iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 23/07/2009 à 09:11
Par luu2009
*
Publié le 23/07/2009 à 09:10
Par luu2009


Những thế lực đàng sau


Lữ Giang

   
Sự ra đi của ông Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert S. McNamara hôm 6.7.2009, một lần nữa đã làm sống lại cuộc tranh luận về “sự thất bại” của Hoa Kỳ trong việc điều hành cuộc chiến Việt Nam, một trách nhiệm mà người ta thường gán cho ông McNamara và chính ông ta cũng đã tự nhận lấy trách nhiệm đó của mình.

Nhật báo New York Times đã cho phổ biến trong ngày một bài bình luận dưới đầu đề “Robert S. McNamara, Architect of a Futile War, Dies at 93” (Robert S. McNamara, kiến trúc sư của một cuộc chiến vô ích, đã chết ở tuổi 93) của bình luận gia Tim Weiner nói về những đường lối và hành động sai lầm của ông McNamara đã đưa cuộc chiến đến thất bại với những hậu quả nghiêm trọng. Rất nhiều báo khác của Hoa Kỳ và trên thế giới đã trích đăng lại bài này.

Tuy nhiên, những sự kiện liên quan đến ông McNamara mà bài báo nói trên đã tiết lộ cho chúng ta thấy rằng ông McNamara đã có những quyền lực vượt trội, có khi trên cả Tổng Thống Johnson và Quốc Hội Hoa Kỳ, một chuyện không bình thường, đã khiến nhiều nhà phân tích tin rằng các thế lực đứng đàng sau đã điều khiển cuộc chiến Việt Nam, còn ông McNamara chỉ là người đứng mũi chịu sào, gánh tất cả trách nhiệm cho họ.

Cuốn “The Secret Team. The CIA and Its Allies in Control of the United States and the World” (Toán Bí Mật. CIA và các Đồng Minh trong việc Kiểm Soát Hoa Kỳ và Thế Giới) của Đại Tá Leroy Fletcher Prouty đã tố cáo rằng “CIA làm việc nhân danh những quyền lợi của một ‘bè đảng cao cấp’ của các nhà kỹ nghệ và ngân hàng” (CIA had worked on behalf of the interests of a "high cabal" of industrialists and bankers)

Đại Tá Prouty là người đã từng làm viên chức hướng dẫn và thông tin của CIA và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân và các cuộc Hành Quân Đặc Biệt. Ông đã đưa ra nhiều tài liệu để chứng minh quyền lực của các thế lực đứng đàng sau các chính phủ của Hoa Kỳ.

Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Hoa Kỳ Felix Frankfurter đã nói: “Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.” (The real rulers in Washington are invisible, and exercise power from behind the scenes).

Chúng tôi xin tóm lược dưới đây một số sự kiện liên quan đến việc quyết định thực hiện và chấm dứt cuộc chiến Việt Nam để góp phần vào việc nhìn lại cuộc chiến một cách chính xác hơn.

VÀI NÉT VỀ McNAMARA

Ông Robert Strange McNamara sinh ngày 9.6.1916 tại San Francisco, California. Ông tốt nghiệp cử nhân quản trị kinh doanh ở Đại Học Berkeley, California, năm 1937 và bằng Cao Học (MBA) ở Đại Học Harvard năm 1939. Ông bắt đầu làm việc cho Price Waterhouse, nhưng một năm sau ông trở lại Đại Học Harvard và làm giáo sư phụ khảo về môn quản trị kinh doanh.

Trong Thế Chiến II, McNamara trở thành cố vấn của Bộ Chiến Tranh vào năm 1942, ông được gắn quân hàm Đại Úy của Không Quân Hoa Kỳ năm 1943, được thưởng Quân Công Bội Tinh và thăng lên trung tá năm 1946. Ông đã từng phục vụ ở Anh, Ấn Dộ, Trung Hoa và Thái Bình Dương. Sau đó, ông giải ngũ và về phục vụ cho công ty Fort Motor. Từ 1946 đến 1961 ông giữ nhiều chức vụ quan trọng về quản trị công ty này, lập kế hoạch hiện đại hoá công ty và đưa công ty ra khỏi tình trạng thua lỗ. Năm 1960 ông được thăng lên Chủ Tịch Công Ty Fort Motor, mặc dầu ông không thuộc gia đình Fort.

Tuy nhiên, chỉ 10 tuần lễ sau, ông được Tổng Thống Kennedy vừa mới nhận chức hôm 20.1.1961, mời làm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Ông cho biết ông đã nói với Tổng Thống: “Thưa Tổng Thống, đó là một điều vô lý, tôi không đủ tiêu chuẩn.” Nhưng Tổng Thống đã trả lời: “Này, Bob, tôi cũng không nghĩ rằng có bất cứ trường nào cho các tổng thống.” Thế là ông nhận lời.

Tổng Thống Kennedy là một tổng thống công giáo đầu tiên của nước Mỹ, trẻ và có tướng dáng rất đẹp trai với lối nói rất hấp dẫn, nên dễ thu hút lòng người. Nhưng tiến trình làm tổng thống chưa đầy ba năm của ông đã bao gồm một chuổi những thất bại ê chề, vì ông không có quyết định sáng suốt và dứt khoát trước một biến cố xẩy ra và không kiểm soát được các tay chân bộ hạ. Từ vụ Liên Sô xây Bức Tường Bá Linh, vụ đổ bộ Vịnh Con Heo ở Cuba, vụ thực hiện kế hoạch “Hành Quân Mongoose” (Operation Mongoose) để lật đổ Fidel Castro, vụ trung lập hoá Lào, vụ yểm trợ cho cuộc chiến Việt Nam... đến vụ lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Kennedy gần như không kiểm soát được gì hết.

Trong thời Tổng Thống Kennedy, ông McNamara đã dính líu nhiều nhất đến vụ Liên Sô đặt hỏa tiển ở Cuba và vụ chạy đua võ khí nguyên tử với Liên Sô. Ông cũng đã tranh luận khá nhiều đến quyết định lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

Các tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và CIA được giải mã cho thấy Tổng Thống Kennedy, Phó Tổng Thống Johnson, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Giám Đốc CIA John McCone, Tướng Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân Mawell Taylor, Tướng chỉ huy Cơ Quan Viện Trợ Quân Sự (MACV) Mỹ tại Việt Nam Paul D. Harkins... đều chống lại việc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Nhưng nhóm quyết định về số mạng của ông Diệm để đổ quân vào Việt Nam là lực lượng đứng đàng sau chứ không phải Tổng Thống Kennedy. Toán được giao thực hiện kế hoạch này là Toán Harriman (Harriman Team).

Ông McNamara kể lại rằng người thảo bản công điện ra lệnh đảo chánh là Roger Hilsman Jr., lúc đó là Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách về Viễn Đông Sự Vụ. Ông ta là một trong các thành viên chủ yếu của Toán Harriman. Hôm thứ bảy 24.8.1963 bức điện này đã được Averell Harriman, người vừa được trở thành Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Về Chính Trị Vụ, chấp thuận và được gởi đi ngay dưới cái tên là DEPTEL 243, trong khi đó Tổng Tống Kennedy, Bộ Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Giám Đốc CIA John McCone và Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thống về An Ninh Quốc Gia McGeorge Bundy đều không có mặt tại Washington. Sau này, Tổng Thống Kennedy nói:

“Theo sự xét đoán của tôi, bức điện đó đã được soạn thảo tồi tệ. Bức điện đó phải không bao giờ được gởi vào hôm thứ bảy. Tôi phải không bao giờ biểu đồng tình nếu không được bàn luận bàn tròn.”

Tuy nhiên, mặc dầu nhận thấy như vậy, Tổng Tống Kennedy đã không ra lệnh ngưng thi hành công điện nói trên!

Ông McNamara kể lại, được tin ông Diệm bị giết, tinh thần của Tổng Tống Kennedy bị suy sụp hoàn toàn. Ông không còn tin tưởng vào cuộc chiến thắng tại miền Nam Việt Nam. Trong cuộc họp báo ngày 14.11.1963, Tổng Thống hỏi: “Bạn có chào thua tại miền Nam Việt Nam không?” Rồi ông tự trả lời câu hỏi của chính mình: “Chương trình quan trọng nhất, dĩ nhiên là cho nền an ninh của chúng ta, nhưng tôi không muốn Hoa Kỳ đưa quân tác chiến sang đó.” Sau đó ông nói: “Giờ đây mục tiêu của chúng ta là đưa quân nhân Hoa Kỳ về nước, cho phép Việt Nam tự duy trì lấy nước mình như là một quốc gia độc lập.”

Trong khi đó, các thế lực tư bản đứng đàng sau đang làm mọi cách để mở rộng chiến tranh và đổ quân vào Việt Nam. Vì thế, Tổng Thống Kennedy đã bị giết ngày 22.11.1963 tại Dallas.

NẮM QUYỀN LỰC VÔ GIỚI HẠN

Quyền lực đã đến tay McNamara sau khi Tổng Thống Kennedy bị giết và Tổng Thống Lyndon B. Johnson lên thay thế.

Tháng 12 năm 1963, ông McNamara đã đến Sài Gòn nghiên cứu tình hình. Theo tờ New York Times, ông mô tả tình hình của miền Nam là "Laden with gloom" (Nặng trỉu với bóng đen). Trong bản báo cáo ngày 31.12.1963, ông nói: “Sự phát triển của Việt Cộng rất lớn kể từ khi có cuộc đảo chánh. Chúng ta cũng cần tăng cường về cả quân sự lẫn USOM”.

Sau khi Tướng Nguyễn Khánh làm chỉnh lý ngày 30.1.1964 để loại các tướng làm đảo chánh lật đổ ông Diệm và thi hành kế hoạch mới của Mỹ, ngày 6.3.1964 ông McNamara lại đến Sài Gòn và tuyên bố rằng tướng Khánh “có sự kính trọng và hỗ trợ hoàn toàn của chúng tôi...” Sau đó ông xác định với Tướng Khánh: “Và chúng tôi sẽ ở lại cho tới cùng. Chúng tôi sẽ cung cấp mọi giúp đỡ các ngài cần để chiến thắng sự nổi dậy của Cộng Sản”. Theo lời khuyến cáo của McNamara, Tổng Thống Johnson đã tăng cường viện trợ quân sự để củng cố tinh thần của quân đội VNCH đang bị sa sút nặng.

Quốc Hội Hoa Kỳ đã thảo luận về việc cho phép cho Tổng Thống Johnson đẩy mạnh cuộc chiến Việt Nam sau khi nhận được tin ngày 4.8.1963 các tiểu đỉnh của Việt Cộng đã tấn công các tàu Mỹ ở Vịnh Bắc Việt. Mỹ đã phản công bằng cách oanh tạc làm 4 chiếc phóng ngư lôi của Việt Cộng bị chìm. Một số vùng trên lãnh thổ miền Bắc đã bị phi cơ Mỹ oanh tạc như Hòn Gai, Lộc Châu, Phúc Lợi, Quảng Khê và Vinh. Sau này, các sử gia Mỹ đều xác định vụ các tiểu đỉnh của Việt Cộng tấn công các tàu Mỹ ở Vịnh Bắc Việt hôm 4.8.1084 là không có thật.

Ngày 5.8.1964 Quốc Hội Hoa Kỳ đã cho phép Tổng Tống Johnson áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đối phó với thời cuộc ở Đông Nam Á, kể cả dùng vũ lực.

Tài liệu của Mỹ nói rằng Tổng Thống Johnson đã lệ thuộc vào ông McNamara để thắng cuộc chiến.  Tổng Thống Johnson đã tuyên bố:

“Ông ta gióng như một cái máy khoan đá. Không người nào có thể làm cái mà ông ta đã làm. Ông ta đã làm việc cận lực. Ông ta là người rất hoàn hảo.”

Chúng ta hãy nghe ký giả Tim Weiner của tờ New York Times tóm lược về vai trò của McNamara trong chiến tranh Việt Nam:

“Ông McNamara là một bộ trưởng quốc phòng có uy thế nhất của thế kỷ thứ 20. Phục vụ Tổng Thống Kennedy và Tổng Tống Johnson từ 1961 đến 1968, ông ta giám sát hàng trăm sứ mạng quân sự, hàng ngàn võ khí nguyên tử và hàng triệu dollars về chi phí quân sự và bán võ khí cho ngoại quốc. Ông cũng đã nới rộng vai trò của bộ trưởng quốc phòng, nắm giữ chính sách ngoại giao và gởi những đoàn quân đi thực thi quyền dân sự ở Phía Nam” (tức Nam Mỹ).

Báo chí Mỹ đã nói về thế lực của ông McNamara trước Quốc Hội Hoa Kỳ như sau:

Khi trình bày trước Thượng Viện về viện trợ ngoại quốc và Việt Nam, ông được mô tả như là một người “đáng yêu” (likeable). Người ta nói rằng “ông biết các câu trả lời; biết các câu trả lời đó trước khi các thượng nghị sĩ đặt các câu hỏi.”

Sự tiết lộ này có thể cho chúng ta hiểu rằng ông là người rất thông minh, có thể đoán biết trước các nghị sĩ sẽ hỏi gì, nhưng cũng có thể cho chúng ta suy đoán rằng các câu hỏi đã được đưa trước cho ông nên ông có thể trả lời không có gì khó khăn.

Vào đầu tháng 4 năm 1964, Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse thuộc Đảng Dân Chủ ở Oregon đã gọi cuộc chiến Việt Nam là “McNamara’s War”. Ông McNamara chẳng những không phản đối mà còn nói: “Tôi thích được định danh như thế và tôi làm bất cứ cái gì tôi có thể để thắng cuộc chiến đó.” (I am pleased to be identified with it and do whatever I can to win it).

SẢN XUẤT CÁC VŨ KHÍ MỚI

Nhìn một cách tổng quát, chúng ta thấy sứ mạng của ông McNamara là tiêu thụ hết những vũ khí còn lại của Thế Chiến II và cho đấu thầu quốc phòng để thí nghiệm những vũ khí mới. Cứ nhìn số lượng bom Hoa Kỳ thả xuống các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh và Nghệ An chúng ta sẽ thấy rất khủng khiếp.

Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều vũ khí tối tân đã xuất hiện trên chiến trường Việt Nam, chẳng hạn như:

Các loại bom chùm SADEYE/BLU-26B nặng 450g, có thể chứa 600 quả bom con, mỗi khi được thả xuống sẽ làm các bom con bắn ra một vùng rộng và khi nổ, mỗi quả bom con sẽ tung ra khoảng 3.000 viên bi thép khiến khả năng sát thương rất kinh khủng.

Loại mìn lá Gravel làm bằng plastic, được bọc trong vải, rất khó phát hiện và khi nổ chỉ cắt cụt chân người giẫm lên, khiến người bị thương trở thành gánh nặng cho đồng đội và làm mất tinh thần những người khác. Các mảnh mìn găm vào người cũng “vô hình” khi chụp X-quang. Có gần 300 triệu quả mìn loại này cũng đã được thả dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh.

Ngày 9.7.1967, tại một cuộc hội thảo ở Washington, ông McNamara đưa ra kế hoạch xây dựng một hàng rào điện tử chống lại sự xâm nhập của quân miền Bắc dọc theo khu phi quân sự (DMZ) giữa miền Bắc và miền Nam, từ Biển Đông đến biên giới Lào. Hệ thống này thường được gọi là “Hàng rào điện tử McNamara”.

Người thiết kế hàng rào này là giáo sư Roger Fisher thuộc Đại Học Havard. Năm 1966, Fisher đã dựa vào hàng rào Morice Line của Pháp tại Algeria để xây dựng một hệ thống hàng rào “hi-tech”, bằng cách kết hợp mìn, hố bẫy, dây kẻm gai và các thiết bị trinh sát bằng điện tử.

Thực sự, "Hàng rào điện tử McNamara" gồm hai phần chính: Phần thứ nhất là hàng rào chống xâm nhập được thiết lập dọc theo vĩ tuyến 17, từ biển Đông tới biên giới Lào. Phần thứ hai gồm các thiết bị điện tử được thả xuống dọc đường mòn Hồ Chí Minh, kể cả trên đất Lào, nhằm theo dõi sự vận chuyển của quân Bắc Việt qua con đường này.

Rất nhiều vũ khí và thành tựu khoa học quân sự mới nhất đã được xử dụng để xây dựng hàng rào nói trên bao gồm các loại cảm biến địa chấn phát hiện sự xâm nhập, trong đó nổi tiếng nhất là “Cây nhiệt đới” (ADSID - Air Delivered Seismic Intrusion Detector) có khả năng cắm chặt xuống đất khi thả từ máy bay xuống và được ngụy trang khéo léo để phát hiện các tiếng động do người và xe phát ra khi đi ngang qua và thông báo chính xác vị trí của đối phương.

Phí tổn để xây dựng hàng rào nói trên lên đến 2,2 tỷ USD theo giá của cuối thập niên 60, tương đương với 12, 3 tỷ theo giá hiện nay.

Tính chung, chính phủ Hoa Kỳ đã cho ném xuống khoảng 240 triệu quả mìn Gravel và 300 triệu quả mìn khác, 120.000 bom chùm SADEYE, 19.200 các loại cảm biến địa chấn. Nhờ vậy, từ 1968 - 1971, Hoa Kỳ đã phá hủy được 35.500 xe vận tải của miền Bắc với tổng lượng hàng hóa lên tới khoảng 180.000 tấn.

Số quân Mỹ tại Việt Nam là 485.000 vào cuối năm 1967 đã tăng lên gần 535.000 vào ngày 30.6.1968.

Dưới thời ông McNamara, ngân sách quốc phòng của Mỹ từ 48,4 tỷ năm 1962, đã lên đến 74,9 tỷ năm 1968, tương dương với 457 tỷ ngày nay.

BỔNG NHƯNG NGƯNG LẠI

Khi cuộc chiến đang được tiến hành một cách vũ bảo như thế, bổng nhưng nó được ngưng lại. Chuyện ông McNamara rút khỏi chiến tranh Việt Nam nghe rất buồn cuời.

Ông McNamara kể lại rằng ngày 26.8.1966, ông đọc một tập tài liệu của CIA mang tên là “The Vietnamese Communists Will to Persist” trong đó nói rằng Hoa Kỳ không thể làm gì để đánh bại kẻ thù. Ông đã gọi cho George Allen, một phân tích gia của CIA đã nghiên cứu vấn đề Việt Nam trong 17 năm, và hỏi ông ta rằng ông ta có thể làm gì khi ở vào vị thế của ông hiện nay. Ông ta trả lời: “Ngưng tăng cường lực lượng của Hoa Kỳ, ngưng thả bom miền Bắc và thương lượng với Hà Nội về ngưng bắn.”

Sau đó, ông bảo những người phụ tá của ông bắt đầu hoàn thành một tập lịch sử tối mật về chiến tranh, sau này được biết như là Pentagon Papers. Sau đó ông ta bắt đầu tự hỏi mình: “Hoa Kỳ đang làm gì ở Việt Nam”.

Ngày 19.5.1967, ông McNamara đã gởi cho Tổng Thống Johnson một lá thư thúc giục Tổng Thống nên mở một cuộc thương thuyết về hoà hình hơn là leo thang chiến tranh. Lá thư đã khởi đầu như sau:

“Chiến tranh Việt Nam không được quần chúng yêu thích trên đất nước này. Nó trở nên ngày càng không được quần chúng yêu thích vì nó leo thang, gây ra nhiều tổn thất hơn cho người Mỹ, gây ra sự sợ sệt nó trở thành một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn, gây ra cảnh thiếu thốn hơn trong lãnh vực quốc nội, và gây ra sự đau buồn hơn khi số người đau khổ viếng thăm những người không chiến đấu ở Việt Nam, Nam và Bắc.”

Ông viết tiếp:

“Hầu hết người Mỹ được thuyết phục rằng dầu sao chúng ta không thể đưa cuộc chiến tiến sâu hơn. Tất cả đều muốn cuộc chiến chấm dứt và hy vọng vị tổng thống của họ sẽ chấm dứt nó...”

Sau đó, ông từ chối yêu cầu của Tướng Westmoreland cung cấp thêm 200.000 quân và nói rằng phương pháp của ông ta “có thể đưa tới một thảm hoạ lớn cho quốc gia.”

Không ai tin rằng ông McNamara đã tự ý đi vào cuộc chiến rồi tự ý đi ra một cách đơn giản và dễ dàng như vậy, trừ khi có lệnh của các thế lực đứng đàng sau.

Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 1967, khi đi Việt Nam về ông lại nói với Tổng Thống Johnson rằng không có sự bế tắc tại Việt Nam. Theo Tom Johnson ghi nhận, trong một cuộc họp, ông ta nói “nều chúng ta theo cùng một chương trình, chúng ta sẽ thắng cuộc chiến và chấm dứt chiến đấu”. Để đối phó với sự mâu thuẫn lan tràn của McNamara, Tổng Thống Johnson đã phải thay thế ông ta. Ông ta đã rởì nhiệm sở vào cuối tháng 2 năm 1968 khi Washington đang bàn lại chính sách Việt Nam sau biến cố Tết Mậu Thân.

Cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, cho biết, vào ngày 1.2.1966, Tổng Thống Johnson đã gọi điện thoại cho Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthay than phiền về việc chính quyền Kennedy (lúc đó ông Johnson là Phó Tổng Thống) và liên minh cánh tả của ông ta ở Thượng Viện đã ủng hộ việc ông ta đi vào cuộc chiến Việt Nam, nhưng lại không ủng hộ ông trong việc tiệp tục cuộc chiến đó. Điều này cho thấy ngay từ đầu năm 1966, các thế lực đứng đàng sau đã chuẩn bị chấm dứt cuộc chiến. Lúc đó, Thượng Nghị Sĩ J. William Fulbright, Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện đã bắt đầu nghe điều trần về cuộc chiến, nhưng nhà cầm quyền VNCH gần như không quan tâm gì về chuyện đó cả! Vào tháng 5 năm 1968, Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện với Bắc Việt về một giải pháp hoà bình cho Việt Nam tại Paris.

Ngày 20.1.1969, ông Nixon đã nhận chức Tổng Thống với lời hứa rằng chấm dứt chiến tranh là ưu tiên hàng đầu của ông. Ông đã đưa ra kế hoạch “Việt Nam hoá” chiến tranh để giúp VNCH tồn tại. Nhưng trong một cuốn băng được Miller Center of Public Affairs thuộc Đại Học Virgina công bố vào tháng 8 năm 2004, Tổng Thống Nixon đã nói rằng Hoa Kỳ ủng hộ việc “Nam Việt Nam có thể không bao giờ còn tồn tại dù bất cứ cách nào.” (South Vietnam probably can never even survive anyway)!

QUÝT LÀM CAM CHỊU?

Trong cuốn “Nhìn Lại Quá Khứ: Những Thảm Kịch và Bài Học của Việt Nam” ông McNamara viết rằng các giới chức lãnh đạo Hoa Kỳ, “những người tham dự vào các quyết định liên quan đến Việt Nam đã hành xử theo những điều mà họ nghĩ rằng là những nguyên tắc và truyền thống của đất nước chúng ta.” Rồi ông viết tiếp:

“Chúng ta đã có quyết định theo những giá trị đó. Thế nhưng chúng ta đã sai lầm, vô cùng sai lầm. Chúng ta nợ các thế hệ sau lời giải thích tại sao.”

Khi loan tin ông McNamara qua đời, tờ Wall Street Journal đã đăng lời phát biểu của Jeff Switzer:

“Tôi nhớ những đóng góp của ông ấy trong việc làm chúng ta dính vào cuộc chiến không lối thoát ở Việt Nam, và trực tiếp dẫn đến cái chết của hơn 50.000 người Mỹ và những cuộc nổi loạn trên đường phố Mỹ. Bên cạnh LBJ (Lyndon B. Johnson), ông ta đã gây thiệt hại lớn cho nước Mỹ, nhiều hơn bất kỳ con số công khai nào trong thế kỷ XX”.

Như chúng tôi đã nói từ đầu, chúng tôi không tin ông McNamara là người đã quyết định về cuộc chiến Việt Nam. Ông chỉ là người đứng mũi chịu sào.

Trong cuốn “The Secret Team: The CIA and Its Allies in Control of the United States and the World”, Đại Tá L. Fletcher Prouty đã viết:

“Từ Tổng Thống đến Đại Sứ, từ các viên chức Nội Các đến các Tướng Lãnh điều khiển, và từ Thượng Nghị Sĩ đến các phụ tá điều hành, những người này đã có những tài liệu về thông tin và hướng dẫn. Hầu hết những thông tin và hướng dẫn này là kết quả của những kế hoạch và thủ đoạn đã được các nhóm áp lực soạn thảo kỹ càng. Trong nhóm phe phái có ảnh hưởng này, một trong những vai trò đáng quan tâm và có hiệu quả là sự điều hành của viên chức hướng dẫn và thông tin ở sau hậu trường, không biết mặt, không biết tên ở một nơi nào đó.”

Như vậy, nếu bảo rằng trong cuộc chiến Việt Nam, Mỹ đã thua cũng không hoàn toàn đúng, bởi vì mục tiêu của các thế lực đứng đàng sau hậu trường không phải là chiến thắng ở Việt Nam mà là thực hiện các âm âm và kế hoạch của họ trong từng giai đoạn. Nếu khi thực hiện các âm mưu và kế hoạch đó đã đem lại sự chiến thắng thì điều đó cũng tốt, nhưng nếu không thành công thì cũng chẳng sao, vì mục tiêu chính của họ đã đạt được rồi và nước Mỹ đã có những kế hoạch mới cho những thời gian tiếp theo để bảo đảm những quyền lợi mới của họ. Vấn đề là thân phận của các nước nhược tiểu trong các kế hoạch toàn cầu của các cường quốc. Đó là vấn đề chúng ta phải quan tâm.


Lữ Giang

(Ngày 21.7.2009)


Publié le 24/06/2009 à 06:39
Par luu2009



Từ sông Seine nhớ về sông Hàn (Đà-Nẵng)
Tặng anh tôi, Tôn-Thất Phú Sĩ

Dòng sông Seine chảy về đâu chẳng biết
Nhưng sông Hàn chảy ra  tận biển Đông
Cùng anh tôi trên sông Seine thắm thiết
Nhớ sông Hàn sóng vỗ lúc triều lên

Tôn-Thất Minh Mệnh
Québec - Paris
JUILLET 2009



Champs-Élysées

Con đường đẹp nhất trời tây
Rộng chi lạ rứa hàng hàng cây xanh
Riêng ta là kẻ vô tình
Chân thì thả bước lòng thì buồn tênh

Có lẽ vì ta rất khó quên
Những hàng phượng nở rộ bên thềm
Tiếng ve sầu thảm trong sân vắng
Giữa buổi trưa hè nóng bức lên

Có lẽ vì ta rất khó quên
Cái con đường nhỏ khi nắng lên
Đâu đây thoang thoảng mùi hương phấn
Sau một ngày mưa gió buồn tênh

Có lẽ vì ta rất khó quên …

Tôn-Thất Minh Mệnh
Hè Paris
JUILLET 2009


Minh Mệnh ( hè Londres 2009 )


TÌM MỘT ÁNH SAO - QUỲNH GIAO
TA KHÓC THEO EM - THƠ KIM THÀNH


Đường Về - Nhạc và Lời: Hoàng Trọng -Trình Bầy: Hiếu Tâm
Thân tặng thi hữu HÀN THIÊN LƯƠNG

NGƯỜI CON DÂU CỦA NƯỚC MỸ

 

THƠ THÂN HỮU : BÂNG KHUÂNG NĂM THÁNG - thiengphương

Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu - NHƯ QUỲNH



PHƯỢNG HỒNG  - GIA HUY - NHẠC VŨ HOÀNG - THƠ ĐỖ TRUNG QUÂN

 

LỚP ĐỆ THẤT 2 PHAN CHÂU TRINH ĐÀ NẴNG-TÔN THẤT PHÚ SĨ
LẤY CHỒNG THI SĨ - Nguyễn thị Thanh Dương
Trở Về Thôn Cũ - Nhạc và Lời : Nhị Hà -Trình Bầy: Bảo Yến

hq4.jpg

SÔNG HÀN ĐÀNẴNG
 


Tôi lớn khôn trong vòng tay của mẹ
Mang vào đời lòng hiền hậu của cha
Mái nhà xinh  bên dòng  sông uốn khúc
Nước vỗ về  lời mẹ ru thiết tha

Bờ sông Hàn suốt một thời tuổi dại
Kết tình thân theo dòng nước lớn mau
Tôi bơi lội trong dòng sông hạnh phúc
Tưởng không bao giờ ta xa cách nhau

Mối tình đầu gởi trên cành phượng vĩ
Gió lao xao hoà điệu nhạc ve sầu
Trên ghế đá  ngồi nhìn chiếc lá rụng
Sóng dập dồn đưa chiếc lá về đâu

Đà Nẵng của tôi ...   sông Hàn yêu dấu
Thuở  học trò mơ mộng một dòng sông
Mong mai này  tuổi đời  vừa đủ mạnh
Sông đưa tôi vào  biển rộng mênh mông

Tôi xa sông  đi vào vùng biển mặn
Làm kình ngư ngang dọc  khắp ngàn khơi
Nhỏ bé lắm dòng sông Hàn dịêu vợi
Nhưng trong tôi  thương nhớ biết chừng nào  

Và từ đó giã từ con sông nhỏ
Xa quê hương ôm ấp một ngày  về
Ai đã từng làm học trò Đà Nẵng
Mơ một lần tắm lại nước sông xưa
Mơ một lần ôm hôn dòng sông cũ
Sông Hàn ơi thương biết mấy cho vừa

Tôn Thất Phú Sĩ
Paris * tháng 10-2004

 

ĐÀ NẴNG VẮNG EM


Anh về Đà Nẵng tìm em
Con đường Lê Lợi êm đềm ngày xưa
Giờ còn ngây ngất nắng trưa
Hằng in kỷ niệm ngày xưa chúng mình

Khu vườn nho nhỏ xinh xinh
Nơi mình hò hẹn mối tình thơ ngây
Hoang  vu cỏ dại mọc đầy
Anh ngơ ngẩn đứng nhìn mây nhạt nhoà

Mây bay về núi Sơn Chà
Tiếng chim tu hú Tiên- Sa vọng về
Nhớ em ngày đó tóc thề
Yêu thêm Đà Nẵng đời nghe nặng buồn

Để hồn vương víu  cô thôn
Để tim đau thắt nỗi hờn núi sông
Người ơi ! nước chảy đá mòn
Tình người Đà Nẵng nặng lòng thuỷ chung

Con đò đưa khách  sang ngang
Ráng chiều  rực rỡ nhuộm vàng nước non
Ta về một tấm lòng son
Ngọn cờ Tổ Quốc cao hơn Ngủ Hành

Tôn Thất Phú Sĩ
Paris 24 Mai 2006



Bạn Tôn Thất Phú Sĩ thân,

Cám ơn Bạn Phú Sĩ rất nhiều về cái Blog của Bạn mà mình rất yêu thích.

Thân tặng Bạn bài thơ dưới đây mình mới cảm tác nhân đọc bài “Đà Nẵng vắng em” của Bạn. 

Thân,

Trương Công Nghệ
 ( PCT 54-60 )


PCT_Sauconbao.jpg

TÌM EM NGÀY CŨ


Anh về Đà Nẵng tìm em
Tìm Cầu Vồng cũ, tìm trường năm xưa
Cầu Vồng giờ ở nơi mô
Anh tìm không thấy, ngẩn ngơ nhớ người
Trường xưa đã chuyển đi rồi
Sân trường hoang vắng, cát trơ giữa trời
Cổng trường còn đó bơ vơ
Nhìn qua sân vắng tái tê tim người
Còn đâu ngày cũ vui chơi
Bên thầy, bên bạn, bên người anh yêu
Cây xanh ai đốn cả rồi
Tượng Cụ bỏ đó, xác xơ lạc loài
Nhìn trường hoang  vắng tả tơi
Tim anh nhỏ lệ mắt anh nhạt nhòa
Bước đi lòng những xót xa
Trường xưa lớp cũ em chừ nơi nao ? 

Trương Công Nghệ
Sydney Juillet 2009


Le blog de nhatlam

THẦN TIÊN
 
Có hai người đi tay trong tay
Quên cả trên đầu mưa đang bay
Funtana một ngày tháng bảy
Đẹp giấc mơ xa mộng trải dài
 
Có hai người đi trong mênh mông
Nhởn nhơ quên cả cái hư không
Đất trời cao thấp đâu cần biết
Chỉ biết mình đang thương rất thương
 
Có hai người ôm sợi tơ vương
Ngẩn ngơ, ngơ ngẩn giữa dương trần
Mây qua đỉnh núi, mây xuống thấp
Bóng hạc chìm theo tiếng chuông ngân
 
Có hai người bỏ rơi lận đận
Nghe ngọt ngào tiếng gọi trùng khơi
Trên sỏi đá bước chân nhẹ hẫng
Hồn miên man một cõi an lành
 
Con suối mát nghiêng mình muốn hỏi
Thần tiên nào dẫn lối đưa duyên
Bụi lan dại nằm im tĩnh lặng
Chợt mỉm cười thổn thức lâng lâng
 
Trăm năm biết được mấy lần
Mai đây bóng xế có còn gặp nhau?!
 
Kim Thành
Juillet 2009

TRANG NHÀ NHẬT LAM
KIM THÀNH

 
CHO TÔI XIN


Dòng sông ... Dòng sông mênh mông trôi
Cho tôi xin một chút rộn ràng
Đem về phố núi làm quà tặng
Cho một người xa thật là xa

Nắng ngã về tây nắng đang chiều
Băn khoăn xa cách nghìn trùng mây
Ai về cố quốc cho tôi hỏi
Mộng đã xây cao được mấy tầng

Có những người thương đã đi qua
Cho tôi xin hơi ấm thật thà
Lưng chừng một cõi trời xanh biếc
Một mảnh trời riêng  ... ta với ta

Những hàng cây ... hàng cây rất cao
Cho tôi ôm kín gió đầu mùa
Để lùa tóc rối vào đôi má
Thổi cả hồn tôi rất ngọt ngào

Có phải em là em của tôi
Hay là mơ ước đã qua rồi
Non sông một gánh tìm dư ảnh
Đất nở TỰ DO sáng rực trời
Publié le 23/06/2009 à 20:43
Par luu2009


XUỐNG ĐƯỜNG Ở IRAN

GIÓ ĐÃ XOAY CHIỀU

Những thanh nữ trẻ trung với tinh thần thách thức, bất chấp đàn áp của chính quyền, can đảm đứng lên đòi tương lai, chính là một thế hệ phụ nữ trẻ của Iran ngày nay

Trần Thị Sông Dinh , Jun 23, 2009



– Cả thế giới ngạc nhiên và thương cảm khi nhìn thấy video chiếu cảnh cô gái trẻ Neda ngả gục trên đường phố Iran, trái tim chảy máu, máu chảy ra miệng, ra mặt, tràn xuống người, và đọng thành vũng trên đường phố…

Cô ta đã chết, nhưng cô ta được phong thành thánh tử đạo, thành lời hiệu triệu cho toàn dân Iran, nhưng thanh niên Iran, những cô gái trẻ Iran tiếp tục xuống đường lấy sinh mạng đổi lấy công lý, và dân chủ cũng như dân quyền cho dân tộc Iran,…
Không chỉ có Neda, mà ngày nay trên đường phố Tehran, chúng ta thấy rất nhiều cô gái trẻ, che mặt, mặc áo màu đen, xuống đường, bất chấp đàn áp, bất chấp mình bị đánh đập,…
Họ trở thành một lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh gay go này với các lực lượng đầy bạo lực của chính quyền.

Một cô gái 19 tuổi nói với CNN là “Khi họ đánh đập tôi, tôi nói hãy đánh đi. Tôi đã bị đánh nhiều lần rồi, và thêm một lần nữa chẳng hề chi. Tôi chỉ muốn giúp đỡ, hỗ trợ những chị em, những anh em của tôi mà thôi.”
Giữa một thế giới tranh chấp, và hổn loạn, người ta thấy xuất hiện một thế hệ phụ nữ mới trên đường phố, họ đứng giữa trái tim của cuộc tranh đấu để đối đầu với chính quyền bạo lực. Họ ăn mặc truyền thống với khăn quấn cổ, khăn choàng đầu,…

Một số đang lượm đá làm vũ khí để đấu tranh lại với chính quyền, và một video còn cho thấy cảnh một phụ nữ xuống đường đấu tranh lại che chỡ cho một binh sĩ của chính phủ đang ra tay đàn áp, khi binh sĩ này bị thương và ngả xuống,… Trái tim của những phụ nữa đấu tranh của Iran đầy lòng nhân ái của người chị, người em và người mẹ,…


Tại trường đại học Shiraz, cảnh sát bạo động dùng dùi cui đánh những người phụ nữ đang mặc áo thụng màu đen, khiến một người đàn ông phải hét lớn: “Quân khốn nạn, không được đánh đập họ.”

Khi các lực lượng an ninh của chính quyền tấn công, và ra tay đánh đập, một phụ nữ đấu tranh nhìn thẳng vào mặt các người lính đàn áp, và hỏi: “tại sao các anh lại giết anh trai của các anh?”

Cô gái trẻ mới 19 tuổi này còn trả lời với CNN là “Chúng tôi đều nói với họ, nếu bạn là người Iran, bạn không nên đàn áp đồng bào của bạn, chính đồng bào của các bạn”.



Những người phụ nữ bất khuất này chính là linh hồn mới của cuộc tranh đấu tại Iran, họ trở thành biểu tượng của cuộc tranh đấu, nhất là từ khi cô gái trẻ Neda bị bắn ngả gục và chết trên đường phố khiến cả một thế giới thương cảm và rung động,…



Theo Karim Sadjadpour, một giáo sư trợ giảng của viện Carnegie Endowment for International Peace đã nhận xét rằng chính hình ảnh của Neda và những phụ nữ khác bất khuất đấu tranh trên đường phố đã tạo ra nét biểu tượng của cuộc đấu tranh lần này, khác với cuộc cách mạng vào năm 1979, mà lúc ấy người ta chỉ thấy những người đàn ông đầy râu ria mà thôi. Lần này là cuộc cách mạng của phụ nữ trẻ bất khuất. Họ là lực lượng tiên phong của Iran ngày nay.

Giám đốc của Viện Nghiên Cứu Iran là Abbas Milani tại đại học Stanford cũng đồng ý rằng Neda trở thành biểu tượng cho tất cả phụ nữ Iran có dính líu vào cuộc đấu tranh lần này.

Ngay cả con gái của cựu tổng thống Iran là Ali Akbar Hashemi Rafsanjani cũng đã bị bắt khi xuống đường đấu tranh và được trả tự do ngay sau đó.

Cuộc tranh đấu nhiều lúc cũng rất bi hài. Một hành động thách thức khác diễn ra ngay trên đường phố khi một phụ nữ tuổi đôi mươi đã khoe cơ thể của mình, mái tóc của mình trên đường phố Iran. Điều này đối với phương tây không lạ, nhưng đối với Iran, phụ nữ theo truyền thống phải che người, che tóc ở nơi công cộng.

freedombabe.jpg image by beth_yeah_right_whatever
Trên đường phố Tehran, nhiều phụ nữ xuống đường hơn cả giới đàn ông. Một phụ nữ nói: “Cho đến ngày nay, phụ nữ không có cơ hội tự bộc lộ cho chính mình, để nói rằng chúng ta là quan trọng trong tương lai của chúng ta. Nhưng, đến giờ phút này, họ có thể đóng vai trò quan trọng trong tương lai của chúng ta. Thật là cơ hội tốt cho chúng ta.”

Liệu người phụ nữ ấy có lạc quan lắm không?

Cô ta trả lời: “Tôi tuyệt đối lạc quan, bởi vì lịch sử đã dạy tôi rằng tất cả các cuộc cách mạng đều bắt đầu như thế. Mọi cuộc cách mạng đều có bạo lực, và một số người chết, nhưng không có gì tồn tại giống như thế này mãi mãi…”



Phụ nữ Iran đang làm cách mạng, bây giờ không còn là chuyện gian lận của bầu cử, mà là chuyện người phụ nữ Iran xuống đường cho tương lai Iran và cho cả chính mình…

Trần Thị Sông Dinh
Publié le 23/06/2009 à 09:02
Par luu2009


Diễn văn của tổng thống Pháp Sarkozy
trước Quốc Hội lưỡng viện gây thất vọng


Thanh Phương

23/06/2009

  

  Ảnh : Reuters
  
   Tổng thống Nicolas Sarkozy đọc diễn văn trước Quốc Hội lưỡng viện họp tại điện Versailles, ngày 22/06/2009

Hôm qua, 22/06/2009, lần đầu tiên trong lịch sử nền đệ ngũ Cộng hòa Pháp, hay nói đúng hơn là lần đầu tiên kể từ năm 1875, một nguyên thủ quốc gia Pháp đọc diễn văn trước Quốc Hội lưỡng viện, được triệu tập tại lâu đài Versailles. Đúng ra, đây phải là một sự kiện vô cùng trọng đại. Thế nhưng, bài diễn văn hôm qua của tổng thống Nicolas Sarkozy đã không như mọi người chờ đợi.

Trong bài diễn văn dài 45 phút, tổng thống Sarkozy đã vạch ra những đường hướng cho nửa sau nhiệm kỳ của ông. Tổng thống Pháp loan báo ngày mai sẽ cải tổ nội các, để chủ yếu thay thế hai bộ trưởng vừa được bầu vào Nghị viện châu Âu trong cuộc bầu cử vừa qua. Công việc đầu tiên của chính phủ mới sẽ là suy nghĩ về những ưu tiên của quốc gia trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Đối với tổng thống Sarkozy, khủng hoảng là dịp để nước Pháp bắt kịp sự trễ nải của nước Pháp về mặt đầu tư, đặc biệt là trong các lĩnh vực quy hoạch lãnh thổ, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, y tế. Những đầu tư ưu tiên cho nước Pháp và cho nền kinh tế Pháp sẽ được ấn định sau ba tháng hội ý giữa Quốc Hội, các công đoàn, giới doanh nghiệp và văn hóa.

Để thực hiện những mục tiêu nói trên, Nhà nước Pháp sẽ vay tiền của người dân hoặc của các thị trường tài chính bằng cách phát hành công trái. Lần cuối cùng mà Nhà nước phát hành công trái là vào năm 1993, dưới thời  thủ tướng Edouard Balladur, tức là thời điểm mà nước Pháp cũng đối phó với suy thoái kinh tế.
Trong bài diễn văn hôm qua, tổng thống Pháp cam kết là ông sẽ tiến hành các cuộc cải tổ '' dũng cảm '' để cắt giảm thâm thủng ngân sách Nhà nước mà theo dự báo sẽ lên tới 7 và 7,5% trong hai năm 2009 và 2010, cao hơn rất nhiều so với mức quy định 3% của Liên Hiệp Châu Âu. Ông Sarkozy hứa sẽ cắt giảm số dân biểu địa phương, tinh giản biên chế trong các cơ quan công vụ và tiếp tục cải tổ hệ thống hưu bổng. Nói chung, qua bài diễn văn này, ông Sarkozy muốn vạch ra một '' mô hình tăng trưởng mới '' cho nước Pháp trong thời kỳ hậu khủng hoảng.
Nếu như phe đa số cánh hữu tỏ vẻ hài lòng về bài diễn văn của tổng thống Sarkozy, thì ngược lại, phe đối lập cánh tả, đặc biệt là đảng Xã Hội đồng thanh chê trách là bài diễn văn này chẳng có gì là mới mẻ, không đáp ứng sự chờ đợi của người dân Pháp. Một số nhân vật trong đảng Xã Hội cũng chỉ trích quyết định phát hành công trái, vì nó sẽ làm tăng thêm gánh nặng nợ nần của nước Pháp.

Về phía các công đoàn thì ghi nhận là có nhiều mâu thuẫn trong bài diễn văn của tổng thống Sarkozy.

Tuyệt đại đa số các nhật báo Pháp hôm nay cũng tỏ vẻ thất vọng về sự kiện '' lịch sử '' hôm qua. Nhiều bình luận gia nhận xét rằng bài diễn văn hôm qua của ông Sarkozy giống như là một chương trình hành động của chính phủ, mà theo lẽ đây phải là vai trò của thủ tướng. Nói chung, theo báo chí Pháp, nội dung bài diễn văn này có vẻ rất long trọng, nhưng lại không có thực chất. Trong số các chuyên gia về Hiến pháp, nhiều người cũng cho rằng bài diễn văn mà tổng thống Sarkozy đọc ngày hôm qua đã dẫm chân lên vai trò của thủ tướng.
Cho nên, nhiều người tự hỏi là với một bài diễn văn như thế, có đáng để triệu tập toàn bộ lưỡng viện Quốc Hội một cách rình rang hay không ? Ấy là chưa kể, theo ước tính của dân biểu Xã Hội Pierre Moscovici, chi phí cho việc triệu tập toàn bộ nghị sĩ đến Versailles là từ 400.000 euro đến 600.000 euro


Thanh Phương