng Lê Văn Hưng hiện đang ở Sài Gòn (cũng xin nhắc lại, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng là một trong 4 vị tướng đã tuẫn tiết vào ngày 30-4-1975). Thông tin này khiến tôi hơi ngỡ ngàng vì theo những tin tức mà tôi biết không được chính xác lắm thì gia đình Tướng Hưng đã định cư tại Mỹ.
Sau đó anh Đoàn Dự điện thoại cho tôi xác nhận cũng được tin “bà quả phụ Lê Văn Hưng đang sống ở Sài Gòn” và một chi tiết quan trọng hơn là hiện nay gia đình đình bà đang sống rất cực khổ. Tất nhiên, tôi phải đi xác minh để tìm hiểu sự thật. Tôi liên lạc với anh Phúc (anh thương phế binh cụt hai chân, một trong số “ba người lính nhảy dù lâm nạn” mà tôi đã có dịp tường trình với bạn đọc). Anh Phúc cố gắng liên lạc với vài anh em thương phế binh khác để tìm người đưa tin.
Sau một hồi vòng vo rồi chúng tôi cũng tìm được người đưa tin, cũng là một trong số những anh em Thương Phế Binh (TPB), đó là anh Toàn, một anh TPB thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến mà dịp Tết năm vừa qua chúng tôi đã có dịp chuyển quà của độc giả đến giúp đỡ gia đình anh.
Buổi sáng ngày thứ năm 3-7, Đoàn Dự đón tôi đi tìm nhà anh Phúc. Những căn nhà của anh em TPB hầu hết đều nằm trong những hóc hẻm rất khó tìm. Cũng may anh Phúc được một người nhờ trông coi căn nhà trong cái hẻm nhỏ sát bên rạp hát Quốc Thanh. Gọi là căn nhà chứ thật ra đây chỉ là một căn phòng nhỏ hẹp bé tẹo nằm sát hông rạp Quốc Thanh, hồi xưa (trước năm 1975) được gọi là chung cư Quốc Thanh, do người chủ là bà Tiêu Thị Mai xây dựng để cho thuê. Sau năm 75 bà buộc phải “hiến” cho nhà nước để hy vọng … chạy cái tội là “địa chủ thành thị” bóc lột dân nghèo. Vài năm sau bà chết, ông chồng được “phân” cho ở một căn phòng trên lầu, đói rách tả tơi. Cuối cùng chung cư được bán cho những người chủ mới. Anh Phúc được một người chủ thương tình cho ở để trông coi nhà giùm. Được ở giữa trung tâm thành phố cũng là may mắn lắm rồi, nhưng cụt hai chân, đi trên hai chiếc ghế thấp bằng hai tay, bán vé số dạo lại cũng là một công việc hết sức nặng nhọc.
Khi tôi và Đoàn Dự đến nơi, anh Phúc lại phải điện thoại cho anh Toàn và một vài anh em TPB khác chờ chúng tôi ở một ngã năm dưới Gò Vấp. Hai chiếc xe gắn máy khởi hành trên những con đường Sài Gòn đầy rẫy những “lô cốt”, vào giờ nào đường cũng kẹt. Xe gắn máy lao lên hè phố gập ghềnh, nhào xuống khe, tha hồ thi tài lái khéo, chen lấn từ 1/4 cái bánh xe. Người Sài Gòn học được ở đây cái tinh thần “lao lên phía trước” bất chấp luât lệ, không biết nhường nhịn bất cứ ai, lịch sự văn minh là thừa.
 | | Bà Nguyễn Xuân Mai | Người vợ đầu của tướng Hưng
Hơn một tiếng sau chúng tôi mới tới được nơi hẹn. Hai anh thương phế binh ngồi chiếc xe gắn máy ba bánh, kiểu xe dành cho người tàn tật, dẫn đường. Đi vòng vo mãi gần 5 cây số mới đến đường Dương Quảng Hàm vẫn thuộc địa phận quận Gò Vấp. Chui vào con hẻm đường đất đá lởm chởm, chúng tôi mới tới được căn nhà tôn khép nép bên hai căn nhà đang xây chẳng biết của đại gia nào. Tôi đã quá quen với những căn nhà ở thật hay ở tạm của gia đình những anh em TPB rồi. Căn nhà nào cũng chui vào hóc hẻm như thế này cả.
Một người phụ nữ dáng người lam lũ lật đật chạy về. Anh Toàn giới thiệu đó là con gái lớn của tướng Lê Văn Hưng. Chúng tôi cùng vào căn nhà tôn mái thấp lè tè. Trong căn phòng chật chội, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là một bà cụ già nằm ngay đơ trên chiếc giường nhỏ kê sát tường. Bà nằm im, mắt chớp nhẹ, nhưng có lẽ bà cũng không cần nhận ra ai, đến làm gì. Nhìn khuôn mặt bà trắng trẻo, phúc hậu như còn để lại “vang bóng” của một thời son trẻ với nhan sắc chắc là rất mặn mà. Anh Toàn giới thiệu nhỏ nhẹ:
 | Chị Lê Ánh Tuyết, con đầu của Tướng Lê Văn Hưng
| - Đó là bà Mai, vợ của tướng Lê Văn Hưng.
Tôi vẫn cứ nghĩ trong việc này có điều gì mình chưa biết. Tuy nhiên, tôi cũng cúi đầu chào bà và biết chắc bà không còn đủ minh mẫn để nghe và trả lời nữa. Người con gái của bà mà chúng tôi đã gặp ngoài cửa, đỡ lời:
- Mẹ cháu yếu quá rồi, chẳng còn biết gì đâu.
Sau khi thăm hỏi qua về cuộc sống của gia đình. Tôi đi ngay vào công việc một cách thẳng thắn:
– Tôi nghe nói phu nhân của tướng Hưng đã định cư ở Mỹ rồi kia mà ?
Người đàn bà ngần ngại gật đầu:
– Vâng, mẹ cháu là vợ trước của ba cháu. Có thể nói, đó là người vợ đầu tiên, kết hôn năm 1951. Hiện cháu còn giấy giá thú. Nhưng sau đó ba mẹ cháu ly dị. Mẹ cháu cũng tái hôn với một người khác. Nhưng cháu ở với bà nội (tức là mẹ của tướng Hưng - NV).
Người đàn bà có vẻ mặt khắc khổ đưa cho chúng tôi xem tờ giấy giá thú được lập từ năm 1951 bằng tiếng Pháp trong đó ghi rõ ngày tháng kết hôn là: 30-10-1951 giữa ông Lê Văn Hưng và cô Nguyễn Xuân Mai tại Bình Hòa, Gia Định. Và dòng cuối cùng ghi rõ là vợ chính thức (Première range).
 | Thẻ căn cước của chị Lê Ánh Tuyết được cấp từ trước năm 1975 (thời Việt Nam Cộng Hòa)
| Người con gái đầu lòng
Nhưng dù có thế thì sau khi đã ly dị, bà Mai đã có gia đình khác. Chỉ còn lại một người con gái là người đàn bà đang ngồi trước mặt chúng tôi. Chị cho tôi xem một Thẻ Căn Cước được cấp từ thời trước 75 (thời Việt Nam Cộng Hòa) và một tờ khai sinh. Trong đó ghi chị tên Lê Ánh Tuyết, năm sinh 1952, là con của ông Lê Văn Hưng và bà Nguyễn Xuân Mai. Như thế chị Tuyết là con đầu lòng của tướng Hưng. Chị cho biết:
– Sau khi bố mẹ cháu không còn sống với nhau nữa, cháu về ở với bà nội cho đến khi lớn. Thường mỗi tuần cháu được đón lên ở với bố cháu. Vì thế các anh sĩ quan làm việc với bố cháu biết cháu rất nhiều. Nhất là Trung Úy Phúc và Trung Úy Nghĩa là Sĩ quan tùy viên của bố. Cháu ở với Bố và Bà nội cho đến khi bố cháu tự sát tại Cần Thơ.
 | Tướng Lê Văn Hưng và Trung Úy Phúc sĩ quan tùy viên (Ảnh do gia đình cung cấp)
| Chị Tuyết đưa cho chúng tôi xem tờ Giấy Xác Nhận của Trung Úy Phúc, trong đó ghi:
“ Tôi là Đoàn Ngũ Phúc, sinh năm 1945…. Trước ngày “giải phóng” tôi là Sĩ quan tùy viên của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng. Lúc ấy là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV tại Cần Thơ.
Tôi xác nhận Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đã tự sát chết lúc 21 giờ tối 30-4-1975 tại tư dinh ở Cần Thơ. Và ngày 01-5-1975 chính tôi cùng gia đình Chuẩn Tướng đã chôn cất Ông tại Cần thơ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời xác nhận trên.
Ngày 6-11-1989”
Sau đó Trung Úy Phúc đi định cư tại Mỹ. Từ Savannah, Trung Úy Phúc có viết thêm một giấy xác nhận khác chi tiết hơn và lời lẽ hùng hồn, khảng khái hơn. Ông cho biết rõ đã làm việc với Tướng Hưng từ năm 1972 khi ông giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ binh. Sau đó ông được cử làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV bên cạnh Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Hai vị này tỏ ra rất tâm đầu ý hợp. Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát ngày 1-5-1975 (sau Tướng Hưng 1 ngày).
Trung Úy Phúc cũng nói rõ “con cháu của các vị đó xứng đáng được hưởng sự giúp đỡ thiết thực qua chương trình ODP… Cô Lê Ánh Tuyết là một ưu tiên”.
 | Căn nhà mái tôn, nơi bà Mai đang sống những ngày cuối đời
| Mẹ tướng Hưng cũng tự tử
Nhưng không hiểu tại sao chị Lê Ánh Tuyết không đi được. Có lẽ phần khác vì còn bà mẹ già không ai phụng dưỡng. Chị có gia đình nhưng không có con và người chồng của chị bệnh tật nhiều nên cuộc sống rất khó khăn. Mẹ chị phải ở nhờ người con dâu vợ của người con trai sau này, chị Tuyết vẫn là người hàng ngày trông nom săn sóc mẹ.
Chị kể lại một chi tiết rất xúc động. Khi được các anh trong Quân đoàn báo tin Tướng Lê Văn Hưng tự sát, bà nội của chị - mẹ của Tướng Hưng - đã ngất đi và sau khi chôn cất con trai xong, bà âm thầm uống thuốc tự tử. Việc này chị Tuyết biết rất rõ vì chị sống bên cạnh bà nội suốt từ bé đến lớn (22 năm). Cho đến khi Bố và Bà Nội mất chị mới trở lại sống với mẹ cho đến nay.
 | Ngay trước mặt là căn nhà 3-4 tầng của một đại gia nào đó đang xây
| Hiện chị Lê Ánh Tuyết ở tại số 25/510 Q, Phường 16, Quận Gò Vấp, TP.HCM.
Điện thoại 9846212 - nhờ nhắn giùm chị Tuyết.
Chúng tôi hỏi hiện nay chị sống ra sao. Chị chỉ lắc đầu, buôn thúng bán bưng được đồng nào hay đồng ấy. Chị cũng cho biết hàng năm cứ đến dịp 30-4 chị thường nhận được sự giúp đỡ của Hội Sĩ Quan HO từ Mỹ gửi về. Mỗi năm 500 USD, thường gửi làm hai ba lần và đề tên bà quả phụ Lê Văn Hưng, song thật ra là để giúp đỡ chị. Nhưng năm nay chị Tuyết không nhận được. Tôi đã giúp ngay chị 100 USD, đó là số tiền của các vị đã nhờ chúng tôi giúp đỡ anh em TPB và người nghèo khổ.
Một hội đoàn giúp hàng năm 500 USD là số tiền không nhỏ. Xin thành thật tri ân những bạn đồng ngũ đã tận tâm giúp đỡ thân nhân những người còn ở lại. Thật ra số người đó là rất nhiều, nhất là những anh quân nhân vốn trước đây đã nghèo, bây giờ lại càng nghèo. Họ không thuộc diện “gia đình chính sách”, không thuộc diện được ưu tiên nên đành chỉ trông vào sức lực của chính mình mà thôi. Còn những anh em Thương Phế Binh càng bi đát hơn. Nhưng không thể biết hết và không thể giúp hết. Tuy nhiên biết được người nào giúp người đó vậy.
Thông tin về sự giúp đỡ TPB
Nhân ở đây tôi cũng xin thông tin về một số vị đã nhờ chúng tôi giúp đỡ anh em Thương Phế Binh (TPB) trong thời gian vừa qua.
Một người bạn cùng khóa với tôi, anh Đặng Hữu Thắng đã gửi 2.000 USD để một nửa giúp anh em TPB, một nửa giúp 1 người nghèo làm nhà tình thương. Chúng tôi đã giúp cho một gia đình ở Lộc Ninh làm một căn nhà khang trang và mua thêm đồ dùng trong gia đình. Và 1.000 USD giúp anh em TPB ở xa Sài Gòn.
Ô bà Trần Văn Trí ở Montreal - Canada qua ông Đỗ Đức Ngọc gửi giúp 300USD.
Anh chị Hoàng Đình Hoạt ở San Jose gửi 200 USD, giúp gia đình anh TB Dương Quang Trung ở Huế. Chúng tôi đã gửi cho cháu Dương Thị Hoa và cháu đã nhận được. 100 còn lại vừa giúp cho chị Lê Ánh Tuyết.
Anh Phạm Thông chủ nhiệm báo Con ong ở Houston chuyển 300 của một vị độc giả báo Con ong và chính anh PhạmThông cũng gửi thêm 200USD để giúp anh em TPB.
Ngoài ra còn một hai vị không tiết lộ danh tính nên chúng tôi xin tôn trọng không nêu tên ở đây.
Tất cả những số tiền đó đã được chuyển đến anh Trưởng làng TPB và đại diện anh em TPB để chọn ra ưu tiên cho những anh em ở xa Sài Gòn đã và sẽ được giúp đỡ cũng như gặp tình trạng khẩn cấp.
Trong dịp vừa qua chúng tôi đã cử một anh TPB đi Huế và Quảng Trị để xác minh và mang quà đến tậy tay từng tay từng anh em TPB cần được giúp đỡ. Trong đó có danh sách của chị Trần Mộng Tú gửi cho tôi gồm 17 anh em ở Quảng Trị và 4 anh ở Huế.
Sau đó còn giúp thêm 5 anh em ở Long An và Sài Gòn. Trong thời gian này anh Giáo (Làng TPB Thủ Đức và Hàm Anh) cũng tiếp tục giúp những anh em mới biết hoặc những người gặp hoàn cảnh cấp bách như đi bệnh viện cấp cứu, tử vong…
Chúng tôi sẽ tiếp tục giúp đỡ những anh em khác mỗi khi cần thiết.
Xin cảm ơn những tấm lòng nhân ái của quý vị.
Văn Quang, Nguồn: http://www.viet.no/content/view/2246/87/
 |
Noter ce blog :
5234 connectés
46903 visiteurs
|