|
Publié le 20/01/2009 à 21:28
Par pctdn
20-01-2009 * Lễ Nhậm Chức của tân Tổng Thống Obama
(Tin tổng hợp đài VOA và RFA và VN Express)
Khoảng 2 triệu người đã đổ về Quảng trường Quốc gia ở thủ đô Washington để chứng kiến ông Barack Obama tuyên thệ nhậm chức trong tư cách là vị tổng thống người Mỹ gốc Phi Châu đầu tiên của Hoa Kỳ.
Ông Obama và gia đình đã đến nhà thờ St.John, cách Tòa Bạch Ốc một khu phố, để dự thánh lễ riêng trước lễ nhậm chức theo truyền thống. Sau đó, Tổng thống tân cử và phu nhân là bà Michelle, cùng với phó tổng thống tân cử Joe Biden và phu nhân là bà Jill đến Tòa Bạch Ốc để uống cà phê với tổng thống George W. Bush. Buổi lễ đã tiến hành vào giữa sáng với phần trình diễn âm nhạc của nữ danh ca Aretha Franklin, nhạc sĩ đại hồ cầm Yo-Yo Ma và nhạc sĩ vĩ cầm Itzhak Perlman. Ông Biden sẽ là người đầu tiên tuyên thệ nhậm chức, do thẩm phán tối cao pháp viện John Paul Stevens cử hành. Chánh án John Roberts sau đó cử hành lễ tuyên thệ tổng thống cho ông Obama. Tổng thống tân cử Barack Obama và phu nhân đến nhà thờ St.John Ðám đông tụ tập tại Quảng trường Quốc gia ở thủ đô Washington để chứng kiến lễ nhậm chức của ông Obama: “Tôi long trọng thề rằng tôi sẽ nghiêm chỉnh thi hành nhiệm vụ của Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ hết sức giữ gìn, bảo vệ và bênh vực Hiến Pháp Hoa Kỳ. Xin Thượng Đế phù hộ tôi”. Đó là 39 chữ mà theo truyền thống lâu đời của nước Mỹ, bất cứ một Tổng Thống đắc cử Hoa Kỳ nào cũng phải đọc nguyên văn như thế trong buổi lễ tuyên thệ trước khi chính thức được trở thành Tổng Thống. Nhân dịp lễ nhậm chức của ông Barrack Obama, vị Tổng Thống thứ 44, cũng là vị Tổng Thống da màu đầu tiên của Hoa Kỳ. Hà Giang tìm hiểu về lịch sử của buổi lễ long trọng này: Thành phố Nữu Ước là nơi mà Tướng George Washington đã tuyên thệ để trở thành Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Trước đó, Quốc Hội Mỹ đã dự định cho chính phủ mới bắt đầu nhiệm kỳ của họ vào ngày 4 tháng 3, năm 1789, nhưng mùa đông khắc nghiệt năm ấy đã khiến việc di chuyển vô cùng khó khăn, nên mãi đến ngày 6 tháng 4, các nghị sĩ mới có mặt đầy đủ ở Nữu Ước để đếm phiếu đại biểu, và chính thức tuyên bố rằng George Washington đã được bầu làm Tổng Thống Hoa Kỳ. Phải mất mấy ngày hôm sau, tin này mới đến được tư gia của Tướng George Washington tại Mount Vernon, tiểu bang Virgina. Được tin, Tướng George Washington gấp rút lên đường đến thủ đô, để lại vợ là bà Martha Washington ở nhà thu xếp đi sau. Trong cuộc hành trình gian nan đến Nữu Ước, Tướng George Washington đã phải dùng xe ngựa bốn bánh và có lúc phải cưỡi ngựa để đi qua ba tiểu bang Baltimore, Wilmington và Philadelphia. Nhưng rồi ông cũng đến được thành phố Nữu Ước trên một xà lan được chèo từ New Jersey đến vịnh Newark. Lễ nhậm chức của Tổng Thống George Washington được tổ chức vào ngày 30/4/1789, đã khởi đầu với âm thanh vang dội của tiếng súng đại bác nghi lễ và những tiếng chuông nhà thờ rộn rã khắp thành phố Nữu Ước. Đúng 12 giờ trưa, Tướng Washington rẽ đám đông để bước đến đại sảnh liên bang, nơi lưỡng viện Quốc Hội đã tụ tập đông đủ để chứng kiến nghi thức tuyên thệ. Thị trưởng Nữu Ước, Robert Livingston đã đọc lời tuyên thệ, và Tổng Thống George Washington, một tay đưa cao, tay kia đặt lên quyển thánh kinh, miệng lặp lại từng chữ của bản văn tuyên thệ Tổng Thống đã được ghi sẵn trong Hiến Pháp Hoa Kỳ. “Tôi, George Washington, long trọng thề rằng tôi sẽ nghiêm chỉnh thi hành nhiệm vụ của Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ hết sức giữ gìn, bảo vệ và bênh vực Hiến Pháp Hoa Kỳ. Xin Thượng Đế phù hộ tôi.”. Tổng thống Thomas Jefferson là người đầu tiên làm lễ tuyên thệ tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Sau buổi tuyên thệ nhiệm kỳ thứ hai, ông đã cưỡi ngựa từ thủ đô về tư dinh của Tổng Thống, nay được gọi là Tòa Bạch Ốc, cùng lúc ấy một toán kỹ sư cơ khí của một căn cứ Hải Quân gần đó đã tụ họp để có một cuộc diễn hành nhỏ. Cuộc diễn hành đơn giản này về sau đã ngày càng trở thành quy mô, tạo nên truyền thống cho một cuộc rước long trọng trong mỗi ngày nhậm chức tổng thống. Lễ nhậm chức nhiệm kỳ hai của Tổng Thống Thomas Jefferson đã khởi đầu tục lệ mở cửa Tòa Bạch Ốc để đón chào tất cả những ai muốn đến chúc mừng Tổng Thống sau buổi lễ tuyên thệ. Tục lệ này đã khiến vị tổng thống thứ 7 của Hoa Kỳ, ông Andrew Jackson phải phóng ra cửa số để thoát thân, khi một đám đông quá nôn nóng được gặp ông, đã ùa vào và xô đẩy nhau trong Tòa Bạch Ốc làm ông suýt ngộp thở. Sử gia Jim Bendat, người đã ghi lại giai thoại của những buổi lễ nhậm chức trong lịch sử Hoa Kỳ trong cuốn sách có tựa đề: “Lễ nhậm chức Tổng Thống, một ngày trọng đại của thể chế Dân Chủ” kể lại: “Tổng Thống Andrew Jackson muốn đón chào tất cả mọi người bất kể ai, thế là một đám đông người đã nhào đến, họ mặc quần áo lôi thôi lếch thếch, ủng dính đầy bùn đất, xô đẩy nhau làm hư hại bàn ghế và đổ vỡ nhiều đồ sứ trong Tòa Bạch Ốc. Một người đã nẩy ra sáng kiến hay là mang những chậu Whisky lớn ra ngoài sân cỏ, nhờ thế mới dụ được nhóm người này ra ngoài…” Kể từ Tổng Thống George Washington, tất cả mọi tân tổng thống đều đọc bài diễn văn trong ngày nhậm chức. Nhưng vị Tổng thống thứ 5 của Hoa Kỳ là ông James Monroe là người đầu tiên đã nói chuyện với công chúng qua bài diễn văn của mình. Và kể từ đó, bài diễn văn nhậm chức là thông điệp đầu tiên của một tân tổng thống gửi đến cho toàn dân. Những lời phát biểu của Tổng Thống tân cử thường phản ánh và đánh dấu một giai đoạn cụ thể trong lịch sử Hoa Kỳ. Thí dụ trong bài diễn văn năm 1865, Tổng Thống Abraham Lincoln kêu gọi toàn dân hãy “Tiếp tục hoàn tất công việc xoa dịu mọi vết thương của đất nước đã do cuộc chiến tranh Nam Bắc gây ra”. Vào năm 1933 sau cơn khủng hoảng kinh tế, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt trấn an người dân bằng câu: "Chúng ta không có gì để lo sợ, ngoài chính nỗi sợ hãi." Nhưng bài diễn văn vào năm 1961 của John F. Kennedy, Tổng Thống thứ 35 của Hoa Kỳ, trong đó câu nói tạo cảm hứng và khơi lên lòng nhiệt thành phục sự đất nước của nhiều thế hệ trẻ, cho đến bây giờ vẫn còn được người đời nhắc nhớ: “Hỡi đồng bào thân yêu: Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn đã làm được gì cho tổ quốc. Các bạn đồng minh thân mến, đừng hỏi Hoa Kỳ sẽ làm gì cho bạn, nhưng hãy hỏi chúng ta có thể cùng nhau làm gì để mang đến tự do cho nhân loại.” Còn Barrak Obama thì nhiều bình luận gia tầm cỡ cho rằng bài diễn văn nhậm chức của Obama sẽ có giọng văn trẻ trung thuyết phục của John F. Kennedy, mạnh mẽ và tiềm ẩn của Abraham Lincoln và lôi cuốn, sâu sắc của Franklin D. Roosevelt. Dưới đây là nguyên văn bản dịch bài diễn văn của ông Obama:
Thưa quốc dân đồng bào,
Hôm nay tôi đứng đây với sự khiêm cung trước nhiệm vụ mà chúng ta phải đối phó, với lòng biết ơn về sự tin tưởng mà đồng bào đã dành cho tôi, và nghĩ đến những hy sinh mà các bậc tiền bối của chúng ta đã chịu đựng. Tôi cảm ơn tổng thống Bush về sự phục vụ của ông cho đất nước chúng ta, cũng như lòng hào hiệp và tinh thần hợp tác mà ông đã chứng tỏ trong suốt quá trình chuyển tiếp.
Cho đến nay, đã có 44 người Mỹ đọc lời tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Những lời tuyên thệ này đã được đọc lên vào những thời kỳ đầy thịnh vượng và trong những thời hòa bình yên ổn. Tuy vậy, lời tuyên thệ này cũng vẫn thường được đọc lên trong những lúc thời gian đầy u ám và sóng gió. Vào những thời điểm như thế, nước Mỹ vẫn tiếp tục tiến bước không phải đơn giản chỉ vì tài năng và viễn kiến của những người nắm giữ các chức vụ cao, mà còn bởi vì nhân dân chúng ta tiếp tục trung thành với những lý tưởng của các bậc tiền bối, và trung thành với các văn kiện lập quốc. Sự việc đã diễn ra như vậy. Và nó phải diễn ra như vậy với thế hệ người Mỹ hiện nay. Sự kiện chúng ta đang lâm vào một cuộc khủng hoảng là điều ai cũng hiểu rõ. Quốc gia chúng ta đang có chiến tranh, chống lại một mạng lưới rộng lớn của bạo lực và lòng thù hận. Nền kinh tế của chúng ta bị suy yếu trầm trọng, do hậu quả của lòng tham và sự thiếu trách nhiệm của một số người, nhưng cũng vì sự thất bại chung của chúng ta phải có những lựa chọn khó khăn và chuẩn bị đất nước cho một thời đại mới. Nhà cửa đã bị mất mát; công việc bị cắt giảm; cơ sở kinh doanh bị đóng cửa. Công tác chăm sóc sức khỏe quá tốn kém; trường học chúng ta làm nhiều người thất bại; và mỗi ngày lại có thêm bằng chứng cho thấy rằng cách thức sử dụng năng lượng của chúng ta làm cho kẻ địch của chúng ta mạnh thêm và đe dọa đến hành tinh của chúng ta. Đây là những chỉ dấu của khủng hoảng, bằng vào số liệu thống kê. Có những chỉ dấu không đo lường nhưng cũng không kém phần sâu sắc là sự hủy hoại lòng tin trên khắp đất nước. Đó là mối sợ hãi canh cánh rằng sự suy thoái của nước Mỹ là không thể tránh khỏi và rằng thế hệ kế tiếp phải hạ thấp kỳ vọng của mình. Hôm nay, tôi xin nói với đồng bào rằng những thách thức mà chúng ta đang đối mặt là có thực. Những thách thức này rất nhiều và nghiêm trọng. Những thách thức không thể được giải quyết một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng nước Mỹ phải biết rằng, chúng sẽ được giải quyết. Ngày hôm nay, chúng ta tề tựu ở đây bởi vì chúng ta đã chọn hy vọng thay vì sợ hãi, thống nhất về mục đích thay vì sự xung đột và bất hòa. Ngày hôm nay, chúng ta đến đây để tuyên bố sự cáo chung của những lời than phiền nhỏ nhặt và những lời hứa hão huyền, những lời trách cứ và những giáo điều đã lỗi thời, đã bóp nghẹt nền chính trị của chúng ta quá lâu. Chúng ta vẫn là một đất nước trẻ trung nhưng như lời Thánh Kinh đã nói, đã đến lúc ta phải gạt qua một bên những điều ấu trĩ. Đã đến lúc chúng ta phải tái khẳng định tinh thần kiên trì; để chọn cho chúng ta một lịch sử tốt đẹp hơn; để tiếp tục phát huy tặng phẩm quý giá đó; tư tưởng cao cả đó, đã được truyền lại cho chúng ta từ thế hệ này sang thế hệ khác: đó là lời hứa được Thượng Đế mặc khải là mọi người đều bình đẳng, mọi người đều tự do, đều xứng đáng có cơ hội mưu cầu hạnh phúc đầy đủ. Trong khi tái khẳng định tính chất vĩ đại của đất nước chúng ta, chúng ta hiểu rằng sự vĩ đại đó không bao giờ là một điều đương nhiên mà có được. Phải có công phu mới xây dựng được sự vĩ đại đó. Cuộc hành trình của chúng ta không hề là những lối đi tắt hay sự chấp nhận những điều bất cập. Đó không phải là một con đường cho những người thiếu can đảm, cho những người thích nhàn nhã hơn là lao động, hay những người mưu tìm sự vui thú của giầu sang và danh vọng. Thay vào đó, ấy là con đường của sự chấp nhận rủi ro, những người hành động, những người tạo ra thời thế, một số những người đó là những người nổi tiếng nhưng thường hơn đó những người, nam cũng như nữ, mà việc làm không được ai biết đến, những người đã đưa chúng ta tiến lên con đường dài, gập ghềnh tiến đến phồn vinh và tự do. Đối với chúng ta, họ là những người đã gói ghém một ít của cải trần thế của và vượt qua những đại dương để đi tìm một cuộc sống mới. Đối với chúng ta, họ đã lao động cực nhọc trong những cơ xưởng tối tăm và chinh phục miền Tây; chịu đựng roi vọt và cầy xới đất đai khô cứng. Đối với chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh, ở những nơi như Concord và Gettysburg; ở Normandy và Khe Sanh. Những người đàn ông và phụ nữ này đã không ngừng tranh đấu và hy sinh và làm việc cho tới khi đôi tay của họ rướm máu để cho chúng ta có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Họ đã nhận ra rằng nước Mỹ lớn hơn con số gộp chung của những tham vọng cá nhân, lớn hơn mọi sự khác biệt bắt nguồn từ bối cảnh gia đình, của cải hoặc phe nhóm. Đây là hành trình mà ngày nay chúng ta tiếp tục theo đuổi. Đất nước chúng ta tiếp tục là quốc gia thịnh vượng và hùng mạnh nhất trên Trái đất. Sức sản xuất của công nhân của chúng ta không hề sút giảm so với thời kỳ trước khi vụ khủng hoảng này bắt đầu. Sự sáng tạo của trí óc của chúng ta không hề sút giảm, và hàng hóa và dịch vụ của chúng ta vẫn tiếp tục được cần tới in hệt như tuần trước, tháng trước, hoặc năm trước. Khả năng của chúng ta vẫn không hề suy giảm. Nhưng thời đại mà chúng ta đứng yên trong tự mãn, bảo vệ những quyền lợi hẹp hòi và trì hoãn việc làm ra những quyết định khó khăn – thời đại đó quả thật đã qua rồi. Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta phải tự mình đứng lên, phủi bụi trên người, và bắt đầu làm việc lại để xây dựng lại nước Mỹ. Bất cứ chỗ nào chúng ta nhìn tới đều có những việc cần phải làm. Tình trạng của nền kinh tế đòi hỏi chúng ta hành động, hành động một cách quả quyết và nhanh chóng, và chúng ta sẽ hành động – không những để tạo ra công ăn việc làm mới, nhưng còn để xây dựng một nền tảng mới cho sự tăng trưởng. Chúng ta sẽ xây dựng đường sá, cầu cống, mạng lưới tải điện và đường giây chuyển tải dữ liệu số để hỗ trợ cho công cuộc thương mại và nối kết chúng ta với nhau. Chúng ta sẽ khôi phục vị thế xứng đáng của khoa học, và áp dụng những điều kỳ diệu của kỹ thuật để nâng cao phẩm chất của công tác chăm sóc sức khỏe và giảm thiểu chi phí của công tác này. Chúng ta sẽ biến ánh sáng mặt trời, sức gió và đất đai thành năng lượng để chạy xe và vận hành nhà máy. Và chúng ta sẽ chuyển hóa trường học các cấp của mình để đáp ứng nhu cầu của thời đại mới. Chúng ta có thể làm được tất cả những việc này. Và những việc này là tất cả những gì mà chúng ta sẽ làm. Giờ đây, có một số người đặt nghi vấn về tầm vóc của những tham vọng của chúng ta, những người cho rằng hệ thống của chúng ta không có khả năng để thực hiện nhiều kế hoạch to lớn như vậy. Nhưng những người đó là những người có trí nhớ không mấy tốt. Vì họ đã quên mất những gì mà đất nước này đã làm; những gì mà những người đàn ông và phụ nữ tự do có thể đạt được khi óc tưởng tượng được kết hợp với một mục đích chung và nhu cầu của lòng dũng cảm. Những gì mà những người có thái độ hoài nghi quá độ không thể hiểu được là mặt đất dưới chân họ đã chuyển dịch, là những sự tranh cãi chính trị vô bổ đã phí phạm năng lực của chúng ta quá lâu giờ đây không còn áp dụng nữa. Câu hỏi mà chúng ta nêu lên hôm nay không phải là chính phủ của chúng ta quá lớn hay quá nhỏ, mà là chính phủ hoạt động có hiệu quả hay không, phải chăng chính phủ giúp đỡ các gia đình tìm được công ăn việc làm với mức lương khả quan, giúp họ có được sự chăm sóc sức khỏe với phí tổn phải chăng, giúp họ có được một cuộc sống về hưu tử tế. Nếu câu trả lời là ‘phải’, chúng ta nhất định sẽ xúc tiến. Nếu câu trả lời là ‘không’, chúng ta sẽ chấm dứt các chương trình đó. Và những người quản lý tiền bạc của công chúng như chúng tôi sẽ phải chịu trách nhiệm, phải chi tiêu một cách khôn ngoan, sửa đổi những thói quen không tốt, và làm việc dưới ánh san1g ban ngày, bởi vì chỉ có như vậy chúng ta mới có thể khôi phục niềm tin của dân chúng đối với chính phủ. Câu hỏi trước mắt chúng ta cũng không phải là thị trường là một sức mạnh tốt hay xấu. Sức mạnh của thị trường trong việc tạo ra của cải và nới rộng tự do là vô địch, nhưng vụ khủng hoảng này nhắc nhở chúng ta rằng nếu không có một cặp mắt chăm chú theo dõi, thị trường có thể vượt khỏi tầm kiểm soát, và đất nước không giàu mạnh trong lâu dài khi thị trường chỉ mang lại lợi ích cho những người giàu có. Sự thành công của nền kinh tế của chúng ta lúc nào cũng không thể chỉ tùy thuộc vào Tổng Sản Lượng Nội Địa, mà tùy thuộc vào việc sự thịnh vượng lan tỏa đến đâu; tùy thuộc vào khả năng của chúng ta trong việc nới rộng cơ hội cho những người có lòng – không phải vì đó là một việc từ thiện, mà vì đó con đường chắc chắn nhất để đạt được mục tiêu chung. Đối với các quốc gia Hồi giáo, chúng ta tìm một hướng mới phía trước, dựa trên ích lợi hỗ tương và kính trọng lẫn nhau. Đối với các lãnh đạo trên khắp quả địa cầu muốn gieo rắc tranh chấp, hoặc đổ lỗi cho những tệ nạn xã hội của họ vào phương Tây, hãy biết rằng nhân dân quí vị sẽ phán xét quí vị về những gì quí vị có thể xây dựng, không vì những gì quí vị hủy đi. Đối với những ai bám víu quyền lực bằng tham nhũng, gian lận, và bằng cách bịt miệng những người bất đồng, hãy biết rằng quí vị đang đứng ở phía trái của lịch sử; nhưng chúng tôi sẵn sàn đưa tay cho quí vị nếu quí vị sẵn sàng nới lỏng nắm tay của quí vị. Đối với các quốc gia nghèo, chúng tôi hứa làm việc với quí vị để các đồng ruộng của quí vị này nở, và để cho nước sạch được tuôn chảy; để nuôi dưỡng những tấm thân đói khát và đem thức ăn cho những đầu óc đói kém. Và đối với các quốc gia giống như đất nước chúng ta, đang có của cải tương đối dồi dào, chúng ta xin nói rằng chúng ta không thể nào vô cảm trước những đau khổ bên ngoài biên giới của chúng ta, và chúng ta cũng không thể tiêu dùng các nguồn lực của thế giới mà không chú ý đến hậu quả. Vì thế giới đã thay đổi, chúng ta phải thay đổi với thế giới. Trong lúc xét đến con đường mở ra phía trước, chúng ta tưởng nhớ với tấm lòng biết ơn sâu sắc đến những người Mỹ dũng cảm, đã từng ngày từng giờ, tuần tra các sa mạc xa xôi và các rặng núi hẻo lánh. Họ có điều gì dạy chúng ta hôm nay, giống như những anh hùng đã gục ngã tại nghĩa trang quốc gia Arlington đã thì thầm cho chúng ta từ nhiều thời gian đã qua. Chúng ta vinh danh họ, không phải vì họ là những người bảo vệ tự do của chúng ta, nhưng vì họ mang tình thần phục vụ; sẵn sàng tìm lý tưởng nơi một điều gì lớn hơn bản thân họ. Thật vậy, trong lúc này, lúc sẽ định hình cho cả một thế hệ, quả thực tinh thần này cần phải hiện hữu trong tất cả mọi người chúng ta. Khi nói đến chuyện chính phủ có thể làm gì và phải làm gì, quốc gia này cuối cùng được dựa trên sự tin tưởng và quyết tâm của toàn dân. Chính vì sự tử tế mà người Mỹ sẵn sàng giúp đỡ một người lạ mặt khi có những con đê bị vỡ, nhờ lòng vị tha mà các công nhân sẵn sàng làm bớt giờ thay vì để cho một người bạn của mình mất việc; mỗi khi chúng ta ở vào tình huống đen tối nhất. Chính nhờ sự dũng cảm của người nhân viên chữa cháy xông qua một cầu thang đầy khói, và cũng nhờ bậc cha mẹ biết chăm sóc cho con cái, mà cuối cùng số phận của chúng ta được quyết định. Các thách thức của chúng ta có thể là mới mẻ. Các công cụ mà chúng ta đối phó với thách thức có thể là mới mẻ. Nhưng các giá trị đã dẫn đến thành công của chúng ta tùy thuộc vào sự chịu khó, lương thiện, can đảm, sòng phẳng, khoan dung, tò mò, trung thành và yêu nước; những chuyện đó không phải là mới mẻ. Đó là những chuyện có thật. Chúng là động lực âm thầm cho tiến bộ xuyên suốt lịch sử của nước Mỹ. Điều đang đòi hỏi chúng ta là quay về với những sự thật đó. Điều đòi hỏi chúng ta hiện nay là một kỷ nguyên mới của trách nhiệm; một sự thừa nhận của mỗi người Mỹ rằng chúng ta có nghĩa vụ với chính chúng ta, quốc gia chúng ta, và cả thế giới; những nghĩa vụ mà chúng ta không miễn cưỡng chấp nhận nhưng sẵn sàng nắm lấy, với ý thức chắc chắn rằng không có điều gì làm thỏa mãn tinh thần, không phản ảnh tư cách của chúng ta, cho bằng cống hiến mọi năng lực cho một sự nghiệp khó khăn. Đây là phần thưởng và sự hứa hẹn của quyền công dân. Đây là nguồn gốc của sự tin cậy của chúng ta, sự hiểu biết rằng Thượng Đế trông cậy vào chúng ta để hìnhthành một số định mạng không chắc chắn. Đây lày nghĩa của tự do của chúng ta và tôn giáo của chúng ta - Tại sao mọi người, nam, nữ, trẻ em thuộc mọi chủng tộc và mọi tín ngưỡng có thể cùng nhau vui mừng kỷ niệm tại quản trường quốc gia vĩ đại này và tại sao một người mà cha của ông cách đây gần 60 năm không thể làm việc tại một nhà hàng địa phương mà nay đứng trước mặt quý vị để đọc một lời thề thiêng liêng nhất. Do đó, chúng ta hãy đánh dấu ngày này bằng sự tưởng niệm là chúng ta là ai và chúng ta đã đi qua những chặng đường dài như thế nào. Vào năm khai sanh quốc gia Hoa Kỳ, trong những tháng lạnh nhất, một nhóm nhỏ những người ái quốc xúm lại với nhau bên cạnh đống lửa gần tàn bên bờ một dòng sông băng giá. Thủ đô đã bị bỏ. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết loang lỗ vết máu. Vào thời điểm mà cuộc cách mạng của chúng ta bị hoang mang nhất, thì vị cha già của quốc gia ra lệnh đọc cho mọi người những lời này: “Hãy nói cho thế giới tương lai...là trong mùa Đông giá lạnh nhất, không có gì ngoài hy vọng và đức tính có thể sống còn - rằng thành phố và xứ sở, được báo động vì mối nguy hiểm chung, tiến tới và gặp được”. Hoa Kỳ. Đối mặt với những mối nguy hiểm chung, trong mùa đông của gian khổ của chúng ta, chúng ta hãy nhớ lại những lời lẻ vượt thời gian này. Với hy vọng và đức tính, chúng ta hãy một lần nữa công an đảm vượt qua dòng nước băng giá và chịu đựng bất cứ cơn bão nào sẽ đến. Hãy để cho con cháu chúng ta nhắc lại là khi chúng ta bị thử thách, chúng ta đã chối từ không để cuộc hành trình của chúng ta phải chấm dứt, rằng chúng ta không quay lui trở lại hay là chúng ta ngập ngừng, và với con mắt chăm chú nhìn vào chân trời và với ân phước của Thượng Đế ban cho chúng ta, chúng ta mang ân tứ về tự do và chuyển lại một cách bình an cho thế hệ mai sau.
DIEN VAN TIENG ANH Click
|
Publié le 11/01/2009 à 10:41
Par pctdn
My fellow citizens:
I stand here today humbled by the task before us, grateful for the trust you have bestowed, mindful of the sacrifices borne by our ancestors. I thank President Bush for his service to our nation, as well as the generosity and co-operation he has shown throughout this transition.
Forty-four Americans have now taken the presidential oath. The words have been spoken during rising tides of prosperity and the still waters of peace. Yet, every so often the oath is taken amidst gathering clouds and raging storms. At these moments, America has carried on not simply because of the skill or vision of those in high office, but because we the people have remained faithful to the ideals of our forbearers, and true to our founding documents. So it has been. So it must be with this generation of Americans. That we are in the midst of crisis is now well understood. Our nation is at war, against a far-reaching network of violence and hatred. Our economy is badly weakened, a consequence of greed and irresponsibility on the part of some, but also our collective failure to make hard choices and prepare the nation for a new age. Homes have been lost; jobs shed; businesses shuttered. Our health care is too costly; our schools fail too many; and each day brings further evidence that the ways we use energy strengthen our adversaries and threaten our planet. These are the indicators of crisis, subject to data and statistics. Less measurable but no less profound is a sapping of confidence across our land - a nagging fear that America's decline is inevitable, and that the next generation must lower its sights. Today I say to you that the challenges we face are real. They are serious and they are many. They will not be met easily or in a short span of time. But know this, America - they will be met. On this day, we gather because we have chosen hope over fear, unity of purpose over conflict and discord. On this day, we come to proclaim an end to the petty grievances and false promises, the recriminations and worn out dogmas, that for far too long have strangled our politics. We remain a young nation, but in the words of scripture, the time has come to set aside childish things. The time has come to reaffirm our enduring spirit; to choose our better history; to carry forward that precious gift, that noble idea, passed on from generation to generation: the God-given promise that all are equal, all are free, and all deserve a chance to pursue their full measure of happiness. In reaffirming the greatness of our nation, we understand that greatness is never a given. It must be earned. Our journey has never been one of short-cuts or settling for less. It has not been the path for the faint-hearted - for those who prefer leisure over work, or seek only the pleasures of riches and fame. Rather, it has been the risk-takers, the doers, the makers of things - some celebrated but more often men and women obscure in their labor, who have carried us up the long, rugged path towards prosperity and freedom. For us, they packed up their few worldly possessions and travelled across oceans in search of a new life. For us, they toiled in sweatshops and settled the West; endured the lash of the whip and ploughed the hard earth. For us, they fought and died, in places like Concord and Gettysburg; Normandy and Khe Sahn. Time and again these men and women struggled and sacrificed and worked till their hands were raw so that we might live a better life. They saw America as bigger than the sum of our individual ambitions; greater than all the differences of birth or wealth or faction. This is the journey we continue today. We remain the most prosperous, powerful nation on Earth. Our workers are no less productive than when this crisis began. Our minds are no less inventive, our goods and services no less needed than they were last week or last month or last year. Our capacity remains undiminished. But our time of standing pat, of protecting narrow interests and putting off unpleasant decisions - that time has surely passed. Starting today, we must pick ourselves up, dust ourselves off, and begin again the work of remaking America. For everywhere we look, there is work to be done. The state of the economy calls for action, bold and swift, and we will act - not only to create new jobs, but to lay a new foundation for growth. We will build the roads and bridges, the electric grids and digital lines that feed our commerce and bind us together. We will restore science to its rightful place, and wield technology's wonders to raise health care's quality and lower its cost. We will harness the sun and the winds and the soil to fuel our cars and run our factories. And we will transform our schools and colleges and universities to meet the demands of a new age. All this we can do. And all this we will do. Now, there are some who question the scale of our ambitions - who suggest that our system cannot tolerate too many big plans. Their memories are short. For they have forgotten what this country has already done; what free men and women can achieve when imagination is joined to common purpose, and necessity to courage. What the cynics fail to understand is that the ground has shifted beneath them - that the stale political arguments that have consumed us for so long no longer apply. The question we ask today is not whether our government is too big or too small, but whether it works - whether it helps families find jobs at a decent wage, care they can afford, a retirement that is dignified. Where the answer is yes, we intend to move forward. Where the answer is no, programs will end. And those of us who manage the public's dollars will be held to account - to spend wisely, reform bad habits, and do our business in the light of day - because only then can we restore the vital trust between a people and their government. Nor is the question before us whether the market is a force for good or ill. Its power to generate wealth and expand freedom is unmatched, but this crisis has reminded us that without a watchful eye, the market can spin out of control - and that a nation cannot prosper long when it favours only the prosperous. The success of our economy has always depended not just on the size of our Gross Domestic Product, but on the reach of our prosperity; on our ability to extend opportunity to every willing heart - not out of charity, but because it is the surest route to our common good. As for our common defence, we reject as false the choice between our safety and our ideals. Our Founding Fathers, faced with perils we can scarcely imagine, drafted a charter to assure the rule of law and the rights of man, a charter expanded by the blood of generations. Those ideals still light the world, and we will not give them up for expedience's sake. And so to all other peoples and governments who are watching today, from the grandest capitals to the small village where my father was born: know that America is a friend of each nation and every man, woman, and child who seeks a future of peace and dignity, and that we are ready to lead once more. Recall that earlier generations faced down fascism and communism not just with missiles and tanks, but with sturdy alliances and enduring convictions. They understood that our power alone cannot protect us, nor does it entitle us to do as we please. Instead, they knew that our power grows through its prudent use; our security emanates from the justness of our cause, the force of our example, the tempering qualities of humility and restraint. We are the keepers of this legacy. Guided by these principles once more, we can meet those new threats that demand even greater effort - even greater co-operation and understanding between nations. We will begin to responsibly leave Iraq to its people, and forge a hard-earned peace in Afghanistan. With old friends and former foes, we will work tirelessly to lessen the nuclear threat, and roll back the specter of a warming planet. We will not apologise for our way of life, nor will we waver in its defence, and for those who seek to advance their aims by inducing terror and slaughtering innocents, we say to you now that our spirit is stronger and cannot be broken; you cannot outlast us, and we will defeat you. For we know that our patchwork heritage is a strength, not a weakness. We are a nation of Christians and Muslims, Jews and Hindus - and non-believers. We are shaped by every language and culture, drawn from every end of this Earth; and because we have tasted the bitter swill of civil war and segregation, and emerged from that dark chapter stronger and more united, we cannot help but believe that the old hatreds shall someday pass; that the lines of tribe shall soon dissolve; that as the world grows smaller, our common humanity shall reveal itself; and that America must play its role in ushering in a new era of peace. To the Muslim world, we seek a new way forward, based on mutual interest and mutual respect. To those leaders around the globe who seek to sow conflict, or blame their society's ills on the West - know that your people will judge you on what you can build, not what you destroy. To those who cling to power through corruption and deceit and the silencing of dissent, know that you are on the wrong side of history; but that we will extend a hand if you are willing to unclench your fist. To the people of poor nations, we pledge to work alongside you to make your farms flourish and let clean waters flow; to nourish starved bodies and feed hungry minds. And to those nations like ours that enjoy relative plenty, we say we can no longer afford indifference to suffering outside our borders; nor can we consume the world's resources without regard to effect. For the world has changed, and we must change with it. As we consider the road that unfolds before us, we remember with humble gratitude those brave Americans who, at this very hour, patrol far-off deserts and distant mountains. They have something to tell us today, just as the fallen heroes who lie in Arlington whisper through the ages. We honour them not only because they are guardians of our liberty, but because they embody the spirit of service; a willingness to find meaning in something greater than themselves. And yet, at this moment - a moment that will define a generation - it is precisely this spirit that must inhabit us all. For as much as government can do and must do, it is ultimately the faith and determination of the American people upon which this nation relies. It is the kindness to take in a stranger when the levees break, the selflessness of workers who would rather cut their hours than see a friend lose their job which sees us through our darkest hours. It is the firefighter' s courage to storm a stairway filled with smoke, but also a parent's willingness to nurture a child, that finally decides our fate. Our challenges may be new. The instruments with which we meet them may be new. But those values upon which our success depends - hard work and honesty, courage and fair play, tolerance and curiosity, loyalty and patriotism - these things are old. These things are true. They have been the quiet force of progress throughout our history. What is demanded then is a return to these truths. What is required of us now is a new era of responsibility - a recognition, on the part of every American, that we have duties to ourselves, our nation, and the world, duties that we do not grudgingly accept but rather seize gladly, firm in the knowledge that there is nothing so satisfying to the spirit, so defining of our character, than giving our all to a difficult task. This is the price and the promise of citizenship. This is the source of our confidence - the knowledge that God calls on us to shape an uncertain destiny. This is the meaning of our liberty and our creed - why men and women and children of every race and every faith can join in celebration across this magnificent mall, and why a man whose father less than sixty years ago might not have been served at a local restaurant can now stand before you to take a most sacred oath. So let us mark this day with remembrance, of who we are and how far we have travelled. In the year of America's birth, in the coldest of months, a small band of patriots huddled by dying campfires on the shores of an icy river. The capital was abandoned. The enemy was advancing. The snow was stained with blood. At a moment when the outcome of our revolution was most in doubt, the father of our nation ordered these words be read to the people: "Let it be told to the future world ... that in the depth of winter, when nothing but hope and virtue could survive ... that the city and the country, alarmed at one common danger, came forth to meet (it)." America. In the face of our common dangers, in this winter of our hardship, let us remember these timeless words. With hope and virtue, let us brave once more the icy currents, and endure what storms may come. Let it be said by our children's children that when we were tested we refused to let this journey end, that we did not turn back nor did we falter; and with eyes fixed on the horizon and God's grace upon us, we carried forth that great gift of freedom and delivered it safely to future generations
Publié le 05/08/2008 à 23:48
Par pctdn
Tâm thư gởi lãnh đạo Bộ Chính trị Đảng CSVN Là một công dân Việt Nam tôi xin được gởi đến quý vị những lời tâm huyết này của chúng tôi, đây cũng là tâm huyết của đa số nhân dân mà trong thời gian qua tôi đã từng tiếp xúc và trao đổi ý kiến.
Chắc quý vị cũng biết rằng tiền nhân ta có câu: "dân như nước, quan như thuyền, nếu thuyền thuận dòng nước thì nước sẽ cùng thuyền đi, nếu ngược dòng nước thì nước sẽ cuốn trôi cho thuyền ở lại". Thật vậy trong tình hình của đất nước hiện nay, khi mà quốc nạn tham nhũng, bè phái, tiêu cực, quan liêu, mua quan bán chức…v.v… đã và đang xảy ra hàng ngày trong các cơ quan của chính quyền trở thành những câu chuyện dài không có hồi kết, cộng thêm nạn lạm phát phi mã đã khiến cho đại bộ phận nhân dân, nhất là thành phần công nhân và nông dân lao động, phải gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất. Một sự thật hiển nhiên không thể nào né tránh là mọi cố gắng cùng các biện pháp nhằm khắc phục mọi hậu quả trên theo sự chỉ đạo của đảng (hay nói đúng hơn là của Bộ Chính trị) đã không có hiệu quả và cuộc sống của đại bộ phận nhân dân ngày càng lún sâu vào nghèo khổ. Những con số khả quan cho nền kinh tế mà các báo đài đưa ra chỉ là những con số khống bởi vì đồng lương làm ra thì không đủ trang trải cho các nhu cầu tối cần trong cuộc sống: mọi sinh hoạt hàng ngày từ cái ăn cái mặc và chi tiêu đều phải tiết kiệm tối đa trong khi các mặt hàng nhu yếu phục vụ cho đời sống đều lên giá khi nhiều khi ít chớ không bao giờ đứng yên tại chổ. Tại sao những điều này xảy ra? Đương nhiên phải có nguyên nhân của nó, mà chắc chắn là do "nhân tai" chứ không thể là "thiên tai" được. Bằng tất cả lương tâm và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, đặt niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước, chúng tôi xin trình bày thẳng thắn ra đây một số suy nghĩ, mong quý vị chịu khó lắng nghe. Việc đóng góp ý kiến này cũng phù hợp với điều 69 HP năm 1992 của nhà nước CHXHCNVN, cho nên không thể gán cho chúng tôi những cái tội vớ vẩn chiếu theo điều 88 hoặc điều 258….. của BLHS mà quý vị đã và đang áp dụng đối với những người tranh đấu ôn hoà trong thời gian qua. Chắc quý vị cũng biết là trong thời đại văn minh ngày nay cùng với thông tin đa chiều từ các cơ quan truyền thông quốc tế và hệ thống Internet toàn cầu, tất cả những sự việc và tin tức mà đảng đã bịt kín không cho nhân dân biết, bây giờ nó đã được phơi bày ra ánh sáng ví dụ như: nhờ có phong trào học tập và noi gương theo đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh mà chúng tôi mới tìm hiểu kỹ và biết được chủ tịch Hồ Chí Minh đã có vợ là bà Tăng tuyết Minh bên Trung quốc trong thời gian ông hoạt động bên đó. Chúng tôi cũng biết khi làm chủ tịch ĐCSVN kiêm luôn chủ tịch nước VNDCCH trong thời gian 1956-1957 ông đã chung sống như vợ chồng với cô gái Tầy 22 tuổi Nông Thị Xuân và sinh ra được một đứa con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung mà hiện nay vẫn còn sống ở ngay thủ đô Hà Nội. Riêng cái chết mờ ám của bà Nông Thị Xuân đã được ông Nguyễn Minh Cần (hiện đang sống ở Nga) là cựu phó chủ tịch Ủy ban Hành chánh Hà Nội thời đó tiết lộ cùng với lá thư của một thương binh là người yêu của cô Vàng gởi chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ năm 1983 về cái chết của cô Vàng có liên quan với bà Xuân. Ngoài ra chúng tôi cũng biết luôn tác giả của những cuốn sách nổi tiếng ca ngợi về những thành tích, cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh là Trần Dân Tiên và T-Lan là do chính ông viết và tự đặt tên tác giả. Một điều làm đau lòng tuổi trẻ chúng tôi nhất là vào tháng 12/2007 khi bọn bá quyền Trung quốc xác nhập 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào huyện Tam Sa của chúng thì 14 con người trong Bộ Chính trị ĐCSVN được xem là "đỉnh cao trí tuệ" và các vị lãnh đạo cao cấp của chính quyền đã im hơi lặng tiếng. Chưa hết, quý vị còn ra lệnh cho công an và quân đội đàn áp thô bạo, trù dập những thành phần sinh viên, trí thức và nhân dân đứng lên biểu tình chống Trung quốc xâm lược. Cũng qua vụ này chúng tôi mới biết được một chuyện động trời mà từ xưa qua các triều đại không có một ông vua nào dám làm, đó là công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 đã công nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung quốc. Thật là oan uổng cho 64 chiến sĩ của Quân đội Nhân dân trên đảo Trường Sa đã chết trong cuộc hải chiến với Trung quốc năm 1988 mà đảng đã cố tình giấu kín. Ngoài ra, chúng tôi cũng còn biết thêm về cái chết oan uổng của hàng trăm ngàn người dân vô tội trong đợt cải cách ruộng đất vào những năm 1954-1956 ở miền Bắc, cũng như trên 5000 xác chết của người dân vô tội tại Huế được quân đội giải phóng của đảng giết trong tư thế bị còng trói rồi chôn trong các mồ chôn tập thể tại Khe Đá mài năm 1968. Sau tháng 4 năm 1975, thế hệ cha anh của chúng tôi đã được nghe quý vị ra rả tuyên truyền rằng "Tổng thống Thiệu đã mang 16 tấn vàng của quốc gia ra nước ngoài để làm của riêng", nhưng thực tế là ông Thiệu không có mang đi mà mà số vàng đó đã được nhân viên kho bạc của chế độ VNCH giao lại cho Uỷ ban quân quản của chính quyền Cách mạng lâm thời khi đó (báo Tuổi Trẻ đã xác nhận như thế trong loạt bài "vàng đổi chủ" được đăng trong tuần lễ từ ngày 25/4 đến 2/5 năm 2006). Và còn hằng hà sa số những chuyện đau buồn khác mà nhân dân phải cam chịu trong suốt thời gian qua dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, mà chúng tôi cũng không cần dài dòng kể ra đây. Những điều xảy ra chung quanh chúng tôi đã khiến chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi, mà lắm khi chính nó cũng là câu trả lời, chẳng hạn như: Hoàng Sa, Trường Sa và Ải Nam Quan bây giờ có còn là của đất nước Việt Nam không?". Tại sao lịch sử thường ca ngợi những người can đảm chống quân xâm lược mà ngày nay công an lại đàn áp và kết tội những người biểu tình chống Trung quốc xâm lăng?. Tại sao Đảng thường hô hào thực thi quyền dân chủ mà lại bắt bỏ tù những người tranh đấu ôn hoà cho quyền dân chủ?, Tại sao trong lớp học thầy giáo dạy môn Toán phải qua dạy môn Kỷ thuật nhưng các thầy tốt nghiệp môn kỷ thuật thì lại thất nghiệp không có trường để dạy?, Tại sao lại có số đông người dân oan đi khiếu kiện?, Tại sao những người lính chết trong chiến tranh đánh "Mỹ-Nguỵ" thì hàng ngày được ca tụng như là anh hùng, còn những chiến sĩ chết trong chiến tranh biên giới với Trung quốc năm 1979 và ngoài hải đảo thì không được ca tụng?. Tại sao công an đàn áp các sinh viên biểu tình chống bọn bá quyền Trung quốc nhưng lại bảo vệ những người Trung quốc biểu tình ủng hộ quần đảo HS và TS là của Trung quốc ngay trên đất nước của mình?. Tại sao những người có bằng cấp chuyên tu và tại chức thì không thất nghiệp còn những người tốt nghiệp với bằng cấp chính quy đàng hoàng thì lại không có chổ làm đúng với khả năng?, Tại sao thầy giáo dạy môn lịch sử dạy rằng: Mỹ là kẻ thù không đội trời chung với nhân dân ta, còn Trung quốc là anh em rất tốt của ta, nhưng hôm nay các nhà lãnh đạo của ta lại cầu viện Mỹ giúp đỡ, còn Trung quốc thì lại chiếm đất của ta lại còn xâm lấn đất đai lãnh hải của ta nữa?. Tại sao các nước theo thể chế đa nguyên tư bản lại giàu có hơn các nước theo chủ nghĩa CS?. Tại sao lúc trước đảng nói những người vượt biên là phản quốc, còn bây giờ đảng nói là yêu nước?. Tại sao mang tiếng quân đội và công an là của nhân dân nhưng lại phục vụ hết mình cho quyền lợi của đảng?. Tại sao trong tất cả các thành phần lãnh đạo của đất nước từ dưới lên trên đều phải là đảng viên?. Ttại sao người giàu bây giờ đa số là đảng viên, là cán bộ chính quyền và những người có thân nhân là Việt kiều?. Tại sao luật pháp cho quyền tự do ứng cử nhưng trên thực tế phải qua sự sàng lọc và chấp thuận của Mặt trận Tổ quốc của đảng?. Tại sao nhân dân phải bầu cử những người mà mình chưa lần biết mặt?. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam khác nhau như thế nào mà trên báo chí và tivi lại chửi bới Hoà thượng Thích Quảng Độ quá nặng lời như thế?. Tại sao công nhân của ta đi lao động nước ngoài bị chủ bóc lột, bị đối xử tàn nhẫn phải nhờ cơ quan cứu người lao động của Việt kiều ở nước ngoài bênh vực, còn chính quyền VN của đảng thì im lặng?. Tại sao đất nước mình không có báo chí tư nhân như các nước khác?..v.v… Tại sao và tại sao??? Loanh quanh với những câu trả lời mà chung quy cũng chỉ tại vì độc đảng mà ra. Trọng tâm của bài viết này là muốn quý vị thấy rằng "hậu sinh khả úy" chứ không thể khả ố được. Tức là chúng tôi hiểu và biết và hiểu rất rõ nữa là khác, về những chuyện đang xảy ra chung quanh chúng tôi. Do đó, chúng tôi chỉ muốn quý vị thay đổi tư duy và phải thực thi quyền tự do ngôn luận và quyền dân chủ tối thiểu cho người dân trong một đất nước là thành viên của WTO, của ASEAN, của các công ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, của LHQ và cũng là đương kiêm chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo an LHQ. Tất cả những gì mà chúng tôi trình bày cũng chỉ vì tương lai của đất nước và lợi ích chung của toàn dân. Chúng tôi rất tâm đắc vào lời phát biểu của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Mỹ: "Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường". Chúng tôi cũng không quên câu nói của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng trong kỳ trả trời trực tuyến: "yêu nhất, thích nhất là trung thực và ghét nhất, giận nhất là giả dối". Chúng tôi cũng nhớ lời nói của cựu thủ tướng Võ văn Kiệt: "đất nước VN là của chung, không phải của riêng ĐCSVN, có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau". Tuy nhiên, chúng tôi rất tiếc khi trong nước những chuyện xảy ra hàng ngày đều trái ngược lại những lời tuyên bố đó. Nhìn lại các chặng đường lịch sử của đất nước kể từ khi ĐCSVN lãnh đạo, chúng tôi cũng không phủ nhận công lao của quý vị đối với đất nước, nhưng chúng tôi cần phải nêu ra những điều sau đây để rộng đường cho dư luận khách quan phán xét, đồng thời cũng để cho quý vị bình tâm suy xét lại những việc làm của mình để sau này quý vị nói riêng và ĐCSVN nói chung còn có tiếng nói trong lòng dân tộc: 1 Chắc quý vị cũng công nhận với chúng tôi rằng: Trước năm 1975 mặc dù bị chiến tranh tàn phá, nhưng cuộc sống và mọi quyền tự do của nhân dân miền Nam vẫn hơn nhân dân miền Bắc rất nhiều. Đặc biệt miền Nam lúc đó còn là một con rồng của Đông Nam Á, hơn hẳn Thái Lan, Nam Hàn, Indonesia và Malaysia. Còn bây giờ thì sao? 2. Hơn 3 triệu người VN bỏ nước ra đi với 2 bàn tay trắng, chấp nhận vai trò phản động mà quý vị đã từng gán ghép. Nhưng hôm nay những người Việt lưu vong "phản động" này đã có cuộc sống đầy đủ tự do, hạnh phúc đa số đều thành công và lại còn gởi tiền về cho thân nhân thoát nghèo cũng như đích thân về VN làm các công tác từ thiện. Các chùa chiền, nhà thờ trong nước nếu không có tiền của Việt kiều hải ngoại sống trong các nước đa đảng tiếp sức thì có được khang trang và hoành tráng như bây giờ không? Giả sử nếu số Việt kiều của chúng ta mà vượt biên qua các nước theo thể chế Cộng sản thì ngày nay họ có được như thế không?. Chúng tôi tin chắc rằng nếu quý vị đi đúng hướng với con đường tiến bộ của đa nguyên thì số người Việt thành tài ở hải ngoại sẽ trở về xây dựng quê hương, trong tương lai đất nước VN sẽ thực sự là con rồng của Châu á. Quý vị cũng không phải bỏ công sức ra để đi vận động hoặc xin viện trợ nơi xứ người. 3. Một sự thật hiển nhiên là khi quý vị cho con cái đi du học ở nước ngoài thì quý vị vẫn chọn các nước tư bản đa nguyên để cho con của mình học. 4. Chắc quý vị cũng công nhận rằng trên thế giới chỉ có làn sóng người dân bỏ nước từ chế độ Cộng sản qua các nước tư bản đa nguyên, chớ không có chuyện ngược lại. 5. Một điều không ai chối cải là các nước theo chủ nghĩa CS nếu muốn phát triển thì cũng phải nhờ vào sự giúp đỡ và cách thức làm ăn của các nước tư bản đa nguyên. 6. Tại các nước dân chủ đa nguyên thì chủ nghĩa Marx-Lenin chỉ là môn học để cho sinh viên nghiên cứu chớ không phải là bắt buộc như ở Việt Nam. Con người sinh ra thì bắt buộc phải lớn lên theo thời gian, sự tiến bộ cũng phải theo thời gian phát triển không ngừng. Nhưng nếu chúng ta không muốn mình lạc hậu thì luôn luôn phải có sự cạnh tranh để theo kịp nền văn minh của thế giới, do đó CNCS cố hủ đã không còn phù hợp với nhân loại nữa. Vì vậy cho nên ở những nước mà trước đây là thiên đường của CNCS như Liên Sô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Ðức và cả khối đông âu đồng loạt phải thay đổi tư duy theo hướng đa nguyên, tức là phải cho người dân có mọi quyền tự do căn bản về ngôn luận, lập hội, biểu tình, ứng cử và bầu cử, quyền tham gia các đảng phái chính trị, quyền tự do tín ngưỡng và báo chí tư nhân. Dân chủ, nhân quyền phải được áp dụng cho tất cả mọi người và mọi quốc gia trên thế giới, không thể hiểu theo sự hạn hẹp là dân chủ, nhân quyền của quốc gia này khác với quốc gia khác. Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của LHQ và các Công ước Quốc tế về Quyền dân sự, chính trị đã được chính phủ quý vị công nhận ký kết là một bằng chứng. Nếu trong một nước mà sự điều hành của 3 cơ quan: Lập pháp (cơ quan làm ra luật đại diện cho mọi thành phần dân chúng trong xã hội) và cũng là những tiếng nói mạnh để bênh vực cho quyền lợi của nhân dân; Hành pháp (gồm nội các và các cơ quan của chính quyền) có nhiệm vụ thi hành đúng luật pháp; và Tư pháp (cơ quan toà án có nhiệm vụ xét xử bất cứ ai vi phạm pháp luật) đều hoạt động độc lập với nhau cộng thêm quyền tự do báo chí, thì tất cả sẽ là nền móng vững chắc để thực thi quyền dân chủ của toàn dân. Với quyền tự do ứng cử thì những người tài có tâm huyết mới có điều kiện thi thố khả năng của mình Với quyền tự do bầu cử thì nhân dân mới có đủ điều kiện để lựa chọn người tài phục vụ đất nước để đại diện cho mình, người được nhân dân tín nhiệm nếu muốn tồn tại thì bắt buộc phải làm tốt và càng làm tốt thì sự tín nhiệm của người dân càng lâu. Với quyền tự do báo chí thì người dân mới có diễn đàn để lên tiếng và quyền giám sát của nhân dân đối với các cơ quan chính quyền mới được thực thi đúng mức. Với quyền tự do thành lập các đảng phái, các hội đoàn thì người dân mới được tự do đi theo những đường hướng hợp với ý nguyện của mình. Dưới chính thể đa nguyên thì số người thời cơ vụ lợi, bất tài, tham nhũng bè phái, độc tài độc đoán sẽ không có đất để dung thân, mọi ý kiến của nhân dân mới được chính quyền tôn trọng và không dám xem thường. Dĩ nhiên thể chế đa nguyên không phải là tốt đẹp nhất, nhưng nó sẽ là thể chế giới hạn tối đa sự độc tài độc đoán, tham nhũng và bè phái của chính quyền mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo và đang thành công. Nhiệm vụ của quân đội và công an, cảnh sát là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ đất nước và hạnh phúc cho toàn dân chớ không phải bảo vệ cho đảng đang nắm chính quyền. Mọi việc trên đời này đều phải phát xuất từ nguyên nhân rồi mới đi đến kết quả, chẳng hạn như: quý vị có bao giờ nghĩ rằng những người mà quý vị cho là vượt biên phản quốc sau khi chiếm được miền Nam, ngày nay lại là những người yêu nước, là khúc ruột ngàn dậm của tổ quốc VN. Quý vị có bao giờ nghĩ rằng: đế quốc Mỹ kẻ thù không đội trời chung với quý vị, thì ngày nay chính quý vị lại nhờ họ ra tay giúp đỡ cũng như đưa con cái của quý vị đi qua đó để du học. Quý vị có bao giờ nghĩ rằng chính Trung quốc một đất nước mà quý vị thường tôn vinh là bạn tốt , là vĩ đại thì ngày nay lại là đất nước bá quyền xâm lăng chúng ta. Quý vị có bao giờ nghĩ rằng CNCS lại hoàn toàn sụp đổ ở Liên Sô và cả khối Ðông Âu khiến cho giấc mộng thế giới đại đồng của ông tổ Marx-Lenin phải tan tành theo mây khói. Quý vị có bao giờ nghĩ rằng tất cả những bí mật mà quý vị cố tình giữ kín thì ngày nay lại được phơi bày ra ánh sang. Đó chẳng qua là nguyên nhân của đường lối sai lầm triền miên của đảng hay nói đúng hơn là của quý vị gây ra, và chúng tôi tin rằng rồi đây khi mà các chiến sĩ quân đội, công an những con người của nhân dân đang trung thành với đường lối lãnh đạo của quý vị sẽ nhìn ra được sự thật, lúc đó họ sẽ không còn nghe theo quý vị để đàn áp các thành phần đấu tranh cho lẽ phải và điều này chắc chắn sẽ xảy ra cũng như nó đã từng xảy ra ở Liên sô, Ba Lan, Tiệp Khắc,… Khoa học ngày nay cũng đã chứng minh được con người có kiếp trước và kiếp sau xuyên qua những việc làm thiện và bất thiện. Cuộc sống của con người thì trùng trùng duyên khởi, những gì mà con người đang hưởng thụ ở hiện tại cũng là cái nhân duyên đã tạo ra ở quá khứ, tương tự như thế tất cả những việc làm thiện và bất thiện ở đời này cũng sẽ là nhân duyên cho đời sống của tương lai, công hầu danh lợi hoặc giàu sang tột đỉnh bất quá cũng chỉ hưởng được lúc còn sống mà thôi. Hoà thượng Thích Huyền Quang khi còn sống Ngài có nói rằng: "Chế độ nào cũng nói muôn năm, nhưng thử hỏi từ xưa tới giờ có chế độ nào được muôn năm đâu. Phật giáo không nói muôn năm nhưng đã tồn tại trên đất nước VN hơn 2000 năm rồi". Chúng tôi rất mong quý vị, những con người lãnh đạo tối cao của ĐCSVN cũng như của đất nước VN hãy vì tổ quốc vì nhân dân như quý vị thường tuyên bố, chấp nhận thay đổi tư duy để đi theo đa nguyên, đa đảng mà đa số các nước trên thế giới đang đi và đang thành công, đó cũng là ý muốn chung của toàn dân. Nếu không tin xin quý vị thử mạnh dạng mở ra cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ý để cho toàn dân tự do chọn lựa. Chúng tôi luôn luôn mong muốn rằng sự thay đổi tư duy của quý vị sẽ mở ra trang sử mới vô cùng tươi sáng cho đất nước, và ĐCSVN sau này cũng sẽ là một trong những thành phần chính trị của đất nước cùng với toàn dân chung lo xây dựng quê hương trong tinh thần hoà giải và đoàn kết. Nếu được như thế thì đây là cái phúc rất lớn cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Mong thay! Thân ái chào quý vị Sài Gòn, ngày 3/08/2008
Hương Trà (Sinh viên Luật) cùng nhóm bạn trẻ
(Email: huongtra13@gmail. com)
* TB: Sau bài viết "Tuổi trẻ Việt Nam phải làm gì cho đất nước hôm nay?", Hương Trà đã nhận được rất nhiều khích lệ của các bạn đọc trong và ngoài nước, và đương nhiên trong số đó cũng có những email có tính cách "thăm dò tung tích".
Do đó, để giữ an toàn, Hương Trà không thể email hồi âm tất cả được. Nhất định Hương Trà sẽ có dịp cám ơn tấm lòng yêu thương của quý ông bà, cô chú, anh chị và các bạn.
Publié le 05/08/2008 à 23:40
Par pctdn
Tuổi trẻ Việt Nam phải làm gì cho đất nước hôm nay?
Hương Trà
| Người Việt Nam chúng ta vẫn luôn tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc mình. Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước với những chiến công oanh liệt của cha ông ta đã để lại cho chúng ta một đất nước vẹn toàn như ngày hôm nay. Suốt 1000 năm nô lệ giặc Tàu phương Bắc và 100 năm đô hộ giặc Tây, xương máu của tiền nhân đã đổ ra để dành độc lập cho tổ quốc, không phải để cho chúng ta ngày hôm nay lại dững dưng, vô cảm trước bọn bá quyền Trung Cộng thời đại xâm lấn đất nước ta một lần nữa.
Vào thời điểm năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng, các đảng phái chính trị khác nhau đã lập thành được một chính phủ đa đảng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, dù là chỉ một thời gian ngắn ngủi. Ông Hồ Chí Minh và các đồ đệ của mình chỉ vì tham vọng chính trị và mộng bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi Đông Dương nên đã tìm cách tiêu diệt các đảng phái và những thành phần ái quốc phi-cộng sãn đã từng cùng ông chống ngoại xâm như: nhà ái quốc họ Phan, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đức Giáo chủ Hoà Hảo Huỳnh Phú Sổ,… và hàng vạn chí sĩ khác.
Lịch sử còn rành rành đó, thế nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang cố ra sức vùi dập, chối bỏ sự thật này. Để làm được việc này, ĐCSVN cần đến sự hỗ trợ đắc lực, thậm chí mù quáng của các đảng viên, cán bộ trong guồng máy chính quyền, quân đội, công an, những người trí thức,... Trong thế kỷ 21 này, ĐCSVN lại tiếp tục công việc này bằng cách tận dụng các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng thông qua hệ thống internet. Một điển hình cho công cụ đắc lực này là hệ thống công an mạng với những tên tuổi được biết đến như Nguyễn Tử Quảng.
Cũng với hệ thống internet, toàn thế giới đã nhận ra và hiểu rõ bộ mặt thật của CNCS (một chủ nghĩa đã bị khai tử ở Liên Xô và Đông Âu nơi thành trì của nó), cũng như nhận thức rõ được lý tưởng ảo huyền bởi sự tuyên truyền và chỉ đạo của các thành phần bảo thủ lãnh đạo đảng cộng sản. Việc nhận ra sự thật này chỉ là vấn đề thời gian, và những kẻ đang cung cúc mù quáng tận tụy với chế độ cộng sản nên suy nghĩ thật kỹ càng để chắc rằng sự phục vụ nhiệt tình của mình phải là cho đất nước nhân dân, chứ không phải cho một đảng cầm quyền thối nát, kẻo không thì muôn đời sẽ mang tội với Tổ quốc và nhân dân.
Tuổi trẻ tuy bồng bột nhưng với trí tuệ và lòng nhiệt huyết lại là rường cột của nước nhà. Để có được sự nhận xét khách quan trung thực, chúng ta nên ôn lại những dữ kiện đã qua, để từ đó có được cái nhìn đúng đắn về tương lai. Cần phải hiểu rằng trong một đất nước, quân đội và công an là lực lượng bảo vệ đất nước và nhân dân chứ không phải là công cụ bảo vệ chế độ, chính phủ của bất cứ đảng phái nào.
Nhìn vào thực trạng lịch sử VN, trong quá khứ với chế độ phong kiến cai trị đất nước theo hệ thống cha truyền con nối, luật pháp trị dân theo sự chỉ đạo của vua và chỉ có vua là trên hết, vua phán thì bắt buộc thần dân phải nghe theo vì vua như là "thiên tử", dân không có quyền chọn lựa người đại diện hợp pháp cho mình. Vì vậy cho nên, nếu một triều đình mà trong đó vua quan có tài đức biết thương dân, biết lo cho dân thì dân có phúc, ngược lại cũng có không ít những vì vua cùng quan lại tham ô chỉ biết có quyền lợi cá nhân thì đó là cái đại hoạ mà nhân dân phải gánh chịu. Vậy hãy nhìn lại suốt chiều dài hơn 60 năm cai trị tuyệt đối của ĐCSVN, có khác gì chế độ phong kiến ngày xưa không?
Những người trong guồng máy chính quyền hiện nay chỉ tuyệt đối trung thành với đường lối của đảng, trong khi đảng chỉ quy tụ một thiểu số thành phần trong xã hội mà thôi. Như vậy, trung thành với đảng, với chính quyền không phải là trung thành với tổ quốc với nhân dân được.
Theo sự tiến bộ của loài người thì không có cái gì mà tồn tại vĩnh viễn mãi được, trái lại bắt buộc phải đổi thay theo đà tiến bộ của nhân loại. Do đó nền phong kiến lỗi thời cũng phải cáo chung theo định luật bất di bất dịch này. Ngày nay, với chế độ tự do dân chủ đa nguyên mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo đã chứng minh rằng: quyền dân chủ nhân quyền của người dân được tôn trọng và bảo đảm bằng giấy trắng mực đen, bằng quyền hạn tự do chọn lựa người đại diện cho mình để phục vụ đất nước. Những ai không tôn trọng ý kiến của nhân dân, độc tài cai trị thì dĩ nhiên theo thời gian sẽ bị nhân dân đào thải.
Nếu ĐCSVN thực tâm yêu nước, thực tâm muốn tiến bộ cùng dân tộc như đảng đã từng tuyên bố thì bắt buộc phải chấp nhận chế độ đa nguyên có cạnh tranh để cùng nhau tiến bộ và thực tâm tôn trọng những gì đã hứa. Chính bản thân ông Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “một đảng mà giấu diếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng, một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó từ đâu mà có khuyết điểm, xét hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm mọi cách để sửa chữa. Như thế là đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn và chân chính” (trích nguồn tapchicongsan.org.vn/deta…ews_ID=8651104).
Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (LHQ) cùng các công ước quốc tế mà chính ĐCSVN đã tình nguyện ký kết tham gia đều thể hiện đầy đủ các quyền lợi của người dân VN. Tuy luật pháp của mỗi quốc gia có khác nhau, nhưng đều phải phù hợp với bảng tuyên ngôn nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà mình đã cam kết. Theo đó người dân đều có toàn quyền tự do về ngôn luận, thông tin, báo chí, tín ngưỡng, cư trú, lập hội, tham gia các đảng phái và bất đồng chính kiến với chính quyền…v.v…. Điều 69 Hiến Pháp Việt Nam (HPVN) hiện hành cũng ghi rõ các quyền lợi đó, nhưng tiếc thay Bộ Luật Hình Sự (BLHS) là luật dưới Hiến Pháp lại có những điều khoản hoàn toàn đi ngược lại điều 69 HPVN như điều 88 (tuyên truyền chống nhà nước….), điều 258 (lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước….) để rồi công an và toà án xem 2 điều khoản vi hiến này như là kim chỉ nam để tự do trù dập, bắt bớ và bỏ tù những ai dám can đảm đấu tranh cho dân chủ nhân quyền một cách ôn hoà bất bạo động. Hành động này đã được thể hiện rõ nét qua những phiên toà trá hình để xử những những nhân vật bất đồng chính kiến, những người dám đứng lên chống bất công tham nhũng, thối nát của chế độ.
Sau khi ĐCSVN cai trị ở miền Bắc thì đã có hơn 2 triệu người trốn vào miền Nam sau ngày ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước vào tháng 7/1954, đặc biệt sau khi Hoa kỳ thực sự phản bội và bỏ rơi chính phủ VNCH, tạo thuận tiện cho CSVN cưỡng bức miền Nam bằng vũ lực vào tháng 4/1975, không qua bầu cử tự do như Hiệp định Paris đã quy định. Suốt những năm sau đó, CSVN lại tiếp tục gây ra nhiều thảm cảnh bằng lối cai trị tàn bạo và những chính sách quái gở mà đã khiến hơn 3 triệu người phải bỏ nước ra đi, với số người thiệt mạng trên biển cả, trên đường đi lên đến hàng hàng trăm ngàn người.
Những người tỵ nạn này mà đa số là "thuyền nhân", sau khi đến được bến bờ tự do đã làm lại cuộc đời, bản thân và con cái đều thành đạt, và hàng năm gởi về thăm nuôi thân nhân hàng tỷ đô la. Đó cũng là lý do khiến nhà nước CSVN xoay 180 độ không còn gọi đám tỵ nạn là "phản động", mà thay bằng các mỹ từ "Việt kiều yêu nước" hoặc là "khúc ruột ngàn dặm".
Sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đã buộc các nhà lãnh đạo ĐCSVN phải chấp nhận nền kinh tế thị trường của tư bản qua cái gọi là "đổi mới". Nền kinh tế VN bắt đầu được hồi sinh sau giấc ngủ dài, mặc dù sự hồi sinh này đang bấp bênh và giả tạo vì nền kinh tế lệ thuộc hoàn toàn vào sự đầu tư của nước ngoài. Tuy tham gia vào các định chế kinh tế, các tổ chức thế giới, nhưng ĐCSVN chỉ chấp nhận tự do cạnh tranh về kinh tế chớ không bao giờ dám chấp nhận tự do cạnh tranh chính trị.
CSVN thường tuyên bố đế quốc Mỹ là kẻ thù không đội trời chung. Nhưng hôm nay nhờ có đế quốc Mỹ mà Việt Nam mới được vào WTO, được ngồi vào ghế thành viên không thường trực của Đại hội đồng LHQ, được Mỹ và các nước dân chủ Tây phương giúp đỡ mới có được nền kinh tế như ngày hôm nay. Hàng năm Mỹ thường giúp VN cải thiện nền giáo dục, cứu trợ thiên tai và giúp các bệnh nhân nghèo AIDS cùng các chương trình xoá đói giảm nghèo, cũng như được Mỹ ưu ái bán cho vệ tinh VINASAT-1..v.v… CSVN thường nói là tư bản bóc lột công nhân, còn CNCS là chủ nghĩa công bằng do công nhân và nông dân lãnh đạo nhưng trên thực tế đồng lương và cuộc sống của công nhân và nông dân trong những nước tư bản dân chủ đa nguyên đã vượt xa gấp trăm lần công nhân và nông dân của các nước theo CNCS.
CSVN tuyên dương Trung Quốc là đất nước đàn anh, là người thầy vĩ đại, là ân nhân như môi với răng,... nhưng thử nghĩ lại xem Trung quốc đã giúp đỡ cho chúng ta được những gì ngoài việc chiếm đất đai lãnh thổ của ta, giết hại đồng bào và các ngư dân của ta, ngang nhiên phát động chiến tranh năm 1979 để lấn chiếm đất đai của ta khiến cho hàng chục ngàn chiến sĩ phải hy sinh, in tiền giả để phá nền kinh tế của ta, thực phẩm có chất độc cũng từ Trung Quốc mà ra,…
Một chuyện động trời mà nhân dân VN không thể nào ngờ tới, nhưng ngày nay nó đã được phơi bày ra ánh sáng là chính thủ tướng Phạm văn Đồng thừa lệnh chủ tịch Hồ Chí Minh ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa là của Trung quốc. Bởi vậy cho nên khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa từ tay hải quân VNCH vào tháng 1/1974 thì ông GSTS Hoàng Tùng (trưởng ban Tư Tưởng - Văn Hóa TW) tuyên bố: "Trung quốc chỉ chiếm dùm ta sau này sẽ trả lại, tinh thần quốc tế vô sản mà!". Dĩ nhiên câu nói này nhằm để xoa dịu những người còn có chút lòng yêu nước trong đảng mà thôi. Khi Trung Quốc xây dựng phi trường quân sự ở Hoàng Sa thì cả Bộ Chính Trị CSVN đều im lặng và giấu kín không cho ai biết. Bộ Chính trị đảng cũng mập mờ và giấu kín chuyện Trung Quốc đánh chiếm gần hết các đảo ở Trường Sa vào năm 1988 khiến cho sự hy sinh của các chiến sĩ hải quân bị chìm vào quên lãng. Ngày 2/12/2007 vừa qua khi Trung quốc tuyên bố xác nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào thành phố Tam Sa của chúng thì cả ban lãnh đạo ĐCSVN cho đến hôm nay không ai dám lên tiếng phản đối, chỉ cho phép phát ngôn viên ngoại giao Lê Dũng phản đối chiếu lệ trên tivi.
Sinh viên, học sinh cùng các thành phần yêu nước biểu tình chống bọn xâm lăng Trung Quốc thì công an lại thẳng tay đàn áp. Các chiến sĩ trong hàng ngũ quân đội, công an khi đàn áp những người biểu tình phản đối kẻ xâm lược đất nước mình có biết rằng mình đang nối giáo cho giặc không? Quý vị có biết rằng với sự nhiệt tình phục vụ để bảo vệ thành trì của ĐCSVN đã giúp cho những thành phần lãnh đạo bảo thủ của đảng ngày nay người nào cũng có tài sản kết sù trong nước, người nào cũng có tiền gởi ngân hàng ngoại quốc hàng trăm triệu hoặc tỷ đô la, người nào cũng có con đi du học ở các nước tư bản, xài tiền như nước lã. Trong khi đó quí vị là những người trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước tổ quốc và nhân dân thì quí vị có được những gì ngoài đồng lương chết đói và một vài bằng khen do cấp trên ban tặng.
Cụ Hoàng Minh Chính đã từng là trưởng ban nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lênin, có quyền cao chức vọng nhưng ông đã nhìn ra được chính nghĩa mà từ bỏ con đường XHCN, bất chấp mọi hiểm nguy để dấn thân tranh đấu cho Việt Nam có được con đường dân chủ đa nguyên. Ông đã được cả thế giới hoan nghênh và rất đông tướng, tá cùng những đảng viên ưu tú của đảng và mọi thành phần trí thức cùng nhân dân trong nước ủng hộ và đang tiếp nối con đường dang dở của ông, cho dù hiện nay thân xác ông đã hoà cùng sông núi.
Hiện tại chính quyền đang ra sức chặt đứt mọi công việc sinh sống của những người đấu tranh dân chủ, làm áp lực thân nhân gia đình vợ con của họ để cho họ không còn khả năng tranh đấu. Ông Trung tá Tùng (thuộc sở công an thành phố Sài Gòn) nói với anh Đỗ Nam Hải ngày 28/4/2008 rằng: "hiện nay tình báo TQ đã biết mặt anh, biết cả nhà anh nơi anh cư ngụ…vì thế, anh liệu chừng cho vấn đề an ninh của cá nhân anh….". Không biết những ai có tinh thần dân tộc sẽ nghĩ gì trước lời nói này của ông Trung tá công an Tùng?
Ngọn đuốc Olympic Bắc kinh đã kết thúc trong tủi nhục, trong sự chống đối lan tràn khắp nơi trên thế giới. Đúng ra nhà nước Việt Nam không cho ngọn đuốc vào Việt Nam để phản đối hành động xâm lăng của Trung Quốc như Đài Loan đã làm. Nhưng trái lại ngày 29/4/2008 vừa qua chính quyền đã tự hào rước ngọn đuốc thế vận hội ô nhục của bọn bá quyền xâm lược Bắc kinh vào thành phố Saigòn. Với một rừng công an và mật vụ của VN và TQ đã được dàn sẵn từ trước, với sự canh gác nghiêm nghặt và liên tục hạch sách trù dập các nhà đấu tranh dân chủ, hành hung và bắt trước những thành phần sinh viên cùng những người mà chính quyền cho là mầm móng lãnh đạo biểu tình chống Trung Quốc. Ngay chính vị lãnh đạo nhà nước là thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cũng đã "quyết tâm" bảo vệ thành công ngọn đuốc. Nhờ vậy một rừng cờ TQ với sự bảo vệ của công an CSVN đã tự do tung bay trên nền trời Sàigòn chiều ngày 29/4/2008, trong khi lá cờ đỏ CSVN tự nhiên biến mất va bỗng chốc Sài Gòn đã trở thành ngày hội của đất nước Trung Quốc. Người TQ cầm cờ tự hào cao ngạo trước nỗi buồn của dân chúng Saigòn, trong khi trang web của hội Thanh Niên Lạc Việt một lần nữa đã bị đánh sập, toàn bộ kế hoạch cho cuộc biểu tình chống TQ đã được công an phá tan trước giờ khai mạc, sinh viên cùng các thành phần yêu nước và dân chúng bị rừng công an cô lập trên tất cả con đường mà ngọn đuốc đi qua.
Nhìn tình cảnh này mọi người chứng kiến đành phải rơi nước mắt cho cái nhục quốc thể của mình, nhưng biết phải làm sao trong giờ phút đó khi toàn bộ sức mạnh của bạo lực nghiêng hẳn về một chính quyền tự nhận là trí tuệ, sáng suốt lãnh đạo đất nước. Ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh tạm thời đã thành công tại VN, xem như chính quyền CSVN đã làm tròn lời hứa đối với đàn anh Trung Quốc (kẻ xâm lăng đất nước mình). Tuy nhiên, khí thế đấu tranh vì chính nghĩa của toàn dân sẽ không bao giờ mất, vì lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn "quyết không để mất một tấc đất của quê hương cho bọn bá quyền phương bắc" mãi mãi nằm sâu trong tận đáy lòng của mọi người VN yêu nước.
Các chiến sĩ quân đội, công an là lực lượng nồng cốt để bảo vệ quê hương rồi đây sẽ nhìn ra được sự thật quá đau lòng này. Chúng ta đã mất gần 50 năm mới biết được công hàm dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho bọn bá quyền Trung Quốc của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bây giờ nếu quý vị còn quá trung thành với một thiểu số người bảo thủ lãnh đạo ĐCSVN mà ra tay đàn áp, bóp chết lòng yêu nước của nhân dân thì thử hỏi trong tương lai đất nước Việt Nam chúng ta sẽ ra sao, bọn bá quyền Trung quốc sẽ nghĩ sao về lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam?. Các nước trên thế giới tuy không bị Trung Quốc xâm lăng nhưng người dân ở các nước này đã vì nhân quyền và dân chủ mà mà lên tiếng, cho nên ngọn đuốc Olympic của Trung Quốc đi đến đâu cũng đều có biểu tình phản đối.
Anh Lê Minh Phiếu (nghiên cứu sinh, sinh viên trường ĐH Luật Montesquieu, Pháp) người được chọn cầm đuốc chạy trên đường phố Sài Gòn đã gởi thư cho ông Rogge chủ tịch Olympic Quốc Tế để phản đối việc Trung Quốc đã lợi dụng ngọn đuốc Olympic vào mục đích chính trị nhằm hợp thức hoá quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc. Tuy phản đối nhưng anh vẫn trở về Sài Gòn để cầm đuốc. Ngược lại chính quyền đã quá cẩn thận tuân theo mệnh lệnh của tổng bộ thiên triều Trung Quốc không cho anh Phiếu cầm ngọn đuốc (lệnh của tổng bộ là do chính tai anh Phiếu nghe được). Tuy nhiên, có sự linh thiêng diệu kỳ là mặc dù ngọn đuốc đã được bảo vệ thật kỹ càng nhưng vẫn bị tắt chỉ cách điểm xuất phát chưa đầy 200mét trên tay của bà Nguyễn Thị Thu Hà (Phó Chủ Tịch UBND thành phố). Điều đáng ghi nhớ nữa là ngọn đuốc đã bị tắt nhiều lần như thế trên suốt các con đường mà ngọn đuốc đi qua. Có lẽ hồn thiêng sông núi đã phù hộ nhân dân Việt Nam.
Xin nhắc nhở các chiến sĩ quân đội, công an rằng: đa số các thành phần trong phong trào tranh đấu cho nền dân chủ trong nước hôm nay đều là những đảng viên ưu tú của đảng, đã từng giữ những chức danh quan trọng trong đảng, đã từng là cấp chỉ huy trong quân đội và công an. Họ là những người đã biết rất rõ đường hướng của chủ nghĩa cộng sãn, đã nhận thức được là CNCS không còn phù hợp cho toàn dân nữa và họ đang thực hiện đúng theo lương tâm của họ, đúng theo sự tuyên truyền hàng ngày của đảng là xây dựng một XÃ HỘI CÔNG BẰNG DÂN CHỦ VĂN MINH.
Tại vì đảng độc tài lãnh đạo nên đã bịt kín mọi sự thật, cho nên đa số những người phục vụ cho đảng cùng đa số nhân dân không biết gì về chuyện Trung Quốc ngang nhiên chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Hiệp ước ranh giới tháng 12/1999 khiến đất nước mất Ải Nam Quan, hiệp ước lãnh hải tháng 12/2000 mất trên 10 ngàn km2 đường biển. Rồi nào là cơ chế độc đảng đã khiến cho tham nhũng công khai lộng hành từ trung ương xuống địa phương không sao cứu giãn nổi, quyền lực và bè phái đã dung túng cho những kẻ bất tài vô dụng ngồi vào các chức danh quan trọng trong chính quyền để thủ lợi cá nhân.
Lịch sử đã từng kết tội Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc theo ngoại bang nhưng Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc chưa hề ký hiệp ước hoặc công hàm dâng đất, dâng biển cho Tàu dù chỉ một tấc. Vậy thử hỏi có người nào lại cam tâm tôn vinh một đất nước đã xâm lăng đất nước mình? Hành động bóp chết quyền tự do của người dân được quy định ở điều 69HP hiện hành là phản lại tổ quốc và nguyện vọng của nhân dân. Theo đà tiến bộ của loài người thì chắc chắn trong tương lai không xa con đường dân chủ đa nguyên bắt buộc phải đến. Chính đại tá Chung (CA Hà nội) khi làm việc với nhà dân chủ Nguyễn Khắc Toàn cũng đã khẳng định là "đa đảng sẽ phải đến từ từ thôi".
Hiện nay cuộc sống của đại bộ phận đồng bào thân yêu đang trở nên khó khăn hơn vì cơn lạm phát phi mã, vì sự lạm quyền và tham nhũng tinh vi của các thành phần quyền lực trong đảng. Việc đảng tuyên bố Nguyễn Việt Tiến (thủ phạm chính tham nhũng trong vụ PMU18) là vô tội và đang phục hồi tất cả quyền lợi cho ông ta, đồng thời lại bắt giam 2 nhà báo của Tuổi Trẻ và Thanh Niên đã đăng bài vạch trần những âm mưu tham nhũng của Tiến, cũng như truy tố thiếu tướng Quắc (vì ông này đã cho tiến hành điều tra để vạch trần những sai trái của Nguyễn Việt Tiến khiến cho Tiến phải bị bắt giam 18 tháng), đã gây công phẩn cho làng báo Việt Nam dưới sự điều hành của đảng. Việc này cũng gây công phẫn trong dư luận trong nước và gây bất mãn quốc tế khiến cho ông trưởng đoàn ngoại giao về nhân quyền của Mỹ phải nêu ra trong ngày đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Mỹ tại Hà Nội vào ngày 30/5/2008 vừa qua.
Trước khi kết thúc xin được nhắc lại lời phát biểu muộn màng của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt: “….Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc VN không của riêng một đảng, một phe phái, một tôn giáo nào… Quốc hội có nhiều người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách tự do sẽ tốt hơn Quốc hội bây giờ”. Vậy ngay từ bây giờ thế hệ chúng ta phải làm gì cho đất nước để khỏi hổ danh là con Hồng cháu Lạc?
Hương Trà (Sinh viên năm thứ 2 Khoa Luật) Sài Gòn - ngày 25/6/2008 (Email: huongtra13@gmail.com)
Publié le 29/07/2008 à 09:08
Par pctdn
 |