NHỮNG BẢN NHẠC THỊNH HÀNH THỜI ĐỆ NHẤT VNCH - 1954-1963



CỜ BÔNG LAU
NHỮNG ĐỒI HOA SIM
BẾN CŨ
GIÒNG AN GIANG
NẾU VẮNG ANH
TÔI SẼ VỀ THĂM EM
LÚA MÙA DUYÊN THẮM
TIẾNG ĐÀN TÔI
NHỮNG BƯỚC CHÂN ÂM THẦM
NỐI LẠI TÌNH XƯA
Chiều Làng Em
BÔNG HỒNG CÀI ÁO
TRỞ VỀ BẾN MƠ
ANH CHO EM MÙA XUÂN
NẮNG ĐẸP MIỀN NAM
CHUYẾN ĐÒ VĨ TUYẾN
BẢN NHẠC SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG







http:antelechargement.rfi.fr.edgesuite.net/rfi/vietnamien/audio/modules/actuvi/R106/qr_04_10_08.mp3.asx

CỜ BÔNG LAU
NHỮNG ĐỒI HOA SIM
BẾN CŨ
GIÒNG AN GIANG
NẾU VẮNG ANH
TÔI SẼ VỀ THĂM EM
LÚA MÙA DUYÊN THẮM
TIẾNG ĐÀN TÔI
NHỮNG BƯỚC CHÂN ÂM THẦM
NỐI LẠI TÌNH XƯA
Chiều Làng Em
BÔNG HỒNG CÀI ÁO
TRỞ VỀ BẾN MƠ
ANH CHO EM MÙA XUÂN
NẮNG ĐẸP MIỀN NAM
CHUYẾN ĐÒ VĨ TUYẾN
BẢN NHẠC SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG




Cựu Hoàng Bảo Ðại
Tác giả: (nhiều tác giả)

Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (22 tháng 10, 1913 – 31 tháng 7, 1997), là vị vua thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn với niên hiệu Bảo Đại. Ông là vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua chọn nhưng nay thường dùng là tên nhà vua khi tại vị và sau khi thoái vị dưới danh nghĩa cựu hoàng.
Vua Bảo Đại tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên Nguyễn Phúc Thiển, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 (năm Quý Sửu) tại Huế, là con của vua Khải Định và bà Từ Cung Hoàng Thị Cúc. Năm 1922, ông được sách lập Đông Cung Hoàng Thái Tử. Ngày 24 tháng 4 năm 1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm Sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và đưa sang Pháp học ở trường Lycée Condorcet rồi sau ở trường Sciences Po (École Libre Des Sciences Politiques), Paris.
Năm 1925, vua Khải Định băng hà. Ngày 8 tháng 1 năm 1926 ông được tôn kế vị, lấy niên hiệu là Bảo Đại, là vua thứ 13 của triều Nguyễn khi đúng 13 tuổi. Sau khi lên ngôi, ông lại trở sang Pháp để học tiếp, còn việc triều chính trong nước giao cho Tôn Thất Hân nhiếp chính trong thời gian vua vắng mặt.
Tháng 9 năm 1932, vua Bảo Đại hồi loan trở về nước, chính thức làm vua.

Nam Phương Hoàng hậu
Ngày 20 tháng 3 năm 1934, vua Bảo Đại làm đám cưới với Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà làm Nam Phương Hoàng hậu. Đây là một việc làm phá lệ bởi vì kể từ khi vua Gia Long khai sáng triều Nguyễn cho đến các vị vua về sau, các vợ vua chỉ được phong tước Vương phi, sau khi mất mới được truy phong hoàng hậu. Ông là nhà vua đầu tiên thực hiện bỏ chế độ cung tần, thứ phi. Cuộc hôn nhân này cũng gặp phải rất nhiều phản đối vì Nguyễn Hữu Thị Lan là người Công Giáo và mang quốc tịch Pháp.
Vua Bảo Đại đã cho bỏ một số tập tục mà các tiên vương đã bày ra. Từ nay thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn long nhan nhà vua khi nhà vua tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy.

Hình chụp ngày 28 tháng 12/1951 tại thị xã Hòa Bình (Bắc Việt) với Cựu Hoàng Bảo Ðại cùng một số sĩ quan Pháp đang ghé thăm một đơn vị Nhảy Dù.
(HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm)
Vua Bảo Đại cũng cải tổ bộ máy hành chính, cho các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài về hưu, sắc phong thêm 4 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính. Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội Ðồng Tư Vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại ra đạo dụ tuyên cáo Việt Nam độc lập, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Ngày 17 tháng 4 năm 1945, vua Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải tán Viện Dân Biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế Quốc Việt Nam.
Năm 1945, cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công. Ngày 25 tháng 8, chánh phủ lâm thời Hồ Chí Minh buộc vua Bảo Đại phải thoái vị. Vua Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ long trọng ở Ngọ Môn, Huế vào chiều 30 tháng 8, trao quốc ấn Hoàng Ðế Chi Bửu và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện của chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là ông Trần Huy Liệu. Vua Bảo Ðại trở thành "công dân Vĩnh Thụy." Trong dịp này, ông có câu nói nổi tiếng, "thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ."
Tháng 9 năm 1945, Bảo Ðại được Chủ Tịch Chánh Phủ Lâm Thời Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội nhận chức "cố vấn tối cao" trong chánh phủ. Ông là một trong 7 thành viên của Ủy Ban Dự Thảo Hiến Pháp do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Bảo Ðại được bầu làm đại biểu Quốc Hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Ngày 16 tháng 3 năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa sang thăm viếng Trung Quốc, nhưng ông không trở về nước.
Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên "giải pháp Bảo Đại" để chống lại cuộc chiến giành độc lập của phong trào Việt Minh.
Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao Ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long. Bản Tuyên Ngôn Hạ Long ra đời, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập của Việt Nam.
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối liên hiệp Pháp, gọi là Quốc Gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.
Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu hoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ lâm thời của Quốc Gia Việt Nam được thành lập, tấn phong Bảo Đại là quốc trưởng. Bảo Đại cũng tuyên bố tạm kiêm quyền thủ tướng, vì vậy cử tướng Nguyễn Văn Xuân, nguyên là thủ tướng xuống làm phó thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc phòng. Tháng 1 năm 1950, Bảo Đại chỉ định Nguyễn Phan Long làm thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao trong một thời gian ngắn.
Quốc Trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Xung quanh nơi ở của Bảo Đại có cả một trung đoàn ngự lâm quân bảo vệ và có cả một đoàn xe riêng gọi là "công xa biệt điện." Lại có cả một đội máy bay riêng do các phi công người Pháp lái phục vụ.
Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp phải rút khỏi Đông Dương, nước Việt Nam chia đôi tại Vĩ Tuyến 17. Miền Bắc thuộc Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng Sản Việt Nam, và miền Nam thuộc chánh phủ Quốc Gia Việt Nam. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1955, Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế sau cuộc trưng cầu dân ý và bắt đầu cuộc sống lưu vong tại Pháp cho đến khi qua đời.
Ông sống tại Cannes, sau đó chuyển đến vùng Alsace. Bảo Đại giao du với Jean de Beaumont, cựu nghị sĩ Nam Kỳ, một tay săn bắn có hạng. Bị cơ quan thuế để mắt tới, không còn tiền tài trợ của chính phủ Pháp, ông phải bán dần tài sản của mình. Năm 1963, Nam Phương Hoàng hậu qua đời ở Chabrignac.
Tháng 2 năm 1972, khi đã tiêu pha hết cả tài sản, Bảo Đại kết hôn với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại 30 tuổi.
Năm 1982, nhân khai trương Hội Hoàng Tộc ở hải ngoại, Bảo Đại lần đầu tiên sang thăm Mỹ với tư cách cá nhân. Trong chuyến đi này ông đã nhận tên cha để làm lại giấy khai sinh cho những người con ngoại hôn trước đây không ghi tên cha. Tại thị trấn Sacramento, ông được tặng chiếc chìa khóa vàng tượng trưng cho thị trấn này. Ông cũng được bà thị trưởng thành phố Westminster, California tặng danh hiệu "công dân danh dự" của thành phố.
Năm 1988, Bảo Đại làm lễ rửa tội, lấy tên thánh là Jean-Robert.
Cựu hoàng Bảo Đại là vị vua thọ nhất nhà Nguyễn. Ông mất ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân Y viện Val De Grace, hưởng thọ 83 tuổi. Ông cũng là một phế đế sống thọ nhất trên thế giới thời hiện đại. Trước đó ông có nhận lời về tham dự hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp (La Francophonie) được tổ chức tại Hà Nội vào 1997 sau đó vài tháng.
Đám tang Bảo Đại được chính phủ Pháp tổ chức với một tiểu đội lính lê dương và sĩ quan mang quốc kỳ Pháp, quân phục trắng, gù đỏ trên vai, bồng súng đi bên linh cữu. Ông được an táng tại nghĩa trang Passy, quận 16, Paris, gần tháp Eiffel.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi điện chia buồn đến tang quyến và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã gửi vòng hoa viếng.
Vietnam War 1954-1974
Tác giả: (nhiều tác giả)
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (22 tháng 10, 1913 – 31 tháng 7, 1997), là vị vua thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn với niên hiệu Bảo Đại. Ông là vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua chọn nhưng nay thường dùng là tên nhà vua khi tại vị và sau khi thoái vị dưới danh nghĩa cựu hoàng.
Vua Bảo Đại tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên Nguyễn Phúc Thiển, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 (năm Quý Sửu) tại Huế, là con của vua Khải Định và bà Từ Cung Hoàng Thị Cúc. Năm 1922, ông được sách lập Đông Cung Hoàng Thái Tử. Ngày 24 tháng 4 năm 1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm Sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và đưa sang Pháp học ở trường Lycée Condorcet rồi sau ở trường Sciences Po (École Libre Des Sciences Politiques), Paris.
Năm 1925, vua Khải Định băng hà. Ngày 8 tháng 1 năm 1926 ông được tôn kế vị, lấy niên hiệu là Bảo Đại, là vua thứ 13 của triều Nguyễn khi đúng 13 tuổi. Sau khi lên ngôi, ông lại trở sang Pháp để học tiếp, còn việc triều chính trong nước giao cho Tôn Thất Hân nhiếp chính trong thời gian vua vắng mặt.
Tháng 9 năm 1932, vua Bảo Đại hồi loan trở về nước, chính thức làm vua.

Nam Phương Hoàng hậu
Ngày 20 tháng 3 năm 1934, vua Bảo Đại làm đám cưới với Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà làm Nam Phương Hoàng hậu. Đây là một việc làm phá lệ bởi vì kể từ khi vua Gia Long khai sáng triều Nguyễn cho đến các vị vua về sau, các vợ vua chỉ được phong tước Vương phi, sau khi mất mới được truy phong hoàng hậu. Ông là nhà vua đầu tiên thực hiện bỏ chế độ cung tần, thứ phi. Cuộc hôn nhân này cũng gặp phải rất nhiều phản đối vì Nguyễn Hữu Thị Lan là người Công Giáo và mang quốc tịch Pháp.
Vua Bảo Đại đã cho bỏ một số tập tục mà các tiên vương đã bày ra. Từ nay thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn long nhan nhà vua khi nhà vua tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy.
Hình chụp ngày 28 tháng 12/1951 tại thị xã Hòa Bình (Bắc Việt) với Cựu Hoàng Bảo Ðại cùng một số sĩ quan Pháp đang ghé thăm một đơn vị Nhảy Dù.
(HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm)
Vua Bảo Đại cũng cải tổ bộ máy hành chính, cho các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài về hưu, sắc phong thêm 4 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính. Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội Ðồng Tư Vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại ra đạo dụ tuyên cáo Việt Nam độc lập, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Ngày 17 tháng 4 năm 1945, vua Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải tán Viện Dân Biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế Quốc Việt Nam.
Năm 1945, cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công. Ngày 25 tháng 8, chánh phủ lâm thời Hồ Chí Minh buộc vua Bảo Đại phải thoái vị. Vua Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ long trọng ở Ngọ Môn, Huế vào chiều 30 tháng 8, trao quốc ấn Hoàng Ðế Chi Bửu và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện của chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là ông Trần Huy Liệu. Vua Bảo Ðại trở thành "công dân Vĩnh Thụy." Trong dịp này, ông có câu nói nổi tiếng, "thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ."
Tháng 9 năm 1945, Bảo Ðại được Chủ Tịch Chánh Phủ Lâm Thời Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội nhận chức "cố vấn tối cao" trong chánh phủ. Ông là một trong 7 thành viên của Ủy Ban Dự Thảo Hiến Pháp do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Bảo Ðại được bầu làm đại biểu Quốc Hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Ngày 16 tháng 3 năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa sang thăm viếng Trung Quốc, nhưng ông không trở về nước.
Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên "giải pháp Bảo Đại" để chống lại cuộc chiến giành độc lập của phong trào Việt Minh.
Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao Ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long. Bản Tuyên Ngôn Hạ Long ra đời, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập của Việt Nam.
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối liên hiệp Pháp, gọi là Quốc Gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.
Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu hoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ lâm thời của Quốc Gia Việt Nam được thành lập, tấn phong Bảo Đại là quốc trưởng. Bảo Đại cũng tuyên bố tạm kiêm quyền thủ tướng, vì vậy cử tướng Nguyễn Văn Xuân, nguyên là thủ tướng xuống làm phó thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc phòng. Tháng 1 năm 1950, Bảo Đại chỉ định Nguyễn Phan Long làm thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao trong một thời gian ngắn.
Quốc Trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Xung quanh nơi ở của Bảo Đại có cả một trung đoàn ngự lâm quân bảo vệ và có cả một đoàn xe riêng gọi là "công xa biệt điện." Lại có cả một đội máy bay riêng do các phi công người Pháp lái phục vụ.
Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp phải rút khỏi Đông Dương, nước Việt Nam chia đôi tại Vĩ Tuyến 17. Miền Bắc thuộc Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng Sản Việt Nam, và miền Nam thuộc chánh phủ Quốc Gia Việt Nam. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1955, Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế sau cuộc trưng cầu dân ý và bắt đầu cuộc sống lưu vong tại Pháp cho đến khi qua đời.
Ông sống tại Cannes, sau đó chuyển đến vùng Alsace. Bảo Đại giao du với Jean de Beaumont, cựu nghị sĩ Nam Kỳ, một tay săn bắn có hạng. Bị cơ quan thuế để mắt tới, không còn tiền tài trợ của chính phủ Pháp, ông phải bán dần tài sản của mình. Năm 1963, Nam Phương Hoàng hậu qua đời ở Chabrignac.
Tháng 2 năm 1972, khi đã tiêu pha hết cả tài sản, Bảo Đại kết hôn với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại 30 tuổi.
Năm 1982, nhân khai trương Hội Hoàng Tộc ở hải ngoại, Bảo Đại lần đầu tiên sang thăm Mỹ với tư cách cá nhân. Trong chuyến đi này ông đã nhận tên cha để làm lại giấy khai sinh cho những người con ngoại hôn trước đây không ghi tên cha. Tại thị trấn Sacramento, ông được tặng chiếc chìa khóa vàng tượng trưng cho thị trấn này. Ông cũng được bà thị trưởng thành phố Westminster, California tặng danh hiệu "công dân danh dự" của thành phố.
Năm 1988, Bảo Đại làm lễ rửa tội, lấy tên thánh là Jean-Robert.
Cựu hoàng Bảo Đại là vị vua thọ nhất nhà Nguyễn. Ông mất ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân Y viện Val De Grace, hưởng thọ 83 tuổi. Ông cũng là một phế đế sống thọ nhất trên thế giới thời hiện đại. Trước đó ông có nhận lời về tham dự hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp (La Francophonie) được tổ chức tại Hà Nội vào 1997 sau đó vài tháng.
Đám tang Bảo Đại được chính phủ Pháp tổ chức với một tiểu đội lính lê dương và sĩ quan mang quốc kỳ Pháp, quân phục trắng, gù đỏ trên vai, bồng súng đi bên linh cữu. Ông được an táng tại nghĩa trang Passy, quận 16, Paris, gần tháp Eiffel.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi điện chia buồn đến tang quyến và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã gửi vòng hoa viếng.
Vietnam War 1954-1974

http:antelechargement.rfi.fr.edgesuite.net/rfi/vietnamien/audio/modules/actuvi/R106/qr_04_10_08.mp3.asx














