iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 16/10/2009 à 21:45
Par pctdn
*
Publié le 16/10/2009 à 10:26
Par pctdn
 


Vuotbien§§§§§.JPG

Ghe vượt biên : Tôn Thất Phú Sĩ   lái 
* 20-11-1981 *  Khởi hành tại Bà Rịa *
*23-11-1981 đến Hong Kong*

   
MỘT LẦN ĐI



Có một lần đi tình đứt đoạn
Theo con sóng biển sớm mai hồng
Mịt mờ phía trước  hồn vô định
U uẩn đong  đầy mặt nước trong
 
Nhớ ơi là nhớ màu  lúa chín
Vàng  như rơm rạ quấn  con đê
Bao mùa mưa nắng  sầu  cố quận
Đời ta thôi trót lỡ câu thề
 
Vẫn biết quê xưa  tình nghĩa nặng
Nhưng đành  chia cách núi sông ơi
Hồn thiêng đất nước mong trở lại
Đâu ngờ  nay  vẫn  xa ngàn khơi 
 
Có gì lận đận  dài hun hút
Khắc khoải trăng tàn mộng viễn du
Níu kéo đôi chân chưa biết
mỏi
Mới hay lạc lối cõi sa mù
 
Nước mắt giờ hình  như đã cạn
Suối nguồn đã chảy hết  ra sông
Trên đỉnh bình yên cao vòi vọi
Xin cho thư thái một tấm lòng


Tôn Thất Phú Sĩ  

vuotbien2!!!!!!!!.JPG

108 Thuyền nhân và Gia Đình TTPS an toàn đến HONG KONG * Noel 1981




Từ sông Seine nhớ về ... VN

Paris - Juin 1982

PARIS  QUÊ HƯƠNG TÔI ?


Hai mươi bảy năm ... đời trầm lặng
Paris nhẹ gót bước phong trần
Mưa nắng hai mùa thêm tuyết phủ
Quên ngày vượt biển lắm gian truân
 
Quê hương vẫn còn cơn  ác mộng
Dòng sông  Seine cứ ngỡ dòng HƯƠNG
Lững lờ nước chảy xuôi về bến
Êm ái trong tim rất lạ thường


Paris là thơ trong ảo  giác
Thân tình gìn giữ khoảng đời tôi
Phải chăng  có lẽ duyên trời đất
Sống giữa Paris tưỡng SaiGon


Vẫn có lúc thấy buồn ray rức
Đôi  khi muốn quên cả Việt Nam
Chỉ sợ mai này thân thành bụi
Hồn về quê cũ biết nương đâu


Nhớ quá nhiều lúc đứng ngẩn ngơ
Xa trông ngọn núi ... núi xa mờ
May ra còn có con diều giấy
Để tôi thả mộng nhớ Quê nhà


Sực tỉnh lòng đau thấy thẹn thùng
Trong tôi chỉ có một QUÊ HƯƠNG
Ngày mai đất nước thanh bình lại
Tôi sẽ về theo dưới  bóng cờ


Cờ vàng  phất phới bay trong gió
Vàng cả trời thu cả nước NAM


Tôn Thất Phú Sĩ
Paris Sept. 2009



Publié le 13/04/2009 à 16:28
Par pctdn


Cầm tờ giấy ra trại mà tưởng mình đang mơ. Chúng tôi một toán 13 người ngồi quanh trong một cái láng ( phòng ) nhỏ lợp tranh cạnh bìa rừng. Tên Công An Quản Giáo đang lên lớp :
- Nhân Dân xét thấy trong thời gian Cải Tạo, các anh có vài tiến bộ, học tập chính trị và lao động tốt, nên ngày hôm nay với chính sách khoan hồng của Cách Mạng, các anh được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa cho các anh về. Các anh về phải trình diện Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố , nơi đây sẽ Quản Lý các anh.
Hành lý chúng tôi mỗi người chỉ có một cái võng, vật dụng linh tinh tự chế như chén, lon , muổng , đũa ..., một cái mền cũ và 5 kg khoai mì được nhà nước cấp cho để bồi dưỡng trên đường về . Vi không có áo quần tươm tất ,  6 năm khốn khổ đã rách tả tơi , tôi đành phải mặc bộ áo quần Cải Tạo màu nâu, phía sau có hàng chữ đỏ CT.5. ( Cải Tạo khu 5 / Đội 2 ) . Đành vậy thôi, mặc dù có vài Công An Quản Giáo hăm doạ “ các anh coi chừng Nhân Dân biết các anh là Nguỵ Quân Nguỵ Quyền đầy nợ máu, Nhân Dân sẽ ném đá các anh”. Tôi nghĩ thầm , dù sao vẫn còn lối thoát , hơn là sống trong tù. Chúng tôi  phần nhiều không tin lời tên công an,  nhận xét thấy rằng trong thời gian đi lao động, một đôi lần  gặp dân, tuy bị cấm ngặt không được liên hệ,  họ vẫn len lén vất cho vài củ khoai, vài trái chuối, tuy họ rất lam lũ và quá nghèo. Chúng tôi an tâm phần nào .
Nhìn bao khoai mì ( thực phẩm chỉ có vậy thôi), đường về xa thăm thẳm, làm sao nấu nướng, anh Nuôi trại tù, đề nghị mua phần khoai mì này cho heo ăn với giá 6 đồng một kg.Chúng tôi đành phải bán cho nhẹ hành trang . Với ba mươi đồng chúng tôi có thể ăn được một tô phở không người lái và mua thêm một ổ mì, anh nuôi nói vậy.  Lấy gì ăn trên đoạn đường về nhà đây? Thôi thì tới đâu hay tới đó, miễn thoát khỏi chỗ này rồi tính , chúng tôi ai cũng nghĩ vậy. Lần đầu tiên nhìn thấy tiền miền Bắc, (theo luật lệ của trại thì cải tạo viên không được giữ tiền), chúng tôi  buồn cười :“ sau hơn 6 năm lao động cho xã hội chủ nghĩa, mình được một số tiền 30 đồng cụ Hồ, biết chừng đâu mình sẽ trở thành Tư sản, rồi lại bị đấu tố thì sao?”. Nghĩ tếu cho vui vậy thôi chứ lòng chúng tôi  ai nấy cùng hồi hộp, nôn nóng, nghĩ đến chốc nữa đây sẽ được trở về bên mẹ cha, bên vợ con, bên gia đình và lòng lâng lâng một niềm vui khôn tả.  Tôi đang mơ nhè nhẹ bước vào nhà, mọi người không ai biết ...  Tôi chợt thấy nước mắt mình ứa ra tự lúc nào , không dám  tưởng tượng cái sự thật tôi đang có vì mới  cách đây vài giờ tất cả đều ngoài tầm tay.  Thực hay mơ, nghĩ cho  cùng, có lẽ mình giống như chết đi sống lại.Chiều hôm nay, rừng núi miền Bắc đầy tiếng chim kêu, ánh nắng chiều chan hoà reo vui trong gió. Trong cái ngút ngàn vô cùng tận của đất trời, tôi mơ ... mơ những nụ hôn, những vòng tay, những lời chan chứa ân tình của một ngày về :


Trên đường về nhớ đầy;
Chiều chậm đưa chân ngày.
Tiếng buồn vang trong mây.
Tiếng buồn vang trong mây.
Chim rừng quên cất cánh.
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ.
Chất trong hồn chiều nay.
Chất trong hồn chiều nạy
Tôi là người lữ khách .
Màu chiều khó làm khuây .
Ngỡ lo`ng  mình là rừng .
Ngỡ hồn mình là mây ....


Tôi hát khe khẽ cho tôi nghe bài thơ Chiều của Hồ Dzếnh  , ai đó đã phổ nhạc như chính lòng tôi đang phổ nhạc.
Theo chương trình, chúng tôi được ăn bửa cơm cuối ngay chiều nay, sau đó xe Công An của trại sẽ đưa bọn tôi xuống núi và cấp vé tàu lửa cho chúng tôi về Nam. Mọi việc đã xong xuôi, khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi tụ họp tại cổng trại, điểm danh một lần cuối, chờ xe của trại chở đi. Xin giã từ tất cả, chào tất cả bạn tù còn lại mặc dù không thấy mặt nhau trong giây phút này vì cổng trại xa quá tầm nhìn về các láng bạn tù đang ở. Tôi nhìn lên cổng trại, lá cờ đỏ sao vàng bay phất phơ, dưới hàng chữ :CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM - CÔNG AN NHÂN DÂN Tỉnh HÀ NAM NINH và  ảnh Hồ Chí Minh . Tôi dơ tay chào và thầm nói - "Thôi mày ở lại , ta đi"
Xui cho tôi, tên công an gác cổng đàng xa, vẫy tay gọi tôi lại .
- Anh kia, lại đây, anh nói gì với Bác đấy ?
Tôi lanh trí , trả lời:
- Tôi chào bác tôi về, tôi rất hồ hởi phấn khởi, nhờ ơn Bác và đảng khoan hồng cứu xét cho tôi được về sum họp với gia đình.
- Anh lại đây, chờ làm việc.
Tôi đến vọng gác đứng chờ . Khoảng 15 phút sau có một công an Quản Giáo ra, đưa tôi vào phòng làm việc. Vẫn câu hỏi “anh nói gì với Bác? ”Tôi trước sau như một, cứ một lời ban đầu trả lời. Thế là tôi bị giữ lại, 12 bạn lên xe ra đi. Tôi bùi ngùi nhìn theo, chiếc xe vận tải rú lên và lao đầu về phía trước để lại một đám bụi mờ, mờ như số phận của tôi phải trả , do cái tính hay tếu của tôi cho đời nó vui. Vui đâu không thấy bây giờ lại lo, lo một chút thôi, bởi vì thật ra, cũng liều rồi. Sau đó tôi bị giam cách ly và hàng ngày hàng đêm tôi phải làm tờ tự khai với câu hỏi “ Anh đã nói gì với Bác?”. Tôi vẫn cứ thế trả lời hàng trăm lần như một lần “Tôi chào bác tôi về, tôi rất hồ hởi phấn khởi, nhờ ơn bác và đảng khoan hồng cứu xét cho tôi được về sum họp với gia đình”.
Cuối cùng sau hai tuần bị giữ lại, tôi được tha, với lời hăm doạ :
-Tạm tha cho anh , chúng tôi không tin lời anh nói tốt như vậy .
Lần này tôi nhắm mắt đi (không một lời giã biệt Bác).
Tôi được trao lại đầy đủ hành lý, kể cả 30 đồng Cụ Hồ. 4 giờ sáng ngày 21/09/81 ( tôi gọi là ngày N ) , tôi quá giang xe anh Nuôi đi chợ. Tài xế chở tôi đến một ga không có tên tuổi gì cả ( sau này tôi biết được là Ga Vinh ), toàn là người miền núi. Họ nói tiếng của họ, họ hiểu với nhau,  tiếng Việt của người dân tộc.Người Quản giáo trao cho tôi  tấm vé xe lửa "tàu chợ". Tôi chỉ được cấp vé về đến Qui Nhơn, từ Qui Nhơn về Saigon phải tự túc. Tôi nghe trên loa phóng thanh người ta thông báo xe chạy đến ga Diệu Trì sẽ ngừng để chạy ngược lại về miền Bắc. Suốt thời gian di chuyển, tôi không dám mua một món gì để ăn , dù một củ khoai. Chỉ có 30 đồng, nếu hết thì làm sao xoay xở, trên người không có một cái gì có thể đổi chác được. Tôi uống nước cầm hơi cho qua ngày. Nghĩ ngày về đến Saigon vui quá tôi quên đi cái đói phần nào. Nhưng đến ngày N+3 , vừa bước ra khỏi toa xe lửa, tôi muốn xỉu, hoa mắt, nhức đầu, bụng cồn cào ra chất chua. Chợt thấy con chó hoang ghẻ lác đứng gặm khúc xương bên hè mà nước miếng mình chảy dài. Cầm lòng không được, tôi sà xuống gánh hàng rong bán bún, ăn một tô bún to với nước mắm chanh tỏi ớt đường. Những cọng bún trắng tinh, thêm vị chua ngọt mặn trôi dần xuống cổ. Tôi không dám ăn nhanh, chậm chậm thưởng thức cái mùi vị ngàn năm một thuở. Bụng đã no rồi nhưng bụng lại đau khi người bán hàng bảo:
- Cho tớ xin 15 đồng.
Thế là toi đi mất nữa gia tài.
Chần chờ tại ga Diệu Trì đến trưa phòng bán vé mới mở cửa. Tôi hỏi vé đi thành phố Hồ chí Minh. Anh cán bộ bán vé trả lời “Diệu Trì - TP HCM giá 58 đồng”. Tôi yêu cầu cho giá hạng bét, anh ta lạnh lùng trả lời “đây chỉ có một giá thôi, đồng hạng”. Tôi năn nỉ “xin anh giúp cho, tôi chỉ có vỏn vẹn 15 đồng, cải tạo được tha về mà anh”. Với giọng Bắc lạnh lùng hơn nữa, anh ta dứt khoát trả lời “Không là Không”.Tôi đành ở lại Ga Diệu Trì để tìm phương cách khác.
Với số tiền còn lại, tôi cầm hơi khoai sắn được hai ngày thì hết sạch.
Ban ngày tôi tìm đủ mọi cách để kiếm tiền vé xe nhưng không có cách nào cả, tối lại treo võng tòn ten ngủ trong sân ga. Thấy tôi mặc bộ đồ tù nên chẳng ai hỏi đến. May thay đến ngày thứ ba, trong lúc không còn một xu để mua thức ăn , có một em bé mặt mũi khôi ngô khoảng mười tuổi tự nhiên chạy đến hỏi:
- Chú có muốn đi làm kiếm tiền không?
Mừng quá tôi hỏi:
- Làm chuyện gì em?
- Nhà cháu cần người gánh nước, mỗi đôi 1 đồng.
Tôi nhận lời ngay. Em bé dẫn tôi về nhà, giới thiệu với bố mẹ. Người ta bằng lòng với điều kiện gánh nước không mặc quần áo cải tạo. Tôi nghĩ điều chi chớ điều này thì quá dễ, mặc quần xà lỏn gánh nước cũng tiện cho tôi. Từ giếng về nhà xa gần cây số, mỗi thùng cỡ 20 lít, cố gắng lắm tôi cũng  chỉ  gánh được 15 đôi. Ngày đi cải tạo 68 kg, ngày về còn 50 kg, gởi lại 18 kg thịt cho núi rừng Bắc Việt, tôi cảm thấy không đủ sức để gánh nhiều hơn . Tôi nhận mười lăm đồng để sống qua ngày. Ngày hôm sau người ta không thuê nữa, thế là thất nghiệp. Những ngày vô vị trôi qua, lòng như lửa đốt, tôi đành chọn phương pháp NHAỶ TAÙ. Đây là phương pháp của những người bán hàng rong đi lậu vé, nếu bị xét vé thì bị phạt nặng. Đối với những người bán hàng rong thì dễ dàng vì người ta là dân,  lại quen mặt với  những người xét vé, còn tôi là tù vừa được thả, chưa có quyền công dân, lỡ bị xét không có vé có thể đi tù trở lại . Biết vậy nhưng con người đến đường cùng thì phải liều, tôi quyết định nhảy tàu.
Ngày N+10  chuyến tầu Thống Nhất từ Hà Nội vào đúng 8 giờ sáng  Từ đấy về Saigon tàu sẽ ghé mỗi ga. Tôi theo những người bán hàng rong đứng chờ sẵn mỗi toa. Khi còi tàu hú và chuyển bánh chầm chậm, dân nhảy tàu lợi dụng thời gian này, bu theo thành tàu chạy một đoạn rồi nhảy lên, đến ga tới, tàu ngừng thì nhảy xuống. Tại mỗi Ga như vậy, tàu ngừng khoảng 30 phút để hành khách lên xuống, chuyển hàng hoá và soát vé.
Tôi cứ nhảy ga như vậy cho  đến ga Tuy Hoà. Trên đường nhảy ga tôi thường giúp đỡ những người bán hàng rong để chuyển dùm hàng hoá lên xuống, do đó tôi chiếm được cảm tình nhiều người và được tặng vài củ khoai, củ sắn, miếng cơm, cái bánh... no lòng trên suốt đoạn đường dài. Từ Tuy Hoà đến Ga Nha Trang, tàu đang chạy ngon trớn, bỗng nhiên ngừng lại. Sợ bị xét vé, tôi vội nhảy xuống, nhưng không phải soát vé mà là có một tai nạn xảy ra. Tàu đang cán phải một người. Hỏi ra mới biết nạn nhân cũng là một người tù mãn án, trên đường về không có tiền mua vé nên phải nhảy tàu, bị tên cán bộ xét vé đẩy té ngã vào đường rầy.Tên cán bộ này đang bị mọi người phẫn nộ đánh hội đồng. Sau đó tàu phải ngưng giữa đường một đêm, để giải quyết sự việc và từ đấy không còn xét vé . Khi  tàu đến Ga Mường Mán, Phan Thiết, tôi ngồi lì không thèm nhảy nữa, bình an về đến Ga Bình Triệu đúng 11 giờ đêm ngày N+16.
Gió mát từ sông Saigon thổi vào thành phố. Chợ Bến Thành rộn rịp như ngày tôi đi nhưng tôi vẫn ngỡ ngàng nhìn Thủ Đô ngày nào bây giờ là thành phố đổi tên . 16 ngày đêm trên đoạn đường dài, biết bao kỷ niệm từ Bắc về Nam. Tôi vất hết hành lý, hai tay thọc vào túi áo, thả bộ từ Ga về nhà, trên con đường Trương Minh Giảng quen thuộc, lòng phơi phới nghĩ đến vợ con, đến mái nhà tổ ấm của tôi. Trong niềm tin và hy vọng, tôi chuẩn bị  tư tưởng cho một chuyến ĐI XA. Đi thật xa và không bao giờ quay trở lại.

Tôn Thất Phú Sĩ



Chiều


Sáng tác: Dương Thiệu Tước - Hồ Dzếnh
Trình bày: Khắc Triệu


Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Tiếng buồn vang trong mây

Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay
Chất trong hồn chiều nay

Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ lòng mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây

Trên đường về nhớ đầy.
Chiều chậm đưa chân ngày.
Tiếng buồn vang trong mây
Tiếng buồn vang trong mây



Publié le 06/04/2009 à 21:49
Par pctdn

nắng lên xóm nghèo - mạnh quỳnh



Chiều

Sáng tác: Dương Thiệu Tước - Hồ Dzếnh

Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Tiếng buồn vang trong mây

Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay
Chất trong hồn chiều nay

Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ lòng mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây

Trên đường về nhớ đầy.
Chiều chậm đưa chân ngày.
Tiếng buồn vang trong mây
Tiếng buồn vang trong mây

Publié le 05/04/2009 à 16:49
Par pctdn

Bô-xít tuôn lệ đỏ khóc sơn hà (*)

Nguyễn Bặc

      
    Trước đây khoảng nửa năm, khi nhà cầm quyền Bắc Kinh công bố quyết định sẽ bơm gần 600 tỉ USD (khoảng 450 tỉ Euro) vào một chương trình kích thích kinh tế trong nước trước cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, thì đã có rất nhiều tiếng hoan hô trên diễn đàn quốc tế. Bắc Kinh cho hay sẽ dùng số tiền khổng lồ này để tái thiết hạ tầng cơ sở bệ rạc của mình, hỗ trợ các vùng nông thôn nghèo xơ xác, cũng như xây dựng hệ thống an sinh xã hội sơ khai mấy chục năm qua. Chương trình kích cầu này cũng được cho hay sẽ không yểm trợ các dự án có hại cho môi sinh.

Chính chi tiết cuối cùng này đã làm cho một vài nhà phân tích chính trị Việt Nam nhíu mày: Họ có một ngờ vực nào đó, cho rằng các ngành công nghệ bẩn của Trung Quốc lâu nay (như khai thác quặng mỏ, nhất là mỏ bô-xít, một nguyên liệu để sản xuất nhôm), trước tình thế này sẽ tìm đường qua các xứ nghèo hơn, có nhân công rẻ hơn, có trình độ phát triển công nghệ thấp hơn để tung hoành sản xuất. Nói một cách khác, Trung Quốc đi xuất khẩu ô nhiễm. Việc xuất khẩu ô nhiễm này của Trung Quốc sẽ dễ dàng hơn nữa, nếu xứ nghèo đó lại là một nước độc tài, bị cai trị bởi một cá nhân hay tập đoàn thiếu sáng suốt, tham quyền cố vị, đặt quyền lợi của phe nhóm trên quyền lợi tối cao của dân tộc. Ví dụ như nước Cộng Hoà Guinea bên châu Phi hay là… nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam nằm sát nách Trung Quốc.

Nằm ven biển phía tây châu Phi, Guinea là một nước độc tài quân phiệt (đảo chính liên miên từ 2006 đến nay, lần cuối là cuối tháng 12/08), 10 triệu dân, lợi tức đầu người 473 USD, đứng hạng 157 trên thế giới, lạm phát khoảng 12,5%. Quân phiệt Guinea đã kí với Trung Quốc một hiệp ước, theo đó Trung Quốc xây cho Guinea một đập nước tại Souapiti và một nhà máy thuỷ điện có công xuất 150 Megawatt trị giá 1 tỉ USD. Để đổi lại, Trung Quốc sẽ có quyền  nhập khẩu miễn phí 2 tỉ tấn bô-xít từ Guinea (có trị giá khoảng 800-1000 tỉ USD!).

Và nằm sát nách phía nam Trung Quốc, Việt Nam là một nước độc tài CS (thống trị cả nước liên tục từ 34 năm qua), 82 triệu dân, lợi tức đầu người 818 USD, đứng hạng 141 trên thế giới, lạm phát mới nhất là khoảng 11,5%. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huy, năm 2007 chính Bắc Kinh đã gợi ý ĐCSVN nhượng cho Trung Quốc quyền khai thác các quặng mỏ trên Tây Nguyên (trước 1975 gọi là Cao nguyên Trung phần), đặc biệt là quặng bô-xít, đổi lại Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam xây dựng và mở rộng đường sá từ Tây Nguyên xuống cảng Cam Ranh, kể cả việc tân trang mở rộng hải cảng này và xây dựng hoàn toàn mới một tuyến đường sắt, dài từ 200 đến 300 km, để chuyển hàng từ Đăk Nông xuống Bình Thuận. Ngày 1-11-2007 thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký một quyết định (số 167/2007/QĐ-TTg) thông qua và giao cho Tập đoàn Than Khoáng Sản VN, một công ti quốc doanh, quyền khai thác dự án bô-xít trên Tây Nguyên. Ngày 11-2-2009 bản Tuyên bố chung giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới dự án khai thác quặng bô-xít ở Đăk Nông mới được chính thức công bố, mặc dù văn bản này đã được kí kết từ 8 tháng trước đó, sau chuyến công du Bắc Kinh của Tổng bí thư CSVN Nông Đức Mạnh ngày 30-5-2008 (!).

Nhìn qua thì trên đây chỉ là một cuộc đổi chác, mà phía Việt Nam cũng có phần chấm mút. Vậy tại sao trong và ngoài nước lại nổi lên một làn sóng chống đối mãnh liệt dự án bô-xít Tây Nguyên? Đâu là vấn đề?

Vấn đề thứ nhất là: Dự án bô-xít Tây Nguyên sẽ đem lại một thảm hoạ môi sinh vô tiền khoán hậu trên đất nước ta. Các lợi nhỏ trước mắt sẽ không bù đắp được một phần trăm, phần ngàn sự tàn phá đất đai, sông ngòi và không khí của hằng thế hệ con cháu chúng ta sau nay.

Vì bô-xít được khai thác lộ thiên, nên phương thức này sẽ chiếm dụng vô số đất đai, người ta bắt buộc phải phá rừng và huỷ hoại môi trường sinh vật trên Tây Nguyên. Có thể tính đổ đồng rằng muốn có 1 triệu tấn Alumina (Alumina chưa phải là nhôm kim loại, mà chỉ là quặng bô-xít sơ chế, công thức hoá học là Oxyd nhôm Al2O3, để xuất khẩu), người ta phải phá bình quân 450 hec-ta rừng. Theo các dự án đầy tham vọng của các quan chức CSVN thì tổng công suất dự tính sẽ lên đến 18 triệu tấn/năm, tương đương với việc phá một diện tích đất đai là 8 ngàn hec-ta mỗi năm, năm này qua năm khác! Trong khi đó, dù chưa tính đến hậu quả tai hại của dự án bô-xít, sự tàn phá môi trường diễn ra từ năm 1975 đến nay ở Tây Nguyên đã quá sức tưởng tượng rồi: Riêng Lâm Đồng có 67 ngàn hec-ta rừng thông, thì đã bị phá huỷ 52 ngàn hec-ta!

Ngoài việc phá rừng và chiếm đất, việc khai thác bô-xít để chế biến Alumina còn tốn một lượng nước khổng lồ (24 triệu m3 nước cho 1 triệu tấn Alumina!), điều mà Tây Nguyên không có. Các dự án lại được thiết kế nằm ở vùng các suối đầu nguồn cung cấp nước cho các sông La Ngà, Đồng Nai, là các nguồn nước chính của thuỷ điện Hàm Thuận – Đa Mi và hồ Trị An. Hoặc nằm ở vùng đầu nguồn suối Đăk R’Tih – nguồn nước chính của các nhà máy thuỷ điện nằm trên sông Sêprốc. Nếu lấy nước để tinh chế Alumina thì sẽ thiếu nước nghiêm trọng cho yêu cầu của dân sinh, trồng trọt và cho thuỷ điện. Trong khi đó, mực nước ngầm tại Tây Nguyên đã giảm mất cả 20 mét, vì nhiều năm qua việc canh tác cao su, cà phê, trà, hột điều, hồ tiêu,… đã được đẩy mạnh quá mức.

Nhưng vấn đề môi sinh nhức nhối số một trong quá trình sơ chế Alumina là chất thải cực kì nguy hiểm của nó, gọi là bùn đỏ (tiếng Đức là Rotschlamm). Chất bùn đỏ được thải ra trong quá trình sơ chế Alumina, còn đọng lại một lượng Natronlauge rất lớn, cùng với những hoá chất khác như Oxyd sắt, Oxyd Titan và nhiều hợp chất khác, có tác dụng ăn mòn và huỷ diệt môi sinh nơi chứa nó, có thể ô nhiễm nguy hiểm các mạch nước ngầm và môi sinh của các vùng chung quanh. Cứ sơ chế 1 tấn bô-xít thì người ta phải thải ra nửa tấn bùn đỏ, cộng thêm với một khối nước nhiễm bùn. Vì các dự án của Việt Nam chọn phương pháp rẻ tiền, gọi là công nghệ thải „ướt“ (lạc hậu và nguy hại cho môi trường hơn công nghệ thải „khô“ đắt hơn), nên chất lỏng bùn đỏ phải lưu trữ trong các hồ chứa khổng lồ, có những đập chắn to lớn như đập hồ thuỷ điện. Vì địa thế cao của Tây Nguyên, có gió lớn về mùa khô và mưa nhiều về mùa mưa, nên việc giữ cho hàng triệu tấn bùn đỏ năm này qua năm khác trong các hồ chứa không bị gió bốc bay đi hoặc không trôi xuống các vùng dân cư chung quanh sẽ vô cùng tốn kém và mang nhiều rủi ro khôn lường sau này.

Chưa nói đến nhu cầu năng lượng để tinh chế Alumina (mà Việt Nam hiện đang thiếu hụt nghiêm trọng), việc phải tích trữ trên Tây Nguyên một số lượng khổng lồ về hoá chất cho các nhà máy bô-xít, hay việc phá hoại thô bạo thiên nhiên để xây đường sá, cầu hầm và nguy cơ ô nhiễm bãi biển trong các hải cảng tương lai để xuất khẩu quặng bô-xít sơ chế, các vấn đề nói trên cũng đủ cho thấy nguy cơ của một thảm hoạ môi sinh kinh hoàng, di hại cho nhiều thế hệ con em Việt Nam.

Không phải là không có lí do, khi mà trong năm 2008 chính Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa gần 100 mỏ bô-xít trong vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây và trong huyện Tĩnh Tây thuộc tỉnh Quảng Tây (trong đó có những mỏ chỉ vừa mới đi vào hoạt động được một năm), vì "quặng bauxite tàn phá môi trường, gây ra nhiều bệnh tật lạ cực kỳ nguy hiểm cho sức khoẻ con người" (Nhân Dân Nhật Báo).

Vấn đề thứ hai là: Dự án bô-xít Tây Nguyên là một nguy cơ về an ninh, quốc phòng cho nước ta: Nó chỉ là một lí cớ để người Trung Quốc có mặt chính thức và đông đảo trên một địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng của Việt Nam.

Nó nằm trong cái gọi là chủ trương "hai Hành lang, một Vành đai kinh tế" của Trung Quốc (x.x. Bản Tuyên bố chung Việt-Trung ngày 2-6-2008, Điều 5). Hai Hành lang ở đây là quốc lộ 1 của Việt Nam và quốc lộ 13 của Lào, một Vành đai kinh tế là vùng Nam Hoa và ba quốc gia Đông Dương. Quốc lộ 13 nối liền miền Bắc Lào xuống Nam Lào vừa hoàn tất cuối năm 2008. Hiện nay Bắc Kinh đang giúp Kampuchia xây dựng lại quốc lộ 7, nối liền miền Bắc xuống hải cảng Kampot và Kompong Som trong vịnh Thái Lan, dự trù xong cuối năm nay. Nếu dự án Hành lang 2 này (nối liền các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây với vịnh Thái Lan) hoàn tất, hàng hoá xuất khẩu và tài nguyên nhập khẩu sẽ ra vào miền Hoa Nam một cách thong dong, thẳng đuột.

Trong chiến lược này thì hai Hành lang giống như 2 ngón tay xỉa dài của Trung Quốc chọc thẳng vào cái gọi là "Vành đai Kinh tế" mà Bắc Kinh có lẽ xem như „sân nhà“ của mình (tương tự như chủ trương của Trung Quốc lâu nay xem Biển Đông từ đảo Hải Nam đến Trường Sa là „ao nhà“ của họ).

Trong khi Hành lang 2 được Bắc Kinh xem đã nắm chắc trong tay rồi, thì Hành lang 1 (quốc lộ 1 của Việt Nam) cần phải được bảo đảm hơn nữa bằng sự hiện diện hữu cơ và đông đảo của người Trung Quốc.

Mặc dầu các dự án khai thác quặng bô-xít chưa được thông qua, trong lúc các chuyên gia và quan chức Việt Nam còn đang tổ chức các cuộc „toạ đàm“ tới lui về vấn đề „Mất và được trong việc khai thác bô-xít Tây Nguyên“,vân vân và vân vân, thì hơn 1000 người Trung Quốc „lạ lẫm“ đã có mặt tại Đăk Nông để đo đạc, đào xới và xây dựng cơ xưởng. Còn ở Bảo Lâm (Bảo Lộc-Lâm Đồng), một cán bộ phòng Lao động Thương binh tại thị xã Bảo Lộc nói rằng hiện nay có khoảng 500 người Trung Quốc gồm các chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 người Trung Quốc phục vụ tại đây. Sau một hàng rào cao hơn đầu người là một dãy nhà mới xây khang trang làm nơi ở của các "chuyên gia" Trung Quốc. Cũng tại Bảo Lâm, các cửa hàng („Trung Hoa Quán“) đã mọc lên để phục vụ các "chuyên gia" và công nhân „nước bạn“, mà tổng số trên toàn Tây Nguyên có khả năng lên tới từ 10 000 đến 20 000 người và có nhiều dấu hiệu chứng tỏ đây là những quân nhân mặc thường phục.

Vấn đề thứ ba là: Dự án bô-xít Tây Nguyên sẽ đem lại nhiều bất ổn xã hội cho nước ta.

Từ xưa nay, cộng đồng người Thượng vùng Cao nguyên Trung phần (với các dân tộc lớn là Bahnar, Jarai, Rade, Kaho, Mnong và Stieng) đã chưa bao giờ thắm thiết được với các chính quyền trung ương, dù chính quyền đó là Sài Gòn trước kia, hay Hà Nội từ 1975 đến nay. Họ có những liên hệ thân thiện hơn với người Pháp hay người Mỹ trong thời chiến tranh, vì những người phương xa này có chính sách gian ngoan lấy lòng họ, huấn luyện quân sự cho họ, để dùng họ làm phương tiện áp lực chính trị với chính quyền người kinh. Ngược lại, các chính quyền Sài Gòn hay Hà Nội không những đối xử tệ bại với họ như con ghẻ, mà còn luôn luôn nhìn họ với cặp mắt đầy nghi ngờ, đàn áp ngấm ngầm và công khai các phong trào đòi quyền sống chính đáng của họ. Tình hình đàn áp người Thượng Tây Nguyên dưới thời CSVN đã lên cao điểm, thời các quan chức đỏ tìm cách chiếm cứ đất đai, núi rừng –là không gian sinh sống của người Thượng- rồi bán cho dân di cư từ các tỉnh miền Bắc ào ạt vào trồng trọt, lập nghiệp. Dân số Tây Nguyên trước đây là 1,2 triệu, nay đã lên đến 4 triệu. Năm 2001, hàng ngàn người Thượng Tây Nguyên đã tổ chức đứng lên biểu tình ôn hoà để đòi đất sống và đòi tự do tôn giáo (nhiều người Thượng theo đạo Tin Lành, do chính sách truyền đạo của người Mỹ trong thời chiến tranh Việt Nam). Họ đã bị CSVN dồn quân đội đàn áp vô cùng man rợ. Hàng loạt những người lãnh đạo Thượng đã bị bắt trong đợt này và xử tù nặng đến 10-12 năm, nhiều người vô danh chết trong cuộc tra tấn của CSVN. Những năm sau đó, hàng ngàn người dân Thượng lũ lượt kéo nhau qua Kampuchia xin tị nạn chính trị với UNHCR. Làn sóng bất mãn này trong tương lai chắc chắn sẽ gia tăng trong cộng đồng người Thượng, nếu đất đai và núi rừng Tây Nguyên bị dự án bô-xít tàn phá một cách có hệ thống.

Các chuyên gia an ninh CSVN sẽ nghĩ sao, nếu phong trào phản kháng này của người Thượng Tây Nguyên sẽ bị các chuyên gia tình báo Trung Quốc lợi dụng và huấn luyện họ thành một lực lượng FULRO mạnh, lần này thì trung thành với Bắc Kinh? Và họ sẽ tính sao, nếu số người kinh lên Tây Nguyên lập nghiệp lâu nay nổi lên chống đối vì sự thu nhập tại các đồn điền cao su, cà phê, trà, hột điều, hồ tiêu,… bỗng nhiên sụt giảm vì các hậu quả môi sinh tai hại của dự án bô-xít (bùn đỏ, thiếu nước canh tác, thiếu điện cho các trạm bơm,…)? Và nếu ngành du lịch và ngư nghiệp của dân cư vùng duyên hải Trung bộ cũng bị khốn đốn năm này qua tháng khác vì ô nhiễm không khí và biển cả do bô-xít gây ra?

Trước phong trào phản kháng của nhân dân trong và ngoài nước, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định hôm 4-2-2009 rằng việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên là „chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước“ và quyết tâm theo đuổi.

Đó là một chủ trương sai lầm, và là một sai lầm cố ý!

Chủ trương sai lầm này là một tội ác của CS Hà Nội đối với con người Việt Nam và đất nước Việt Nam!


Nguyễn Bặc

Stuttgart, 29-3-2009

*) Tựa bài mượn một câu trong bài thơ „Lửa Bô-xít“ của Hà Sĩ Phu.