iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 24/05/2009
Par luu2009


(Mến tặng các bạn đồng đội đã từng phục vụ tại Giang Đoàn 26 Xung Phong - Long Xuyên)


Trần Đỗ Cẩm

 I. Bối Cảnh Lịch Sử

       Vào năm 1973, tuy hiệp định ngưng bắn Paris đã được ký kết nhưng những trận đánh giữa hai phe Quốc - Cộng để dành quyền chủ động tại chiến trường miền Nam Việt Nam mỗi lúc một trở nên khốc liệt. Trong lúc quân lực Hoa Kỳ coi như đã "rút lui trong danh dự" không còn tham chiến, Cộng quân được "bật đèn xanh" công khai xua quân xâm chiếm miền Nam. Hình thức chiến tranh chuyển từ du kích chiến sang trận địa chiến bằng những trận đánh dữ dội với quân số đôi bên lên tới nhiều sư đoàn chủ lực có những vũ khí nặng như chiến xa, đại pháo hỗ trợ.

Nhìn chung, chiến trường sôi động nhất tại các vùng giới tuyến và biên giới Lào - Việt tại miền Trung và Miên - Việt tại miền Nam. Cộng quân từ vùng phi quân sự hay từ các căn cứ địa an toàn bên Lào, Cam Bốt ngang nhiên tràn qua lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, trong lúc phe Quốc Gia vì không còn đủ sức tấn công dành quyền chủ động nên chỉ có thể dùng toàn lực ngăn chặn trong tư thế phòng thủ.

Trong lúc các quân binh chủng bạn như Không Quân, Bộ Binh, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh vv.... tung hết lực lượng để đối đầu với địch quân, thì phần đóng góp của các đơn vị Hải Quân trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này cũng không phải là nhỏ. Tại Vùng I và Vùng II Chiến Thuật nơi các trận đánh thường xảy ra dọc theo duyên hải, các chiến hạm ngày đêm tuần tiễu ngoài khơi cũng như yểm trợ hải pháo. Trong lúc đó, các Duyên Đoàn phối trí tại các điểm chiến lược quan trọng dọc bờ biển cũng sát cánh với các đơn vị bạn trong các cuộc hành quân thủy bộ.

Riêng tại Vùng III Chiến Thuật với thủ đô Sài Gòn và Vùng IV Chiến Thuật là vựa lúa nuôi sống Miền Nam, vai trò của các đơn vị Hải Quân lại càng quan trọng. Ngoài phần lãnh hải cần được tuần phòng nghiêm ngặt, còn phải chận đứng mọi di chuyển và xâm nhập của địch quân qua các sông ngòi chằng chịt. Việc yểm trợ, tiếp tế cho các đồn bót ven sông cũng cần thiết không kém. Hơn nữa, cường độ chiến tranh bên quốc gia láng giềng Cam Bốt cũng đang gia tăng dữ dội. Cộng quân đã phong tỏa và cắt đứt những đường bộ tiếp vận về Nam Vang nên thủy lộ sông Cửu Long từ Tân Châu - Hồng Ngự qua bến phà Neak Luoeng lên đến thủ đô Cam Bốt trở thành mạch máu chính nuôi sống chính quyền Lon Nol thân Hoa Kỳ.

Để đáp ứng nhu cầu chiến trường, hoạt động của các Giang Đoàn Hải Quân tai Miền Nam đã gia tăng đáng kể để bảo vệ lãnh thổ cũng như khai thông thủy lộ Sông Cửu Long. Vùng IV Chiến Thuật, ngoài các nhánh sông Cửu Long vươn dài như những cánh tay bạch tuộc ôm chặt vựa lúa Miền Nam, còn có rất nhiều kinh, rạch. Vì vậy, đây là địa bàn hoạt động của rất nhiều Giang Đoàn Xung Phong, Thủy Bộ, Ngăn Chặn và Tuần Thám. Từ những giòng Tiền Giang, Hậu Giang, U Minh, Đồng Tháp đến những nơi xa xôi hẻo lánh như U Minh, Cà Mau, Năm Căn vv...., đâu đâu cũng có mặt các giang đĩnh ngày đêm ngăn chặn giặc thù. Những giang đĩnh này đã nhiều lần làm Cộng quân khiếp vía trong những trận đánh long trời lở đất và cũng là nguồn hy vọng cho những đồn bót ven sông.

Tuy có rất nhiều đơn vị Hải Quân góp phần đắc lực vào việc tiễu trừ giặc Cộng, bài này chỉ viết về những hoạt động của một đơn vị Hải Quân nồng cốt thuộc Vùng IV Chiến Thuật, đó là Giang Đoàn 26 Xung Phong, đơn vị tác giả được hân hạnh phục vụ trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng kể trên. Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều bài viết tương tự để chiến công của những chiến sĩ áo trắng trong sông không bị mai một với thời gian. Bài viết này cũng nhằm mục đích vinh danh và kính tặng những chiến sĩ Hải Quân anh dũng đã một thời gắn bó với các kình ngư trong sông, đặc biệt các bạn đồng đội thân mến đã phục vụ tại Giang Đoàn 26 Xung Phong.

Trước khi đi sâu vào chi tiết về các trận đánh của Giang Đoàn 26 Xung Phong tại chiến trường Tân Châu - Hồng Ngự vào năm 1973, tưởng cũng nên tóm lược hệ thống tổ chức hành quân Hải Quân để độc giả, nhất là những người không quen thuộc với tổ chức Hải Quân, dễ bề tìm hiểu và theo dõi.
II. Sơ Lược Tổ Chức Hành Quân Hải Quân
Nhằm đáp ứng nhu cầu chiến trường mỗi ngày một gia tăng và để yểm trợ hữu hiệu cho các đơn vị bạn, ngoài Hạm Đội lo việc tuần tiễu và chuyển vận ngoài khơi, mỗi vùng Chiến Thuật còn có các các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng để để phối hợp chặt chẽ với các Quân Khu liên hệ. Các Bộ Tư Lệnh Vùng chia thành hai loại: Vùng Duyên Hải đảm nhiệm công tác dọc theo bờ biển, trong khi các Vùng Sông Ngòi lo việc hành quân trong sông. Tổng Cộng, Hải Quân có 5 Vùng Duyên Hải và 2 Vùng Sông Ngòi.

A. Vùng Duyên Hải
Vùng Duyên Hải trực tiếp chỉ huy các đơn vị cơ hữu như Hải Đội Duyên Phòng, Duyên Đoàn, Đài Kiểm Báo vv.... và chiến hạm Hạm Đội tăng phái để tuần tiễu vùng bờ biển trách nhiệm cũng như phối hợp hành quân với Quân Khu tương ứng. Bộ Tư Lệnh các Vùng Duyên Hải được phối trí như sau:

1. Tại Vùng I Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải đóng tại bán đảo Tiên Sa (vùng Sơn Chà) Đà Nẵng, chịu trách nhiệm vùng bờ biển từ vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải, Cửa Việt) tới Quảng Ngãi.

2. Tại Vùng II Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải đóng tại Cam Ranh, chịu trách nhiệm vùng bờ biểu từ Bình Định tới Phan Thiết.

3. Tại Vùng III Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng III Duyên Hải đóng tại Vũng Tàu. Chịu trách nhiệm vùng bờ biển từ Phước Tuy tới mũi Cà Mau.

4. Tại Vùng IV Chiến Thuật
Đặc biệt Vùng IV Chiến Thuật có bờ biển chạy dài từ mũi Cà Mau lên tới biên giới Miên - Việt mãi tận Hà Tiên và Vịnh Thái Lan với rất nhiều hải đảo nên có tới 2 Vùng Duyên Hải.

- Bộ Tư Lệnh Vùng IV Duyên Hải đóng tại đảo Phú Quốc.

- Bộ Tư Lệnh Vùng V Duyên Hải đóng tại Năm Căn thuộc tỉnh An Xuyên. Đây là một Bộ Tư Lệnh khá đặc biệt được thành lập sau này để đáp ứng nhu cầu hành quân bình định vùng cửa sông Ông Đốc, Gành hào, Rạch Giá và các sông ngòi thuộc khu vực Cà Mau và U Minh.

B. Vùng Sông Ngòi
Vùng Sông Ngòi đảm trách việc tuần tiễu trong sông và phối hợp hành quân với Quân Khu liên hệ. Đơn vị nồng cốt của Vùng Sông Ngòi là các Giang Đoàn. Vùng I và Vùng II Chiến Thuật vì ít sông lạch nên không có Vùng Sông Ngòi. Tuy nhiên, có một số Giang Đoàn Trục Lôi và Tuần Thám hoạt động tại vùng Cửa Việt, Cửa Thuận An và Hội An thuộc Vùng I Chiến Thuật được đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải. Vùng II Duyên Hải không có Giang Đoàn mà chỉ có những Duyên Đoàn.

Miền Nam lắm sông nhiều rạch nên có rất nhiều Giang Đoàn hoạt động. Hai Bộ Tư Lệnh Vùng Sông Ngòi chỉ huy các Giang Đoàn này được phân chia như sau:

1. Tại Vùng III Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng III Sông Ngòi đóng tại Sài Gòn. Khu vực hoạt động bao gồm sông Sài Gòn, các sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây lên tới tận Gò Dầu Hạ sát biên giới Miên - Việt thuộc tỉnh Tây Ninh. Ngoài quân cảng Sài Gòn, Bến Lức và Long An là các căn cứ Hải Quân lớn thuộc vùng III Sông Ngòi với nhiều giang đĩnh đủ loại nằm sát chân cầu có thể nhìn thấy từ Quốc Lộ 4.

2. Tại Vùng IV Chiến Thuật
Bộ Tư Lệnh Vùng IV Sông Ngòi đặt tại Bến Ninh Kiều, Cần Thơ (Tây Đô). Đây là một đại đơn vị nồng cốt hoạt động trong sông của Hải Quân mà đơn vị chiến đấu căn bản là các Giang Đoàn Xung Phong, những đơn vị Hải Quân kỳ cựu nhất bắt nguồn từ các Hải Đoàn đã từng chiến đấu tại Bắc Việt, được người Pháp chuyển giao cho Hải Quân VNCH vào các năm 1953 - 1954. Sau này, khi nói tới Giang Đoàn Xung Phong, các quân nhân Hải Quân thường nghĩ ngay tới Vùng IV Sông Ngòi với các giòng sông quen thuộc như Tiền Giang, Hậu Giang, Cái Lớn, Cái Bé, Ông Đốc, Gành Hào vv.... cùng những con kinh nổi tiếng như Đồng Tiến, Mang Thít, Chợ Gạo, Mỏ Cày, Xà No, Cái Sắn, Giang Thành vv....

III. Giang Đoàn Xung Phong
Ngay từ khi mới thành lập, Vùng IV Sông Ngòi đã có 4 Giang Đoàn Xung Phong được phối trí như sau: 

1. Giang Đoàn 21 Xung Phong
Đóng tại Mỹ Tho, gần Bắc Rạch Miễu trên đường đi sang Kiến Hòa. Vùng hoạt động gồm khu vực Tiền Giang, Kinh Chợ Gạo (Mỹ Tho), Sông Hàm Luông (Kiến Hòa), Cửa Tiểu vv.... 

2. Giang Đoàn 23 Xung Phong
Đóng tại Vĩnh Long, gần Bắc Cổ Chiên I trên đường đi sang quận Chợ Lách. Vùng hoạt động bao gồm sông Cổ Chiên, Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười vv.... 

3. Giang Đoàn 25 Xung Phong
Đóng tại Cần Thơ, gần bến Ninh Kiều, chung với Bộ Tư Lệnh Vùng IV Sông Ngòi. Vùng hoạt động gồm khu vực Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau vv.... 

4. Giang Đoàn 26 Xung Phong
Đóng tại Long Xuyên, gần công viên Nguyễn Du. Vùng hoạt động bao gồm khu vực Sa Đéc, Vàm Nao, Chợ Mới, Châu Đốc, Tân Châu, Hồng Ngự lên tận biên giới Miên - Việt. 

Những vùng hoạt động trên chỉ được phân chia theo lý thuyết vì trên thực tế, tùy theo nhu cầu hành quân, các Giang Đoàn thường được du di điều động tăng phái hay xuất phái. Sau này, có thêm một số Giang Đoàn Xung Phong được thành lập để đáp ứng với đòi hỏi của chiến trường. Thí dụ như là Giang Đoàn 27 Xung Phong đóng chung hậu cứ với Giang Đoàn 21 Xung Phong tại Mỹ Tho để trở thành Liên Giang Đoàn 2133/ Xung Phong. Giang Đoàn 31 Xung Phong đóng chung hậu cứ với Giang Đoàn 23 Xung Phong tại Vĩnh Long để trở thành Liên Giang Đoàn 2331/ Xung Phong và Giang Đoàn 29 Xung Phong đóng chung với Giang Đoàn 25 Xung Phong tại Cần Thơ để trở thành Liên Giang Đoàn 2529/ Xung Phong. 

Mỗi Giang Đoàn Xung Phong có bảng cấp số tương đương với một Tiểu Đoàn Bộ Binh và được trang bị nhiều loại giang đĩnh có công dụng khác nhau như một hạm đội trong sông. Số giang đĩnh tiêu chuẩn được liệt kê đại cương như sau: 

- 6 Tiểu Vận Đĩnh (LCVP - Landing Craft Vehicle Personnel): Đây là loại tầu mũi bằng, vỏ gỗ, ma™t máy, có thể chở được chừng một trung đội bộ binh, với cửa đổ bộ mở xuống, kéo lên được bằng giây cáp. Tuy nhiên, các LCVP của Giang Đoàn Xung Phong đã được biến cải với cửa đổ bộ được hàn kín. Những giang đĩnh này không còn được dùng để chở quân mà được dùng để rà mìn trong sông, nhất là trong những kinh, rạch nhỏ. Về hỏa lực, mỗi LCVP được trang bị một đại bác 20 ly trước mũi, hai đại liên 30 bên hông và một đại liên 30 trên mui tại phòng lái. Thủy thủ đoàn LCVP gồm 4 người. LCVP thường hoạt động từng cặp để yểm trợ lẫn nhau. 

- 6 Tiểu Giáp Đĩnh (FOM): Vỏ sắt, mũi nhọn, một máy, vận tốc cao, vận chuyển lẹ làng như Khu Trục Hạm trong hạm đội. Mỗi FOM được trang bị một đại liên 50 trước mũi, hai đại liên 30 bên hông và một đại liên 30 trên mui gần phòng lái. Thủy thủ đoàn FOM gồm 4 người và cũng hoạt động từng cặp như LCVP. 

- 6 Trung Vận Đĩnh (Landing Craft Medium LCM-6): Đây là loại giang đĩnh mũi bằng, hai máy với cửa đổ bộ kéo bằng máy, có thể chở chừng một đại đội bộ binh. Vũ khí trang bị gồm một đại bác 20 ly phía sau lái, hai đại bác 20 ly bên hông và hai đại liên 30 trong phòng lái. 

- 1 Giang Đĩnh Chỉ Huy và Truyền Tin (Monitor Commandement): Đây là loại giang đĩnh LCM-6 biến cải, có phòng ngủ sĩ quan, máy truyền tin để đặt bộ chỉ huy hành quân. Vũ khí trang bị gồm một hầm súng cối 81 ly đặt dưới lòng tầu, một đại bác 20 ly phía sau lái và hai đại liên 30 trong phòng lái. 

- 1 Thiết Giáp Đĩnh (Monitor Combat): Cũng là loại LCM-6 biến cải, nhưng với vỏ sắt dầy hơn với pháo tháp đại bác 40 ly gắn trước mũi chung với đại liên 50. Ngoài ra, còn có một đại bác 20 phía sau lái, 2 đại liên 50 bên hông và một hầm súng cối 81 ly giống như Giang Đĩnh Chỉ Huy và Truyền Tin. Thiết Giáp Đĩnh có hỏa lực mạnh nhất trong các giang đĩnh và được coi như Thiết Giáp Hạm trong sông. 

Theo tiêu chuẩn, mỗi Giang Đoàn Xung Phong có chừng 20 giang đĩnh đủ loại, được tổ chức tương tự như một hạm đội ngoài biển. Sau này, đa số các số Giang Đoàn được trang bị loại giang đĩnh RPC (River Patrol Craft) hai máy để thay thế cho một số FOM cũ kỹ bị phế thải và còn thêm loại LCM-8 có khả năng chở Thiết Vận Xa và đại bác của Pháo Binh. Một số đơn vị còn có tới 2 Monitor Combat hay Commandemant. Tuy số lượng và loại Giang Đĩnh có thể không giống nhau, nhưng tựu chung, mỗi Giang Đoàn đều có khả năng tác chiến giống nhau, có thể thực hiện những cuộc hành quân phối hợp thuybộ biệt lập với khoảng 1 Tiểu Đoàn Bộ Binh. 

IV. Giang Đoàn 26 Xung Phong
Đây là một trong những đơn vị chuyên hoạt động trong sông kỳ cựu nhất của Hải Quân VNCH. Các giang đĩnh của Giang Đoàn này phần lớn đã tham chiến tại các mặt trận lừng danh ở Bắc Việt trước năm 1954 trong thời kỳ chiến tranh Việt - Pháp. Tiền thân của Giang Đoàn 26 Xung Phong là các Dinassault của Pháp đã từng đóng những vai trò vô cùng quan yếu tại các chiến trường nổi tiếng Sông Lô, Việt Trì, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Phát Din»‡m, Sông Đáy vv.... 

Hậu cứ của Giang Đoàn 26 Xung Phong đặt tại trại Vân Đồn thuộc tỉnh Long Xuyên, một thị trấn xinh đẹp, hiền hòa nằm ven bờ sông Hậu. Vùng hoạt động của đơn vị bao gồm các tỉnh An Giang, Sa Đéc, Cao Lãnh và Châu Đốc lên tới tận miền biên giới Miên - Việt. Tuy chịu trách nhiệm tại vùng có đông tín đồ Hòa Hảo tương đối an ninh, nhưng giang đĩnh của đơn vị thường phải phân tán và xé lẻ để có thể tuần tiễu khu vực trách nhiệm khá rộng lớn có nhiều sông rạch, hoặc phối hợp hành quân thủy - bộ hay yểm trợ, tiếp tế cho các đồn bót hẻo lánh ven sông. Các giang đĩnh luôn luôn tăng phái thường trực tại vùng biên giới Miên - Việt thuộc các quận Tân Châu - Hồng Ngự hay tỉnh Châu Đốc. Ngoài ra, đôi khi vì nhu cầu hành quân, một số giang đĩnh còn được tăng cường phối hợp với Giang Đoàn 25 đóng tại Cần Thơ để phối hợp hành quân với Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại các vùng Cà Mau, Chương Thiện, Rạch Giá v... 

Vào khoảng đầu thập niên 1970, cùng với chương trình tối tân hóa và bành trướng của Hải Quân, Long Xuyên trở thành một Căn Cứ Hải Quân lớn. Giang Đoàn 26 Xung Phong vẫn tiếp tục trú đóng tại đây, chung hậu với các đơn vị bạn mới được thành lập như Tiávn Doanh Yểm Trợ, Bệnh Xá, Giang Đoàn Tuần Thám vv.... 

V. Cộng Quân Phong Tỏa Hồng Ngự
Hồng Ngự (Xem Bản Đồ Hồng Ngự) là một quận lỵ cực Bắc của tỉnh Kiến Phong, nằm trên bờ Đông của Sông Cửu Long. Chỉ có một con đường bộ duy nhất nối liền với tỉnh lỵ Cao Lãnh, xuyên qua kinh Đồng Tiến và quận Kiến Văn. Đối diện với quận lỵ là cù lao Long Khánh trù phú, dân cư đông đúc với những vườn cây trái xum xuê, rậm rạp. Đặc biệt, mỏm Bắc của Cù Lao và vùng đất bồi do phù sa của Sông Cửu Long tích tụ hàng năm. Trên đầu doi này có một ngôi đình cổ không biết được xây cất từ bao giờ tọa lạc trên một thế đất cao như một ngọn đồi. Từ ngôi đình cổ hoang vắng, người ta có thể quan sát được một vùng sông nước mênh mông bát ngát với những bờ sông cát trắng, nước trong xanh, phong cảnh hùng vĩ hữu tình tuyệt đẹp. 

Ranh giới của quận Hồng Ngự về phía Bắc và Đông Bắc gồm vùng biên giới Miên - Việt, chạy dài tới tận tiền đồn biên phòng Cái Cái giáp ranh tỉnh Kiến Tường (Mộc Hóa). Phía Tây là sông Cửu Long giáp quận Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang (Long Xuyên). Về phía Tây Bắc, nằm trên bờ Tây của sông Cửu Long chỉ cách Hồng Ngự chừng 5, 6 cây số là quận Tân Châu cũng thuộc tỉnh An Giang. Tại Tân Châu có một đơn vị Hải Quân là Giang Đoàn 58 Tuần Thám trấn đóng, Phía Nam giáp kinh Đồng Tiến với khu vực Phước Xuyên trong vùng Đồng Tháp Mười nổi tiếng chạy dài tới quận Kiến Văn. 

Hồng Ngự chiếm địa thế quan trọng nằm ngay yết hầu thủy lộ sông Cửu Long và chặn đường xâm nhập của Cộng Quân từ Cam Bốt tràn xuống. Phần lớn những đồn bót thuộc Chi Khu Hồng Ngự đều nằm dọc ven sông và vùng biên giới để có thể phát hiện và ngăn chặn mọi di chuyển của địch quân. Vì địa thế gồm nhiều sông, kinh, rạch lớn nhỏ nên thông thường có một đơn vị Hải Quân thuộc Vùng IV Sông Ngòi tăng phái để lo việc hành quân, phòng thủ cũng như tiếp tế cho các đồn bót ven sông. 

Vào khoảng tháng 3 năm 1973, chiến cuộc tại Miền Nam Việt Nam trở nên vô cùng sôi động sau những cuộc cường tập của Cộng Quân vào khắp 4 vùng Chiến Thuật sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Bên quốc gia láng giềng Cam Bốt, sự tranh chấp cũng đã tới giai đoạn quyết liệt một mất một còn. Cộng quân chiếm được ưu thế, cắt đứt đường tiếp vận quan trọng từ hải cảng Sihanoukville (Kompong Som) về thủ đô Nam Vang. Phi trường Pocheng Tong nằm trong tầm đạn pháo kích nên phi cơ tiếp vận lên xuống rất nguy hiểm và khó khăn. Có thể nói Nam Vang đã bị Cộng quân vây chặt khiến mọi quân dụng, vũ khí, đạn được vv.... cũng như mọi nhu yếu phẩm như gạo, dầu nhớt vv.... tối cần cho sự sống còn của chính quyền Lon Nol không thể nào đưa lọt vào thủ đô Cam Bốt bằng đường bộ cũng như đường hàng không. 

Vì vậy, phương tiện duy nhất còn lại để tiếp tế cho Cam Bốt là sông Cửu Long. Thủy lộ này chạy dài từ cửa biển Vũng Tầu, qua bắc Mỹ Thuận, Hồng Ngự, Tân Châu trong lãnh thổ VNCH vượt bến phà Neak Luoeng tới thủ đô Nam Vang. Thủy lộ từ Vũng Tàu lên đến biên giới Miên - Việt thuộc các quận Tân Châu, Hồng Ngự dài khoảng 150 hải lý. Các tầu biển từ Vũng tầu lên Nam Vang thường neo nghỉ đêm tại Ngã Ba Đèn Đỏ gần Bắc Mỹ Thuận thuộc tỉnh Vĩnh Long trước khi ngược giòng Cửu Long tiếp tục cuộc hành trình. Lên đến Tân Châu, các thương thuyền lại ngừng một lần nữa neo nghỉ đêm để quan thuế và thay đổi hoa tiêu trước khi vượt biên giới sang Cam Bốt. Điểm neo cuối cùng của các thương thuyền trong lãnh thổ Việt Nam này là ngã ba sông ngay trước quận Tân Châu. 

Biết được sông Cửu Long là đường huyết mạch duy nhất còn lại có thể giúp cho chính quyền Lon Nol và cả nuớc Cam Bốt sống thoi thóp, Cộng quân quyết định mở một chiến dịch lớn nhằm bóp nghẹt thủy lộ tiếp vận sinh tử này bằng cách chiếm giữ khu vực quận Hồng Ngự. Nếu thành công, Cộng quân sẽ cắt đứt được thủy lộ qua Nam Vang, và thừa thắng, chúng có thể tràn sâu xuống vùng Kiến Tường - Mộc Hóa để tạo áp lực dọc Quốc Lộ 4 thuộc khu vực tỉnh Định Tuờng là trục lộ tối quan trọng từ Vùng IV về thủ đô Sài Gòn. 

Để thực hiện ý đồ, khởi đầu, Cộng quân dàn một lực lượng chủ lực quân khá hùng hậu dọc theo vùng biên giới Miên - Việt thuộc các tỉnh Kiến Phong, Châu Đốc, An Giang và Rạch Giá để nghi binh và tạo áp lực. Đối diện bên phần đất Cam Bốt, khu vực thuộc các tỉnh Prey Veng, Kandal và Takeo cũng bị chúng tràn ngập. Lúc đó, vào đầu năm 1973, lực lượng Việt Cộng tại vùng này có tới 11 Trung Đoàn chủ lực cộng thêm quân Khmer đỏ. Ngoại trừ từ 3 tới 4 Trung Đoàn được phối trí trong phần đất Cam Bốt nhằm mục đích cầm chân lực lượng của Lon Nol, tất cả những đơn vị còn lại đều được xử dụng để tấn công vào khu vực Hồng Ngự. 

Vì vậy, tình hình khu vực sông Cửu Long sát biên giới Miên - Việt thuộc khu vực Hồng Ngự trở nên vô cùng trầm trọng vì đôi bên đều quyết tâm dành quyền kiểm soát khu vực có tầm mức chiến lược vô cùng quan yếu này. Cộng quân dùng toàn lực cắt đứt thủy lộ sông Cửu Long để cô lập Cam Bốt và củng cố các trục xâm nhập vào Việt Nam qua ngả biên giới. Phía Hoa Kỳ không còn cách nào khác, phải tiếp tục tiếp tế cho Cam Bốt bằng mọi giá. Lúc đó, đa số các lực lượng tác chiến Hoa Kỳ đều đã rút khỏi Việt Nam trong khuôn khổ thỏa ước ngưng bắn Paris. Một số ít còn lại còn bị các đạo luật Cooper - Church của Quốc Hội Hoa Kỳ ngăn cấm không được than dự các cuộc hành quân bộ chiến ngoài biên giới Việt Nam. Vì vậy, chỉ còn các đơn vị QLVNCH để ngăn chặn đường xâm nhập người và vũ khí của địch quân, và cũng để bảo vệ thủy lộ Cửu Long để việc tiếp tế cho đồng minh Cam Bốt không bị ngưng trệ. 

Cộng quân mở đầu chiến dịch bằng cách phong tỏa, tạo áp lực nặng nề mong đánh chiếm quận Hồng Ngự, một thị trấn nhỏ nằm ngay trên cửa rạch Hồng Ngự đổ vào sông Cửu Long. Như trên đã nói, nếu chiếm được Hồng Ngự, không những chúng sẽ khóa chặt được yết hầu của thủy lộ Cửu Long từ Việt Nam sang Cam Bốt, mà đồng thời cũng mở rộng được địa bàn hoạt động và cánh cửa xâm nhập từ Cam Bốt vào khu vực Đồng Tháp Mười khiến Quốc Lộ 4 từ Hậu Giang về thủ đô Sài Gòn cũng bị đe dọa. 

Vào tháng 3 năm 1973, Cộng quân tập trung một lực lượng đông đảo lên tới cấp Sư Đoàn để tiến chiếm mục tiêu Hồng Ngự. Bộ chỉ huy chiến dịch của Cộng quân đóng tại khu vực Hậu Cần 704 thuộc tỉnh Prey Veng bên Cam Bốt, giáp ranh tỉnh Kiến Phong. Các đơn vị Cộng quân gồm Trung Đoàn 207 thuộc Công Trường 6, Trung Đoàn 174 thuá»™c Công Trường 5, Trung Đoàn 272 thuộc Công Trường 9 (theo tin tình báo, thành phần còn lại của Công Trường 9 vẫn còn lẩn quẩn tại khu vực rừng cao su Michelin (Dầu Tiếng) thuộc Quân Khu III) và một đơn vị pháo thuộc Trung Đoàn Pháo 75. So sánh lực lượng đôi bên, Cộng quân hoàn toàn chiếm ưu thế, vừa đông quân, vừa di động, lại có pháo tầm xa hạng nặng yểm trợ. Lực lượng phòng thủ quận Hồng Ngự nhỏ bé không có Chủ Lực Quân, chỉ có Địa Phương Quân, Nghĩa Quân cơ hữu và một số giang đĩnh thuộc Giang Đoàn 26 Xung Phong tăng phái phòng thủ. Ngoài ra, với những đồn bót cố định phòng thủ sơ sài, các đơn vị cơ hữu của Chi Khu Hồng Ngự là mục tiêu rõ ràng và mồi ngon cho đạn pháo binh Việt Cộng. Chỉ có những giang đĩnh Hải Quân tăng phái với khả n ƒng di động và hỏa lực mạnh trấn giữ mặt sông mới có khả năng chống trả và làm khó dễ được địch quân. 

Trung Đoàn 207 của Cộng quân được xử dụng làm nỗ lực xung kích chính vượt biên giới đánh thẳng vào Hồng Ngự. Lợi dụng yếu tố bất ngờ và hỏa lực mạnh, địch quân dùng chiến thuật Tiền Pháo Hậu Xung và Biển Người tràn ngập một số đồn bót hẻo lánh gần biên giới hay dọc theo kinh rạch do Địa Phương Quân và Nghĩa Quân thuộc Chi Khu Hồng Ngự trấn đóng. Đa số những đồn bót khác nằm sâu hơn trong lãnh thổ Việt Nam tuy chưa bị đánh chiếm nhưng cũng bị Cộng quân bao vây, cô lập và uy hiếp nặng nề khiến việc tăng viện hay tiếp tế hầu như không thể thực hiện nổi. 

Tuy bị lực lượng địch quân có hỏa lực mạnh và đông hơn gấp bội tấn công bất ngờ, các chiến sĩ Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cơ hữu thuộc Chi Khu Hồng Ngự lợi dụng địa hình quen thuộc đã chống trả hữu hiệu, tạm thời chặn được bước tiến của địch quân vào quận lỵ. Nhưng trước lực lượng đông đảo của quân chính qui Bắc Việt, phía VNCH chỉ có những đơn vị cơ hữu của Chi Khu chống giữ nên tình hình rất khẩn trương, quận Hồng Ngự có thể bị mất bất cứ lúc nào. Càng ngày, vòng vây của Cộng quân càng xiết chặt. Chúng bắn hàng trăm hỏa tiễn 122 ly vào quận lỵ gây thiệt hại nặng nề về nhân mạng cũng như tài sản của dân chúng. Quận Trưởng Hồng Ngự là Thiếu Tá Thái Lê Trương, một sĩ quan trẻ, xuất sắc trước đây thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh, tuy đã anh dũng điều động các đơn vị trực thuộc chống trả, nhưng trước tình trạng tuyệt vọng, đã liên tiếp yêu cầu Tiểu Khu Kiến Phong xin Chủ Lực Quân tăng viện khẩn cấp. 

Trong lúc đó, về phía Hoa Kỳ, các Pháo Đài Bay B-52 và các phi cơ chiến lược liên tiếp dội bom vào các vị trí Cộng quân dọc theo bờ Đông sông Cửu Long từ biên giới Miên - Việt tới Nam Vang để ngăn chặn địch phong tỏa thủy lộ. Những trận dội bom nay đã gây thiệt hại khá nặng cho lực lượng Cộng quân trên đường đánh chiếm Hồng Ngự khiến đà tiến của chúng bị chậm lại phần nào. Đặc biệt, trong cuộc oanh tạc của Pháo Đài Bay B-52 vào ngày 20 tháng 3, Cộng quân phải bắt dân dùng xe bò chở đi hàng trăm xác chết và mùi tử khí vẫn còn nồng nặc cả tuần sau đó. 

Trong khi chờ đợi quân bộ chiến tới tăng viện, Tiểu Khu Kiến Phong yêu cầu Hải Quân tiếp ứng để ngăn chận Cộng quân tràn qua sông Cửu Long cũng nhu Rạch Hồng Ngự đánh chiếm quận lỵ. Nhưng lực lượng Hải Quân thuộc Vùng IV Sông Ngòi lúc đó chỉ có Giang Đoàn 31 Xung Phong đã tăng phái chi Tiểu Khu Kiến Phong, lại đang bận hành quân tại vùng Đồng Tháp Mười giáp ranh tỉnh Định Tường nên không giúp đỡ gì được. Vì vậy, một phân đội giang đĩnh thuộc Giang Đoàn 26 Xung Phong đang hoạt động với Chi Khu Tân Châu thuộc tỉnh An Giang liền được điều động đến tăng viện chi Chi Khu Hồng Ngự. Tuy chỉ có một số giang đĩnh nhưng phân đội này đã ngày đêm tuần tiễu, phục kích, bắn chìm nhiều xuồng chở quân của địch mưu toan di chuyển từ bờ Đông sông Cửu Long sang cù lao Long Khánh. Vì vậy, áp lực của Cộng quân tương đối giảm vì một gọng kìm tấn công của địch quân đã bị Hải Quân bẻ gẫy. 

Nhưng những cuộc dội bom của Không Quân Hoa Kỳ cộng thêm sự yểm trợ ban đầu tại các vùng ven sông rất đắc lực của Hải Quân cũng chỉ có thể giúp các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân tạm thời cầm cự. Viện quân của địch tự do tràn qua vùng biên giới bỏ ngỏ mỗi ngày một tiến gần mục tiêu từ hướng sâu trong nội địa khiến tình hình lại thêm khẩn trương. Một lần nữa, Thiếu tá Trương lại hối thúc Tiểu Khu Kiến Phong xin tăng viện gấp. 

VI. Giang Đoàn 26 Xung Phong Tham Chiến
(Xem Phóng Đồ Hành Quân) 

Trước tình thế mỗi lúc mỗi nguy ngập một mất một còn của Chi Khu Hồng Ngự, Tiểu Khu Kiến Phong vội liên lạc với Quân Đoàn IV tại Cần Thơ để cầu cứu. Nhưng lúc đó, các đơn vị bộ binh thuộc Sư Đoàn 9 là đại đơn vị chủ lực chịu trách nhiệm lãnh thổ Tiểu Khu Kiến Phong đang bận tham chiến tại các mặt trận khác nên không thể nào tiếp viện kịp thời. Một lần nữa, Hải Quân lại đảm đang trọng trách. Theo yêu cầu khẩn cấp của Quân Đoàn IV, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi do Hải Quân Đại Tá Vũ Đình Đào (sau này được vinh thăng Phó Đề Đốc) chỉ huy, liền tức tốc ra lệnh Giang Đoàn 26 Xung Phong rút tất cả các giang đĩnh đang tăng phái ở các nơi khác về tập trung tại hậu cứ Long Xuyên chờ lệnh. Sau đó, toàn bộ Giang Đoàn do Hải Quân Thiếu Tá Trần Đỗ Cẩm chỉ huy liền được điều động lên chiến trường Hồng Ngự, cùng với toán giang đĩnh đang hoạt động tại đó để tăng cường lực lượng phòng thủ Chi Khu Hồng Ngự. 

Ngay khi tới vùng hành quân, các giang đĩnh của Giang Đoàn 26 Xung Phong đã phải trực tiếp đương đầu với hỏa lực nặng nề của Cộng quân từ hai bờ sông chờ sẵn. Đoán biết trước các giang đĩnh Hải Quân là lực lượng tăng viện duy nhất, địch quân đào sẵn các hầm hố, công sự kiên cố bố trí súng nặng bên bờ sông để ngăn chận. Rất may, khúc sông Cửu Long quanh Hồng Ngự khá rộng nên chúng không gây được thiệt hại nào đáng kể. Theo kế hoạch phòng thủ hoạch định với Chi Khu, các giang đĩnh được xử dụng như những đồn bót di động dàn dọc theo bờ sông như bức tường thành để ngày đêm bắn chặn, không cho địch quân di chuyển qua sông. Ngoài nhiệm vụ chặn địch, những giang đĩnh này còn đảm trách việc yểm trợ hỏa lực cũng như tản thương và tiếp tế cho các đồn bót ven sông đã bị địch vây hãm từ lâu. 

Với sự chiến đấu quả cảm của các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cơ hữu thuộc Chi Khu Hồng Ngự, cộng với các giang đĩnh thuộc Giang Đoàn 26 Xung Phong ngày đêm tuần tiễu và yểm trợ rất hữu hiệu, Cộng quân tạm thời bị chận đứng. Mũi dùi quan trọng của địch quân toan đánh bọc vào sườn phía Tây của Chi Khu Hồng Ngự bị Hải Quân bẻ gẫy vì chúng không thể vượt qua sông, do đó địch chưa thể chiếm được quận lỵ. Tuy mnº·t Tây đã có Hải Quân trấn giữ nên tạm thời ổn định, nhưng tình hình tại mặt Bắc lại trở nên vô cùng nguy ngập vì địch quân đã tiến sát bờ rạch Hồng Ngự, chì còn cách Chi Khu vài ba cây số. Hàng ngày, Cộng quân dùng đủ mọi loại vũ khí, kể cả súng bắn thẳng pháo kích vào Hồng Ngự. Các giang đĩnh án ngữ trên mặt sông để chặn địch cũng bị nhắm bắn dữ dội.

VII. Lực Lượng VNCH Tăng Viện


GIANG DOAN 26 XUNG PHONG - 2
Click de xem tiep


Aucun commentaire