iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 09/06/2007 à 13:06
Par haiquan

 

Hoàn cảnh chánh trị lúc Quân Đội Quốc Gia VN ra đời


Lịch sử thành lập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là một tiến trình khá phức tạp trải dài trong nhiều năm, và g¡n liền với những diễn biến của giòng lịch sử Việt Nam cận đại. Để độc giả có một ý niệm khái quát về sự hình thành đó, chúng tôi xin tóm lược hoàn cảnh chính trị của nước nhà vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam b¡t đầu bùng nổ.

Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, quân đội viễn chinh Pháp trở sang Đông Dương đem theo lực lượng hùng hậu chiếm đóng ba xứ Việt, Miên, Lào, với manh tâm đặt lại nền đô hộ trên các thuộc địa cũ theo chánh sách thực dân cố hữu của người Pháp. Tướng De Gaulle bổ nhiệm đô đốc Thierry d'Argenlieu làm cao ủy Đông Dương và danh tướng Leclerc de Haute Cloque làm tư lệnh quân đội viễn chinh. Vào cuối tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp đã núp bóng quân đội Anh do tướng Gracey chỉ huy để giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở xuống.

Cuộc xâm lăng mới của Pháp này đã gặp sức kháng cự mạnh mẽ của người Việt Nam, nhất là các đoàn thể võ trang như Việt Minh, Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên trong miền Nam, và các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt ở miền Trung và B¡c. Mặc dù tinh thần kháng chiến chống thực dân của dân ta rất cao, nhưng vì vũ khí thô sơ và tổ chức còn rời rạc, nên các lực l ượng võ trang này bị quân Pháp đánh bại mau lẹ. Đa số phải rút về thôn quê hay vào bưng biền để tổ chức trường kỳ kháng chiến. Tuy một số dân chúng còn lại ở các thành phố và vùng bị chiếm đóng đã phải ngả theo Pháp vì lý do sinh kế hoặc muốn được yên thân, nhưng trong lòng đa số dân Việt lúc đó đều nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, mong sớm phục hồi được độc lập và thống nhất cho quốc gia.

Trong số những người phải ra cộng tác với Pháp, một số đã gia nhập quân đội viễn chinh và được gọi là Thân Binh Đông Dương (Partisans Indochinois). Về sau, vì nhu cầu chiến tranh bành trướng mau lẹ, người Pháp đã tuyển mộ lính địa phương tại chỗ và lập thành các lực lượng phụ thuộc (forces suppletives) do sĩ quan Pháp chỉ huy. Tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng: không phải ai hợp tác với người Pháp cũng đều là Việt Gian. Ngược lại, nhiều người là những phần tử Quốc Gia chân chính chỉ muốn nhờ cậy vào thế lực của Pháp để chống lại bọn Cộng Sản Việt Minh.

Sang năm 1948, giải pháp Bảo Đại ra đời với chủ trương đoàn kết các lực lượng quốc gia để chống Việt Minh, vì lúc đó thành phần này đã ngả theo phe Cộng Sản quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Nga, Tàu để chống lại khối dân chủ tây phương.

Theo hiệp ước Élysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa quốc trưởng Việt Nam Bảo Đại và tổng thống Pháp Vincent Auriol, nước Việt Nam được trao trả nền độc lập, có quân đội và chính sách ngoại giao riêng. Do đó, quân đội Việt Nam được chính thức thành lập và lấy tên là Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

Thời kỳ phôi thai (1946-1949)

Do nghị định quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, quân độc Việt Nam được thành lập, lúc đầu lấy tên là Vệ Binh Quốc Gia (Garde Nationale). Quân Đội Việt Nam lúc này có qui chế riêng và lương bổng được hưởng tương đối cao hơn phụ lực quân lúc trước. Ba đơn vị chiến đấu đầu tiên được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1949 là các tiểu đoàn bộ binh số 18, 2, và 3, gọi t¡t là BVN (Batallion Vietnamien hay Bê Vê En). Lần lượt, các lực lượng quân sự phụ thuộc khác như Cộng Hòa Vệ Binh trong Nam, Bảo Vệ Quân ở miền Trung (sau đổi tên là Việt Binh Đoàn) và Bảo Chính Đoàn ở B¡c, v.v. được thuyên chuyển qua hoặc sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia. Còn các lực lượng võ trang của các giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên tại miền Nam Việt Nam hoặc trở về hợp tác với chánh phủ quốc gia, hoặc rút vào bưng, nhưng sau đó cũng bị tiêu diệt lần hồi. Quân số Quân Đội Quốc Gia Việt Nam vào cuối năm 1949 là 45,000 người, không kể các lực lượng còn trong hệ thống quân đội Pháp.
 

Thời kỳ thành lập (1950-1952)

Ngày 11 tháng 5 năm 1950, thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập Quân Đội Quốc Gia với lập trường chống Cộng, gia tăng quân số lên 60,000 người, do ngân sách quốc gia đài thọ 40%, phần còn lại do Pháp gánh chịu. Viện trợ Mỹ cũng b¡t đầu giao thẳng cho các đơn vị Việt Nam, chứ không qua trung gian quân đội Pháp theo chương trình Viện Trợ Hỗ Tương Quốc Phòng MDAP (Mutual Defense Assistance Program). Trưởng phái bộ viện trợ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam là đại tướng O'Daniel. Các quân trường lớn được b¡t đầu thành lập trong thời kỳ này gồm có: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, Trường Sĩ Quan Thủ Đức và Nam Định. Trường Sĩ Quan Trừ Bị sau này được đổi tên là Trường Bộ Binh Thủ Đức. Các trung tâm nhập ngũ dùng để huấn luyện binh sĩ quân dịch cũng được thành lập tại Quang Trung (Nam Việt), Phú Bài (Trung Việt) và Quảng Yên (B¡c Việt).

Đến năm 1951, sau khi bị thất bại nặng tại vùng Cao-B¡c-Lạng, Pháp muốn tăng cường Quân Đội Quốc Gia Việt Nam để nhận lãnh trách nhiệm bình định và an ninh lãnh thổ. Do đó, tướng De Lattre de Tassigny đã đề nghị thành lập nhiều tiểu đoàn hoàn toàn Việt Nam do các sĩ quan người Việt chỉ huy.

Ngày 5 tháng 5 năm 1951, Bộ Quốc Phòng Việt Nam mới thật sự thành hình, với những cơ cấu tổ chức đầu não như Bộ Tổng Tham Mưu, Nha Quân Pháp, Nha Thanh Tra, Tổng Nha Hành Chánh & Quân Lương, Nha Quân Cụ, Nha Quân Y, v.v.

Lệnh tổng động viên được ban hành theo dụ số 26, ngày 15 tháng 7 năm 1951, gọi các sinh viên sĩ quan nhập ngũ khóa trừ bị đầu tiên và 60,000 thanh niên thi hành quân dịch. Cuối năm 1951, quân số dưới cờ lên tới 110,000 người. Các đơn vị nòng cốt được thành lập trong thời kỳ này là:

    - Tiểu Đoàn Nhẩy Dù
    - Đại Đội 1 & 3 Truyền Tin
    - Đệ Nhất (I) Chi Đoàn Thám Thính Xa
    - Tiểu Đoàn Pháo Binh
    - Đại Đội 2 & 3 Công Binh

Qua năm 1952, để gia tăng nỗ lực chiến tranh, Bộ Tổng Tham Mưu được tách riêng khỏi trụ sở Bộ Quốc Phòng và đặt tổng hành dinh tại tòa nhà lầu góc đại lộ Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng (Chợ Quán). Vị tổng tham mưu trưởng đầu tiên là thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, con trai của thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, nguyên là cựu trung tá Không Quân Pháp.

Vào tháng 7 năm 1952, Bộ Chỉ Huy các quân khu được thành lập như sau:

    - Đệ Nhất Quân Khu gồm Nam Việt
    - Đệ Nhị Quân Khu gồm Trung Việt
    - Đệ Tam Quân Khu gồm B¡c Việt

Cuối năm 1952, Quân Đội Quốc Gia có 148,000 người, gồm 95,000 quân chánh qui và 53,000 bảo an địa phương. Các đơn vị gồm có:

    - 59 tiểu đoàn bộ binh
    - 2 tiểu đoàn nhẩy dù
    - 2 tiểu đoàn ngự lâm quân
    - 8 tiểu đoàn sơn cước

Về cơ giới có:

    - 6 chi đoàn thám thính xa
    - 1 tiểu đoàn pháo binh và 8 pháo đội biệt lập
    - 6 đại đội vận tải
    - 6 đại đội truyền tin
    - 2 liên đoàn tuần giang

Cũng trong thời kỳ này, các quân chủng không quân và hải quân đã b¡t đầu đặt nền móng tại Nha Trang, là nơi có thời tiết lý tưởng cho việc huấn luyện. Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân được thành lập vào tháng 4 năm 1952 (sẽ nói rõ hơn trong phần lược sử binh chủng Không Quân và Hải Quân).

Thời kỳ phát triển (1953-1954)

Theo đà phát triển, kể từ đầu năm 1953 cho tới khi ký kết hiệp định Geneve (ngày 20 tháng 7 năm 1954), có 4 sự kiện sau đây đáng được ghi nhận:

    1. Phát triển các bộ tham mưu, các cơ sở chỉ huy từ trung ương đến các quân khu, tiểu khu theo một hệ thống của quân đội có qui uớc hẳn hoi.

    2. Thành lập thêm Sư Đoàn 7 Bộ Binh và 54 tiểu đoàn khinh quân để hành quân vùng đồng ruộng thay thế quân đội Pháp.

    3. Thành lập 15 liên đoàn bộ binh và 1 liên đoàn nhẩy dù.

    4. Tiến hành công việc Việt hóa bằng cách chuyển dần các lãnh thổ và công tác hành quân cho người Việt, khởi đầu là các tiểu khu Mỹ Tho (Nam Việt), Hưng Yên, và Bùi Chu (B¡c Việt).

Ngày 12 tháng 4 năm 1954, thủ tướng Bửu Lộc ban hành lệnh tổng động viên, ấn định rằng mọi thanh niên Việt Nam sanh từ ngày 1 tháng 1 năm 1929 đến ngày 31 tháng 12 năm 1933 đều phải nhập ngũ. Ngoài ra, mọi thanh niên tuổi từ 18 đến 45 cũng không được phép xuất ngoại trong thời kỳ chiến tranh. Tòa án quân sự được thành lập để xét xử các thanh phần bất phục tòng hay đào ngũ.

Thời kỳ độc lập (1954 trở về sau)

Sau cuộc ngưng b¡n do hiệp ước Geneve ấn định, các đơn vị của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đồn trú tại phía b¡c vĩ tuyến 17 được lần lượt di chuyển vào Nam kể từ tháng 8 năm 1954. Phần lớn các đơn vị đóng chung quanh Hà Nội và Hải Phòng được đưa vào vùng Đà Nẵng, Nha Trang, và các tỉnh miền Trung. Các tiểu đoàn Nùng (sơn cước) được đưa vào Cam Ranh để sau này thành lập sư đoàn Nùng tại sông Mao do đại tá Wòng A Sáng chỉ huy. Bộ Tư Lệnh Đệ Tam Quân Khu dời vào Nha Trang. Riêng các trung tâm huấn luyện Hà Nội và Quảng Yên được sát nhập vào Trung Tâm Quán Tre thuộc tỉnh Gia Định.

Cũng trong thời gian này, các lực lượng võ trang giáo phái như Cao Đài, Hoà Hảo, được sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia để thành lập một quân lực có sự chỉ huy thống nhất trên toàn quốc. Riêng có một nhóm Hòa Hảo ly khai chừng vài ngàn người, dưới quyền chỉ huy của trung tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt, rút vào Cao Miên để chống lại chính phủ.

Ngày 26 tháng 10 năm 1955, khi cử hành lễ đăng quan của tổng thống Ngô Đình Diệm và cũng là ngày khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Quân Đội Quốc Gia được đổi tên là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc đó, quân số hiện diện dưới cờ là 167,000 người.

Thời kỳ hiện đại hóa (1961-1975)

Kể từ lúc mang danh xưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), quân đội là lực lượng nồng cốt bảo vệ an ninh và bình định lãnh thỗ miền Nam từ vĩ tuyến 17 cho đến mũi Cà Mau. Trong thời kỳ này, quân lực Việt Nam chú trọng đến việc gia tăng khả năng tác chién, đặt vấn đề huấn luyện lên hàng đầu. Nhiều đợt sĩ quan Hải Lục Không quân được gởi đi tu nghiệp tại ngoại quốc, nhất là tại Hoa Kỳ để chuẩn bị cho việc hiện đại hóa quân đội.

Lúc này, người Mỹ cũng đã có mặt khá đông đảo tại miền Nam và viện trợ quân sự Mỹ có tầm quan trọng đặc biệt, nếu không muốn nói là quyết định trong vấn đề hiện đại hóa. Phái bộ cố vấn quân sự Hoa Kỳ (Military Assistance & Advisory Group, gọi t¡t là MAAG) được đổi thành MAC-V và đặt dưới quyền điều khiển của tướng 4 sao William Wesmoreland.

Về bộ binh, bảng cấp số được tăng lên đến 11 sư đoàn bộ binh, một lực lượng tổng trừ bị gồm Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC). Ngoài ra, còn có nhiều Liên Đoàn Biệt Động Quân (BĐQ) được đặt dưới quyền xử dụng của các quân khu.

Riêng các quân chủng Không Quân và Hải Quân cũng được bành trướng tối đa trong thời kỳ này. Đây là giai đoạn chuyển mình của QLVNCH, biết đổi từ một lực lượng phụ thuộc vào lực lượng viễn chinh Pháp, để trở thành một quân đội hiện đại và được trang bị tối tân nhất vùng Đông Nam Á.

Vì thời kỳ này là giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử hình thành QLVNCH, chúng tôi sẽ lược duyệt lý do và đi sâu vào chi tiết tiến trình hiện đại hóa của những quân binh chủng quan trọng nòng cốt trong quân lực.

Trong những năm từ 1961 đến 1975, Cộng Sản B¡c Việt đã công khai xua quân xâm chiếm miền Nam. Nấp dưới tấm bình phong giả tạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), hàng sư đoàn quân chính qui cộng sản dùng đường mòn Hồ Chí Minh vượt vĩ tuyến 17 vào Nam. Những sư đoàn này được trang bị bằng đủ loại vũ khí tối tân với chiến xa và đại pháo yểm trợ. Nhưng dù ở thế bị động, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã giáng cho bọn cộng sản xâm lược những đòn quyết liệt, điển hình là trận thảm bại trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân vào 1968.

Tuy nhiên sau khi đã dùng chính sách "ngoại giao bóng bàn" để b¡t tay được với Trung Cộng, và cũng vì bị dân chúng phản đối dữ dội, chính phủ Nixon chuẩn bị kế hoạch rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chương trình này được gọi là "Việt hóa cuộc chiến" (Vietnamization).

Nguồn gốc của danh từ "Việt hóa" chỉ là một sự ngẫu nhiên. Nguyên vào khoảng tháng 3 năm 1971, lúc tổng thống Nixon mới đ¡c cử, tướng Andrew Goodpaster lúc đó là phụ tá của tướng Abrams (tướng Abrams là tổng tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam) có tham dự một buổi thuyết trình của Hội Đồng An Ninh Hoa Kỳ. Trong buổi thuyết trình, tướng Goodpaster loan báo rằng Quân Lực VNCH bây giờ đã đủ mạnh, đến độ Hoa Kỳ có thể "không cần Mỹ hóa" (de-Americanizing) cuộc chiến tại Việt Nam nữa. Lúc đó, tổng trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Melvin Laird, một nhà chính trị già đời, cho rằng nếu nói "không còn Mỹ hóa" tức là gián tiếp công nhận trước đây Hoa Kỳ đã biến chiến tranh Việt Nam thành chiến tranh xâm lược giữa đế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam. Như vậy sẽ rơi vào chiêu bài "chống Mỹ cứu nước" của Cộng Sản. Bộ trưởng Laird đề nghị chỉ nên dùng một danh từ nào đó gián tiếp có ý nghĩa là Hoa Kỳ sẽ rút chân khỏi Việt Nam, nhưng tránh không đả động gì tới vấn đề Mỹ hóa. Thí dụ như thay vì nói "de-Americanizing" chẳng hạn. Tổng thống Nixon, cùng là một con cáo già chính trị, lập tức đồng ý: "Bộ trưởng Laird nói có lý." Thế là danh từ "Việt hóa" (Vietnamization) được ra đời trong tự điển Hoa Kỳ.

Thực tế, quân đội Hoa Kỳ tuy đã muốn rút chân khỏi Việt Nam, tức là không còn tham chiến nữa, nhưng lại không muốn bị mất mặt vì đã bỏ rơi đồng minh và bị bọn cộng sản của một tiểu quốc đánh bại. Vì danh từ "de-Americanizing" bao hàm ý nghĩa Hoa Kỳ tháo chạy và bỏ rơi đồng minh, nên danh từ "Việt hóa" được xử dụng. Thật ra, Việt hóa tức là chuyển gánh nặng quân sự sang cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy quân đội Hoa Kỳ sẽ không còn phải tham chiến nữa, tức là "không Mỹ hóa" vậy.

Chương trình "Việt hóa" hay hiện đại hóa QLVNCH được chia ra làm 3 giai đoạn chính:

    Giai đoạn 1: Huấn luyện và trang bị QLVNCH để chuyển giao dần trách nhiệm bộ chiến.
    Giai đoạn 2: Phát triển khả năng yểm trợ của QLVNCH.
    Giai đoạn 3: Các quân nhân Hoa Kỳ nếu còn lại ở Việt Nam, sẽ chỉ giữ vai trò cố vấn.

Tuy mãi đến khoảng đầu thập niên 1970 vấn đề Việt hóa, tức là giao trọng trách trên chiến trường cho QLVNCH, mới được đề cập tới, nhưng trên thực tế, trước khi có chương trình này, QLVNCH cũng đã đảm đương phần lớn gánh nặng của chiến cuộc. Tuy quân lực Hoa Kỳ có tham dự những trận đánh lớn với cộng quân, nhưng các lực lượng QLVNCH đã luôn luôn đụng độ với địch nhiều hơn, và thiệt hại bao giờ cũng cao hơn lực lượng đồng minh.

Mặc dù có nhiều ý kiến chống đối tại Việt Nam cũng như tại Hoa Kỳ, công cuộc "Việt hóa" được tiến triển rất nhanh qua kế hoạch "Hiện Đại Hóa QLVNCH" (gọi t¡t là CRIMP - Consolidated RVNAF Improvement and Modernization Program). Tính đến năm 1972, Hoa Kỳ đã chuyển giao cho QLVNCH:

- Trên 800,000 vũ khí cá nhân và cộng đồng.
- Khoảng 2,000 chiến xa và đại bác.
- Khoảng 44,000 máy truyền tin.

So với năm 1968, QLVNCH có khoảng 700,00, vào cuối năm 1971 tăng lên trên 1 triệu người. Như vậy, QLVNCH đã được canh tân và cải tiến trong đầu thập niên 1970 để có thể thay thế quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường miền Nam. Sau đây, chúng tôi sẽ đi sâu vào thời kỳ hiện đại hóa rất quan trọng của từng quân chủng: Lục Quân, Không Quân, và Hải Quân.

Để giúp quý độc giả, nhất là những bạn trẻ không có dịp chiến đấu trong QLVNCH, dễ dàng n¡m vững được những phần nồng cốt trong bài biên khảo này, chúng tôi xin mạn phép được đề câp sơ qua về cơ cấu tổ chức của QLVNCH.

Tổng quát, Quân Lực VNCH được phân chia làm 3 quân chủng: Hải Quân, Không Quân, và Lục Quân, thường được gọi t¡t là Hải, Lục, Không Quân. Cũng như đa số các quân đội trên thế giới, Lục Quân bao giờ cũng phải đảm đương phần lớn trách nhiệm trong các cuộc chiến, nên quân chủng này quan trọng nhất và có đông quân nhất.

Theo định nghĩa khái quát, Lục Quân gồm các quân nhân đánh giặc "trên mặt đất". Không Quân dùng phi cơ để bay trên trời, và Hải Quân xử dụng các chiến hạm chiến đĩnh trên sông ngòi hay biển cả. Có nhiều người thường xử dụng lẫn lộn danh từ "quân chủng" và "binh chủng", thí dụ như "binh chủng" Không Quân, "binh chủng" Hải Quân"... Điều này cũng không lấy gì làm lạ, vì "quân" hay "binh" cũng đều là lính cả! Tuy nhiên, nếu phân biệt rõ ràng, một binh chủng chỉ là thành phần của một quân chủng, cũng như tiểu đoàn là thành phần của một trung đoàn. Lục Quân là một quân chủng lớn với gần nửa triệu quân dưới cờ, nên được chia thành nhiều binh chủng như: Bộ Binh, Công Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp Binh, v.v. Còn hai Quân Chủng Không Quân và Hải Quân không được chia thành những binh chủng riêng biệt. Nếu chỉ kể riêng về quân số, binh chủng Bộ Binh còn đông hơn cả quân chủng Không Quân và Hải Quân hợp lại.

Đối với các binh chủng đặt biệt như Nhẩy Dù hay Thủy Quân Lục Chiến, tuy có dùng chiếm hạm của Hải Quân hay phi cơ của Không Quân khi đi hành quân, nhưng đều được kể là những binh chủng của Lục Quân.

Xem tiếp phần 1 phần 2

Trần Hội & Trần Đỗ Cẩm (camtran11@yahoo.com)
(Trích Nguyệt San Đoàn Kết (Austin, TX) số 40, tháng 6 năm 1993)




Publié le 06/06/2007 à 10:23
Par haiquan

            
             ĐỌC THƠ BẾN ĐỢI            

Từ khởi thủy, Thơ là tiếng lòng của thi sĩ.
Hình như tiếng thơ có cái đằm thắm ru êm nỗi đau, có cái dịu dàng băng bó những vết thương, có cái âm điệu hát lên niềm hạnh phúc lặng thầm trong trái tim nên có nhiều người bỗng dưng trở thành thi sĩ.
Thuở trẻ ở cái thành phố Huế thơ mộng ven bờ sông Hương, tôi và Kim Thành học chung trường, chung lớp trên đại học. Chị rất thơ với suối tóc mây xỏa đầy vai, với rèm mi dầy thả đêm vào hai mắt, với phiến lưng thon ôm áo lụa Hà Đông.Chị diễn kịch thơ nhưng chị không làm thơ. Chị lên xe hoa trong một cuộc tình cũng rất thơ nhưng chị vẫn không làm thi sĩ. Cho đến khi thần tiên gãy cánh đêm xuân
                           
"Bỗng một hôm em trở thành quả phụ..."
(Kim Thành, Bỗng Một Hôm)
 
Cuộc tử sinh đã đem đi xa người tình, người chồng, người cha dưới mái nhà, để laị
 
 " Lối cũ giờ đây thiếu nắng vàng
Kể từ bão nổi dập đò ngang
Trong bao thao thức đêm hoang lạnh..."
( Kim Thành, Đếm Sao)
 
Chị bắt đầu làm thơ. Hồi tưởng. Tiếc nuối. Đớn đau. Là tiếng nói cất lên từ cảnh ngộ riêng của một đôi uyên ương lạc mất nhau giữa đường bay. Cõi thơ Kim Thành gởi ra những trang tình sử của chính chị, từ một bình minh của tuổi thanh xuân rạng rỡ
 
" Ta gặp nhau năm mười bốn tuổi
Một sáng mùa xuân
Nắng vàng rực rỡ
Mắt anh cười không gian rộng mở
Thầm chuyên chở một tình si..."
( Kim Thành, Ngồi Tiếc Ngẩn Ngơ)
 
với mật ngọt tình yêu, với men say những tờ thư mỏng, với cả một miền Trung sông hiền núi biếc làm chứng cho lời hẹn thề son sắt
 
" Đời vũ khúc rong chơi cùng năm tháng
Đem vô thường bỏ lại sau lưng
Thiên Đường ta là Hàn Giang sóng nước
Là Bến Ngự trăng lên
Là Hoàng Thành thênh thang dạo bước
Là Hàng Me ru gót chân mềm..."
( Kim Thành, Ngồi Tiếc Ngẩn Ngơ)
 
Không có gì to lớn cả nếu không phải là tình yêu và mộng ước họ chia nhau, cũng giản dị, tầm thường, như hơi thở, như cuộc sống, như tiếng đập của trái tim nhưng cũng mầu nhiệm biết bao vì chỉ một chớp mắt thôi, bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu
 
" Anh nằm đó lặng im lời giã biệt
Em aó tang ngất lịm mảnh hồn hoang
Cúi xuống thật gần em maĩ trông mong
Hơi thở nhẹ có chăng nghe huyền thoại..."
( Kim Thành, Bỗng Một Hôm)
 
Đôi cánh bướm vỗ, mùa tình bay xa, năm mươi năm ngà ngọc vẫn chưa đủ cho một tình yêu mới mẻ từng giờ " Anh hãy đền em những ngày tháng cũ", Kim Thành làm thơ để giữ laị cho mình" một thuở trầm hương" và bóng mát một thời mãi mãi xanh tươi ấy
 
" Mưa hay nắng đời anh cây cổ thụ...
  Anh xa xôi cũng chưa hết ân cần..."
( Kim Thành, Cảm Tạ Tình Anh)
 
" Lòng buồn như bia mộ" phong kín trái tim người thơ giờ đây lẻ loi giữa ngày nắng, giữa đêm sương, là ngôi cổ tháp với " Anh là vua ngự trị đến ngàn đời" .
Đọc thơ Kim Thành là chia sẻ với chị những tiếng nói riêng thầm, những buồn vui mong manh của kiếp người, những hoài niệm dường như phản phất trong từng thân phận : về tình yêu, về hạnh phúc, về chia ly, về ước mơ và hy vọng.
Cũng như chị đã " Cảm tạ tình anh ơn phút tình cờ" tôi xin cảm tạ tình cờ của cơn mưa đầu tiên, tiếng chim hót trên cành, dòng sông quê cũ, những kỷ niệm nồng ấm, chắt chiu trong tấm lòng thủy chung của chị, đã làm nên cảm hứng để chị viết ra......và gởi đến bạn đọc, là món quà quý, là tiếng gọi đi tìm tri âm trong mênh mông trần gian này.
Vâng, bạn hiền ơi, tôi xin nghe lời bạn
 
" Hôn dùm chị bờ rêu phong trước cổng
  Nhặt hộ anh viên sỏi đá ngậm ngùi..."
( Kim Thành, Nhớ Nghe Em)
 
bùi bích hà
Quận Cam, Tháng 11/2006.


_DSC2501!!!!!.JPG


Trong cõi vô thường của thế gian này, có nỗi niềm nào thấm thía tận cùng bằng nỗi đau khi phải vĩnh biệt người tình trăm năm, người bạn đời muôn kiếp. Những dư âm của một thời tình nghĩa sắt son, chung thủy, như muốn bịn rịn réo gọi không ngừng, để rồi Bỗng Một Hôm người nhớ người da diết, tưởng chừng như cả không gian này muốn sụp đổ, vũ trụ muốn ngừng quay vì chia ly đọan tuyệt. Kiếp người đi về đâu, như dòng sông bao la nước trôi trăm ngả, và văng vẳng đâu đây một tiếng gọi tha thiết nồng nàn:

Cất cánh anh bay đời thôi mòn mỏi 
Bên kia trời nhớ gửi một lời thơ 
Để trong mơ và ngày tháng đợi chờ 
Em dọn bước tương phùng ru giấc ngủ

(Bỗng Một Hôm)

        Ngoài kia mưa đang rơi rả rích như những giọt lệ tỉ tê bùi ngùi nghiệt ngã, thánh thót thành những âm điệu phân ly não nuột, mưa cứ rơi rơi thấm tận trong tim , se thắt tận đáy lòng, rồi lắng đọng thành những giọt nước mắt, long lanh như thủy tinh, đặc sánh giữa nỗi thương tang và niềm tiếc nhớ . Những giọt lệ chợt tuôn trào, lòng người chợt xốn xang, như những giọt mưa bàng hoàng trong đêm dài lẻ loi, trống vắng, những âm hưởng trùng điệp âm thầm dào dạt, miên man chảy dài , khi người ruột thắt tơ tằm , thao thức đêm dài "Ngồi Tiếc Ngẩn Ngơ ", xót xa nghẹn ngào ..

Anh ơi bây giờ
Em ngồi tiếc ngẩn ngơ
Nghe mưa rơi rụng ngoàì song cửa
Nghe những giọt buồn rớt quanh đây

(Ngồi Tiếc Ngẩn Ngơ)

     Những giọt buồn đó, như những bong bóng mưa bay thầm quyện theo gió đong đưa, như muốn nhắc nhở chia sẻ những gì trầm uất nhất, ray rứt nhất, của những ngọt bùi cay đắng một thời quá khứ đã qua, khó mà níu kéo được, cứ hoài đan xiết trong tâm tư chập chùng như hình với bóng. Trái tim của người làm thơ lạ lẫm vô cùng, đó là nơi ẩn chứa thầm lặng, nhưng tha thiết của những tư duy tinh tế, những cảm xúc chân thành, qua trải nghiệm của thời gian, và đãi lọc trong cuộc sống đời thường, để còn giữ lại mãi trong tâm khảm những kỷ niệm quá khứ của một thời khó quên . Phải chăng thơ là cái duyên, cái nợ, bộc phát rất tình cờ, giãi bày sự khao khát của tâm hồn cho một tình yêu tự nguyện hiến dâng, mà người thơ vẫn muốn làm một cuộc hành trình về dĩ vãng, đi tìm những dấu tích ngọc ngà đáng yêu, đáng nhớ để nâng niu bồng bế vào ngôi vuờn thi ca tràn đầy hương sắc:

Anh, em đã trở lại Paris
Thiếu mất người tình si
Anh bây giờ đâu đó
Đầu ngỏ hay chân mây
Có nhìn em trần thế
Trơ trẽn phấn môi hồng
Có hay không trong em đêm nguyệt tận
Và cô đơn
Và lạnh lẽo
Bởi đâu còn ấm áp một bàn tay !

(Em Đã Trở Lại Paris)

     Bài thơ với những âm điệu ray rứt tiếc nuối, làm chúng ta liên tưởng đến lời của thi sĩ Pháp Alfred de Musset: "chẳng có gì làm chúng ta cao cả hơn một nỗi đau buồn lớn" (Rien ne nous rend si grands qu'une grande douleur). Người thơ đã trải qua những phút giây xao lòng, khó mà đè nén chôn dấu, những nỗi nhớ nhung vò xé, những cảm xúc chân thành, và mãnh liệt. Sức mạnh của tình yêu như một tiếng gọi vang vọng từ trái tim yêu thăm thẳm, đã bức phá cái ranh giới của hữu hạn, hiện tại, mà thênh thang đi vào cõi thường hằng khác, ở nơi đó người thơ sẽ không còn nhừng ám ảnh đè nặng trong tâm hồn, và thơ trở thành tiếng hát của con tim ngân vang muôn ngàn cung điệu tha thiết,như muốn bộc lộ gửi gắm tri âm cho người tình trăm năm:

Thôi hãy ngồi đây nghe em kể lể
Tôn vinh anh cho ấm tháng ngày dài
Gọi tên anh cho thỏa nhớ chờ mong
Ôn dĩ vãng qua từng trang thư mở

(Cảm Tạ Tình Anh)

      Một nhà văn đã có lần thầm thì bên tai người yêu:" Em hãy đếm trên trời có bao nhiêu vì sao thì anh yêu em còn hơn thế nữa" ("Một Chuyện Tình" - Bùi Quang Đoài) hoặc một nữ thi sĩ đã dịu dàng nói với người tình "Như anh thấy, mỗi ngày em yêu anh nhiều hơn ...yêu anh hôm nay nhiều hơn hôm qua, và ít hơn ngày mai" ("Car, vois-tu, chaque jour je t'aime davantage: Aujourd'hui plus qu'hier et bien moins que demain !" - L' éternelle chanson- Rosemonde Gerard )... Những lời tâm tình dịu ngọt khe khẽ của đôi lứa yêu nhau, như chiếc đũa thần kỳ diệu, làm mát rượi cả không gian oi bức, tỏa ấm khắp khung trời băng giá. Thiên nhiên, ngoại cảnh, thời gian là những tác động gợi cảm cho những hình tượng thơ hồn nhiên, chân thật, mênh mang, dạt dào đột nhiên bộc phát, nồng nàn trong từng hơi thở, thổn thức theo tiếng lòng dội vang...
Những vì sao lung linh sáng chói trên màn nhung của trời đêm chắc hẳn đã làm xao động hồn thơ, tưởng chừng như những tia mắt từ bên kia thế giới đang phản chiếu trong tâm hồn của người tình thủy chung đang cô đơn ngong ngóng đợi chờ ...

Em đứng nơi đây ngóng đợi gì
Tìm anh ? Anh đó mãi tìm chi
Hồn ta một phiến ngàn dâu bể
Ðổ xuống đời nhau vạn kiếp sau

Ngọn gió lao xao thổi chiêm bao
Nhìn trời em đếm những vì sao
Ðếm sao đếm lại tình anh gửi
Em khóc mưa tuôn dỗ nỗi buồn

(Đếm sao)

    Cuộc đời có đầy dẫy những niềm vui chứa chan và nỗi buồn ray rứt. Vui và buồn đều dẫn dắt vào cõi thơ, vô hình, không chủ định và khó cắt nghĩa. Thơ không chân dung mà lại là người ta yêu tha thiết, thơ không là hoa mà lại có hương, thơ không hương mà lại vấn vương lạ đời. Thơ là một thế giới kỳ diệu, rạo rực, là thế giới tiềm thức trừu tượng của mộng mơ siêu thoát, là thế giới hữu hình của những niềm vui bật sáng từ những hình tượng kỷ niệm chợt bắt gặp vô tình trên đường đời, là những nỗi buồn khó cất dấu từ những cảm xúc bộc phát tự nhiên, trong những phút giây trầm ngâm lắng đọng. Người thơ đã gần gũi và sống hết mình với thơ, phóng túng không ràng buộc, thênh thang trong cõi thơ như mây trôi bềnh bồng, như sóng nước lênh đênh về cuối chân trời vô tận...
Những chất liệu trong cuộc sống tình cảm, cộng hưởng với những tiếng nói dịu dàng tâm tình của một thời đã qua, là những xúc tác hình tạo nên những ngôn ngữ thơ có thanh điệu tha thiết, những hình ảnh đẹp lộng lẫy, những ý từ xuyên thấm vào tâm cảm của người đọc:

Ngày xưa em không làm thơ
Bởi anh là cả trời mơ bên mình
Bây giờ anh bỏ em đi
Em gom tình lại gieo vần gửi anh

Con chim xanh hót trên cành
Hỏi em còn có năm canh đợi chờ
Thưa rằng dẫu đã đôi bờ
Thuyền em bến đậu, sóng chừ nơi đâu ?

Anh đang nằm dưới mộ sâu
Hay anh thơ thẩn chân mây cuối trời
Buồn, anh quay mặt lại đời
Hồn mơ duyên kiếp hẹn ngày tái sinh

Riêng em giờ chỉ một mình
Bút nghiêng gõ nhịp cung trầm phím rung
Giăng giăng một sợi tơ chùng
Phong thu giá lạnh trăng hờn ngủ quên

Chờ anh chừ rất lênh đênh
Mưa ngâu chẳng có lấy gì đợi nhau
Đã đành hẹn kiếp mai sau
Mà sao vẫn thấy lao đao hỡi người

Em ngôì đây, héo nụ cười
Tháng Mười vàng trổ nghe buồn mang mang
Chìm theo cánh nhạn về ngàn
Tóc em rụng xuống sợi nào cũng anh

(Mất Anh Em Làm Thơ)


HÀN GIANG



ĐỌC THƠ  TÔN THẤT PHÚ SĨ

Đọc thơ Tôn Thất Phú Sĩ ( TTPS) hôm nay, tôi chạnh lòng nhớ về nhiều năm trước đây khi anh em bạn bè chúng tôi sinh hoạt thơ văn tại Hà Nội trước 54 và tại Saìgon trước 75. Sự bóng bẩy và xao xuyến của thơ TTPS làm tôi liên tưởng đến nhiều nhà thơ lớn tôi đã từng biết qua.
"Biển" la` tên của bài thơ mà nhà thơ của chân trời Ba Lê thơ mộng đã sáng tác để kể về giấc mộng hải hồ của người sĩ quan Hải quân VNCH, khi anh vượt muôn trùng , băng đại dương...

"Biển ơi cho ta giòng máu
Giang hồ từ thuở Me sinh
Ta đi biển xanh màu nước
Ta về biển trắng bạc tình
Trùng dương cho ta gửi lại
Người tình yêu dấu ta thương" 
                        
( TTPS,Biển )

Thơ của TTPS mang nét dịu dàng, lời thơ trung thực , mượt mà. Nếu phải đi tìm sự tương đồng về giá trị Đông Tây, thơ TTPS dồi dào không kém.Và nếu phải đọc những vần thơ tiền chiến va` thơ của TTPS thì thơ anh có những nồng nàn chẳng kém người đi trước.

"Có phaỉ chị đang thấy
Mây trời vương mái tóc
Mây bồng bềnh theo bước chị lang thang
Có phaỉ chị đang mơ
Đôi mắt anh thật hiền
Ngồi kể chuyện trăm năm
Như trong chuyện thần tiên cổ tích..."

DOÃN QUỐC SỸ
 

....Đọc thơ Tôn Thất Phú Sĩ ( TTPS ), tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Vừa đọc lên bài "Mẹ Ơi Biển Gọi" tôi đã thấy hồn mình cùng rung cảm với thi nhân...
"Con dã tràng xe từng viên cát nhỏ
Giương cái càng che khuất nửa vầng trăng
Ánh trăng vàng rơi tràn trên biển vắng
Ngọt như dòng sữa mẹ đã nuôi con...
                         
( TTPS, Mẹ Ơi Biển Gọi)

Nhà thơ TTPS, một SQHQ/QL.VNCH, đa tài, đã lãng mạn trong thi ca qua bài thơ " Paris...Anh Ti`m Em" mà anh đã viết để "Thương kính tặng cô Kim Thành và Thầy Trân Phước Hải-Cảm xúc khi chợt đọc bài thơ " Em Đã Trở Lại Paris" của cô Kim Thành"

"Anh trở lại đây
Chờ em trên bia đá
Tấm bia mòn nơi cổ mộ trăm năm
Hình như có một khoảng cách
Giữa chúng mình
Một khoảng trời xanh ươm mây trắng
Lạnh lùng, hoang vắng
Nhưng anh không nghĩ
Tình yêu mình hóa đá đâu em...

Anh tìm em giữa phố Paris
Chuyến metro cuối về đến gare Montparnasse
Paris đêm huyền diệu
Ańh đèn màu mờ ảo lung linh
Anh vẫn đi tìm em
Đi tìm hoài như một kẻ vô tâm
                    
( TTPS, Paris...Anh Tìm Em )

TẠ XUÂN THẠC

Thượng Đế sinh ra người thi sĩ để họ sống vì yêu...Từ nhịp đập của con tim ,người thi sĩ thao thức cho những nhớ nhung, những u hoài...Nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ ( TTPS ) tình tứ chuyên chở những lãng mạn yêu đương...nỗi nhớ ngập hồn tương tư và thoáng thơm hương phấn cho tình thăng hoa

"Em ngồi xỏa tóc dáng Liêu Trai
Bờ vai hong nắng nghiêng nghiêng gầy
Bức tranh lụa thoáng thơm hương phấn
Bướm ngẩn ngơ vờn rũ cánh bay

Cứ để cho hồn rung theo gió
Cho tình vời vợi đến trong mơ
Đừng ngăn con suối vào sông rộng
Mà nghẽn dòng xuôi nước vỡ bờ ..." 
                   
( TTPS, Bâng quơ)

VIỆT HẢI

 
...Tuổi đời , tình yêu, biển cả trùng khơi là những mộng ước đợi chờ làm rung động con tim trong thơ Tôn Thất Phú Sĩ ( TTPS )

"Thuyền tôi từ độ ra khơi
Biển xanh sông rộng chơi vơi giữa dòng
Em tôi má vẫn còn hồng
Đời tôi vẫn cứ bềnh bồng biển khơi..."
                    ( TTPS, Bềnh Bồng Biển Khơi )

...TTPS đã ngoài lục tuần nhưng thơ anh còn rất trẻ với những hoài niệm tuổi đôi mươi, trong sáng và trữ tình

"Anh đi qua ngõ ấy
Tìm lối hẹn ngày xưa
Giờ xa vắng người mơ
Con đường buồn biết mấy..."
                    ( TTPS, Mùa Thu Vội Đến )

"Em ngồi yên để ta mơ
Xa nhau một khắc ta chờ ngàn thu
Thuyền đi ôm mộng viễn du
Đời ta mãi mãi ngục tù trong em..."
                   ( TTPS, Người Thương )

NGUYỄN QUÝ ĐẠI
 

...Vã chăng thơ là tiếng nói của con tim,phát xuất từ những đam mê,  xúc động trong lòng người, cho nên thơ đúng nghĩa đối với tôi phải nằm trong lãnh vực tình cảm. Không còn dọc ngang chiến đấu gian nguy với kẻ thù, người chiến sĩ Hải Quân bây giờ chỉ còn thơ thẩn bên dòng sông Seine để luyến tiếc dĩ vãng, để nhớ về những kỷ niệm xưa, hình bóng cũ, ̣để " ru với gió , mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây"

"Anh tự hỏi
Bây giờ...em đang ở nơi nào
Dù em đến một phương trời vô tận
Anh vẫn bềnh bồng theo bước chân em
Như nắng, như mưa
Qua đủ bốn mùa
Anh vẫn nhớ
Và muôn vàng nhung nhớ
Chiếc bóng thẩn thờ
Bờ cát nghiêng nghiêng
Để biển và cát ru lòng anh ngóng đợi
Mãi mãi bên em
Giấc miên trường sóng vỗ...

Chiều nay anh ngồi đây ngóng đợi
Bên dòng sông Seine xuôi nhẹ chiếc du thuyền...

Anh chợt nhận ra
Em chỉ là cánh gio'
Thổi vào hồn anh
Một thoáng mong manh"
                  
( TTPS, Một Thoáng Mong Manh )

NGUYỄN THANH LIÊM
 
...Hồn thiên sông núi, tình yêu quê hương luôn luôn là con suối nguồn mượt mà cho cảm hứng tạo nên nhứng vần thơ Tôn Thất Phú Sĩ ( TTPS) Đọc thơ TTPS ta thấy rất nhiều những ray rứt xa cách đôi bờ bên cạnh một tình mơ lãng mạn đợi chờ

"Người ơi xin chớ hững hờ
Hãy nương theo gió đôi bờ có nhau...:
                   ( TTPS, Xin Chớ Hững Hờ)
"Biết đến bao giờ... ta hỏi ta
Bên kia ngọn núi tít mù xa
Phù sa mặn ngọt bờ sông Cưũ
Ta gởi về em nỗi nhớ nhà"
                  ( TTPS, Từ Sông Seine Đến Sông Dương Tử)

Rung cảm của TTPS đã đi từ những ước mơ rất trẻ, rất thơ đến những trăn trở của một triết gia trước viễn ảnh của cuộc đời

"Đời tôi đó đầy tuyết rơi nắng cháy
Chợt vui mừng bắt gặp giữa rừng hoang
Con thú nhỏ lang thang bên bờ suối
Từng bước thầm góp nhặt những vần thơ..."
......

"Một ngọn nến chập chờn tầm gió thổi
Tuổi sáu mươi đời chưa hết lung linh
Thôi xin được bình yên làn sóng nhỏ
Một chiều thu thuyền lặng lẽ ra khơi"

                    ( TTPS, Sinh Nhật Lục Tuần )

NGUYỄN VĂN QUÍ
Mon calendrier
< Jun. 2007 >
L M M J V S D
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
Mes catégories
Trafic
Noter ce blog :
1 5
1 connecté
12943 visiteurs
Ce blog est classé 2386ème
Score de ce blog : 1,65