iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 08/03/2008 à 20:29
Par pctdn

Tình anh lính chiến - Phương Dung

Ca sĩ: Phương Dung
Nhạc Sĩ: Lam Phương


 Download bài này


Tình Anh Lính Chiến

Xuyên lá cành trăng lên lều vải
Lòng đất ấm thương tình đôi mươi
Thương những người mạch sống đang khơi
Đang tìm một cuộc đời cho lòng vơi nét phong sương

Anh chiến trường tôi nơi hậu tuyến
Đời lính chiến xui gặp nhau đây
Đôi đứa mình còn mỗi đêm nay
Nói gì cạn niềm thương để rồi mai ta lên đường

Rồi ngày mai ra đi
Chốn biên thùy anh sá chi gian nguy
Có bao giờ anh nhớ chăng
Đêm nào nằm gần nhau
Hồn xây mộng ước mai sau

Mai nếu đời ngăn chia ngàn lối
Đừng quên nhé những ngày bên nhau
Đêm cuối cùng buồn quá anh ơi
Bao giờ tình ngàn phương hòa lòng trai nơi sa trường

Publié le 08/03/2008 à 07:04
Par pctdn

Ăn uống thế nào để tăng tuổi thọ?


ThS. Nguyễn Hoàng Lan

( 5/3/2008)


Ăn uống cung cấp năng lượng cho các hoạt động của cơ thể và tu bổ những hao mòn bảo đảm cho các chức năng của cơ thể được hoạt động bình thường. Đối với người cao tuổi, ăn uống càng quan trọng hơn vì qua nhiều năm hoạt động các chức năng của các cơ quan đã có nhiều  thay đổi, suy yếu.
Người cao tuổi nên ăn uống  như thế nào?

Cá quả - thực phẩm tốt để tăng tuổi thọ.
 - Cần ăn giảm số lượng: Cơm là thức ăn chính của người Việt Nam, nguồn cung cấp năng  lượng chủ yếu cho hoạt động của cơ thể.  Lúc còn trẻ ăn bình thường mỗi bữa 3 bát cơm; Khi lao động nặng ăn tới 4- 5 bát, nay cao tuổi nên ăn rút xuống 2 bát rồi 1 bát. Có thể theo dõi cân nặng để điều chỉnh mức ăn, người cao tuổi nên lấy mức cân nặng tối đa không được vượt quá 9/10 của chiều cao tính bằng centimét trừ đi 100.
 - Chất lượng bữa ăn: Phải bảo đảm đủ chất đạm, chủ yếu ăn chất đạm có nguồn gốc thực vật: đậu phụ, sữa đậu nành, tương, các loại đậu. Giảm ăn thịt nhất là thịt mỡ, nên ăn cá. Ăn dầu lạc, dầu vừng. Nên hạn chế ăn mặn, giảm ăn đường, giảm nước ngọt, bánh kẹo ngọt. Tăng cường ăn nhiều rau xanh, rau gia vị, tỏi, gừng, riềng, nghệ, giá đậu...



- Cách ăn:  Không bao giờ ăn quá no, thực hiện lời dạy của cổ nhân “thực bán bão chung thân vô bệnh”, tạm dịch là: “ăn nửa dạ dày suốt đời không có bệnh”. Nên chế biến thức ăn mềm và luôn luôn có món canh vì tuyến nước bọt và hàm răng của người cao tuổi hoạt động kém. Nên xây dựng thực đơn bao gồm: có món xa lát chủ yếu để cung cấp rau: nguồn vitamin, chất khoáng, chất xơ cho cơ thể vì trong món xa lát có kèm theo dầu ăn, vừng lạc để chế biến ra các món nộm hoặc các món xa lát hỗn hợp nhiều loại rau, củ, quả;  Có món chủ lực cung cấp chất đạm và chất béo như thịt kho, thịt gà luộc, cá rán, trứng tráng, đậu phụ kho, rán, đậu phụ nhồi thịt, trứng đúc thịt, hoặc chế biến sẵn như tương, muối vừng, lạc; Có món ăn cung cấp năng lượng chủ yếu là cơm, đậu xanh, đậu đen, khoai, bánh mì; Có món canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung: nước rau, canh rau muống, tương gừng, canh cá, canh giò, canh thịt, canh chua, canh dưa với lạc, với cá; Có đồ uống trước, trong và sau bữa, tránh dùng rượu, nên dùng nước nấu chín để nguội, nước chè và các món canh...
Cách sử dụng hợp lý một số thực phẩm với  người cao tuổi
Gạo: tốt nhất là ăn gạo lức, gạo toàn phần nhưng nên bóc cám riêng ra cho gạo mềm dễ nhai. Khi nấu trộn với cám đã bóc ra, cơm cám này ăn với muối vừng rất béo và ngon.
Khoai củ các loại: người cao tuổi nên ăn  bớt cơm và thay vào đó nên ăn nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn gây cảm giác no nhưng cho ít năng lượng không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư.
Đậu các loại có giá trị dinh dưỡng khá cao, giàu chất đạm. Riêng đậu tương còn có thêm nhiều axit béo không no rất quý, tương là món ăn truyền thống bổ dưỡng, đậu phụ, chao, sữa đậu nành, sữa chua từ đậu nành. Nên sử dụng nhiều loại đậu, đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen, đậu trắng vào chế biến món ăn và ngâm giá đỗ.
Lạc, vừng: lạc, vừng đều giàu chất đạm, chất béo, nhiều axit béo không no.
Rau: bữa nào cũng cần có món rau.
Ăn nhiều trái cây giúp tăng tuổi thọ.
Trái cây: rất quý nhất là với người cao tuổi. Nguồn cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng, nhiều chất chống ôxy hóa.
Dùng trứng: những bệnh làm cơ thể gầy sút nhiều có thể ăn 3 quả trứng một tuần nhưng không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu tim, rối loạn tuần hoàn não ăn trứng.
Sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện mỗi ngày các cụ nên ăn một cốc sữa chua.



Mật ong: mật ong có rất nhiều tác dụng đối với cơ thể.
Mắm: lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.
Muối: nhiều công trình nghiên cứu về mối liên quan không thể chối cãi giữa mức tiêu thụ muối ăn với mức độ mắc bệnh tăng huyết áp.
Rượu: người cao tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, tăng huyết áp, xơ mỡ động mạch, thiếu máu tim, rối loạn tuần hoàn não, chức năng thận, gan bị suy yếu, thường gặp bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề của nhiều tai biến như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim. Cho nên, đối với người có tuổi, rượu, kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ
Người cao tuổi muốn sống lâu, sống vui, sống khỏe, sống có ích cần  bảo đảm 3 yếu tố: một là tâm hồn thanh thản, luôn sống trong niềm vui để niềm vui kích thích tăng cường sức sống của cơ thể, giúp duy trì thăng bằng của hệ thần kinh và là một vũ khí cưỡng lại mọi căng thẳng, mọi stress của cuộc sống hằng ngày; Hai là ăn uống hợp lý, tăng cường các chất chống ôxy hóa để chống lại các gốc tự do; e là năng vận động  để lưu thông khí huyết, chống lại quá trình ôxy hóa, cơ thể được rèn luyện đều đặn sẽ hoạt động hài hòa, cho ta cảm giác dễ chịu, vui tươi, phấn khởi, yêu đời. 3 yếu tố tạo nên mối liên quan thúc đẩy lẫn nhau: niềm vui và sự vận động giúp ăn ngon miệng và chính việc ăn uống điều độ đủ chất lại tạo cho người cao tuổi niềm vui và sự hăng hái vận động tăng cường tuổi thọ.

ThS. Nguyễn Hoàng Lan


Publié le 08/03/2008 à 06:29
Par pctdn

Thơ Đinh Hùng
 
 
ĐỜI ANH HOA
 
- 1 -
 
Ta để Nguồn Hương nhập xác này,
Hồn như phong vũ đã xa bay.
Mê đi chín kiếp luân hồi nữa,
Về gặp nhân tình hát ở đây,
Đâu biết tin Xuân còn diễm ảo.
Mà thương huyền sử bắt đầu thay!
Vì ta đổi áo thiên duyên mộng
Người gái Giao Đài mới biết say
 
- 2 -
 
Trăng bỏ ta đi, trăng ảo huyền!
Mấy trùng biển lạ nhớ bình nguyên?
Sầu ta đọng khắp trường giang thủy,
Vào cuộc tuần du lại đắm thuyền!
Ta hát lên trời muôn thuở trước,
Giờ đây còn lặng khúc giao duyên.
Hỷ thần lưu lạc về sông núi,
Ngươi gọi hồn ai (?), hỡi đỗ quyên!
 
- 3 -
 
Hãy thoát thân đi, đuổi bắt hình,
Hồn ơi, đừng lạc xứ U Minh.
Ai tìm ta đó trong đêm loạn,
Có gặp Thơ về, Nhạc hiển linh?
Ta gọi thiên tai, cười mệnh số,
Đây lời hoan lạc viết nên kinh.
Đời anh hoa trước nghe thần mộng
Còn giữ nguyên trang sách diễm tình.
 
 
HUYỀN SỬ
 
- 1 -
 
Thời đại Hoàng Kim đã phục hồi
Ta mừng Bạo Chúa sắp lên ngôi
Tìm thơ vương giả, xuân lưu huyết,
Mê dáng cung phi, nước ngậm cười.
Nhìn suốt hư linh vừa thấy Mộng
Thiện tâm về ẩn chốn nào vui?
Buồn riêng một bóng trăng tiền sử,
Sao Thái Hòa xưa rụng xuống người.
 
- 2 -
 
Hãy ra sa mạc, cõi Thơ Vàng,
Vào trận cuồng phong, loạn hỗn mang.
Nghìn lá cờ ma sầu địa chấn,
Hát lên, ôi dòng máu Bình Vương!
Người đi, cát chuyển đường qua núi,
Ta mất biên thùy, lạc thái dương.
Lấp bể danh truyền, quên sự tích,
Trở về, xin mộng giấc hiền lương.
 
- 3 -
 
Ta đến nghe đời sắp mệnh chung
Giữa đêm về viếng mộ anh hùng.
Nghiêng trời hiện bóng đường xa mã,
Vượt nước in hình mái thủy cung.
Trở giấc bơ vơ hồn lạc quốc,
Lạ dòng, trôi nổi bến phù không.
Người ôi, tỉnh dậy, đừng oan thác,
Lam khí bay lên lấp cửu trùng.
 
 
VÔ THƯỜNG
 
- 1 -
 
Tàn ác, thời gian giục vó câu,
Mình ta lạc mộng, đứng trong sầu.
Ngẩn ngơ tình tứ, lòng hoang dại,
Mờ ảo dung quang, tóc đổi màu.
Xuân buổi thanh bình rung sử lệ
Hội đêm phong kiến loạn vương hầu.
Người xưa dạo đến cười trong mộ,
Hờ hững, ta đi khuất nguyệt cầu.
 
- 2 -
 
Ai ở mà say hội lý đào?
Trăng phù du ấy tuổi là bao?
Núi non dựng lại toàn cung cấm,
Cuồng dại, ta mê thị trấn nào?
Yến tiệc đi, về, quên lối mộng,
Tạ từ, Thơ lạc vận tiêu tao.
Ý trời, tay viết lên bàn thạch,
Bày ván cờ tiên thử thấp cao.
 
- 3 -
 
Đọc sách mười năm, học lấy quên,
Ta, đêm Hồng Thủy dạo con thuyền.
Giận công trác tuyệt Trời khai thác,
Tay cuốn dòng sông, nổi sóng lên. 
Ruộng đất đã nguôi lòng thảo dã,
Mặc ta rừng núi khóc lâm tuyền.
Thơ đâu? Chẳng nói lời yêu hoặc,
Vẽ mặt sầu nhân, nét bút điên?
 
HỒI SINH
 
- 1 -
 
Bộ lạc ta xưa mất hải tần,
Buồn nghiêng nội địa, cháy tà huân.
Đêm thiêng thổn thức hồn du mục,
Ta vọng lên non tiếng ác thần.
Cửa ngục sông hồ run ánh lửa,
Trăng mê màu huyết, loạn hồng vân.
Hoang sơ, tuổi đá bừng cơn mộng,
Cúi mặt u huyền, khép áo xuân.
 
- 2 -
 
Nhạc khóc cầm đài nghẹn khúc ca,
Trần gian chuyển dáng mộng giao hòa.
Gió trăng ngự uyển buồn xuân sắc:
Thử bước vào xem cung điện Ma!
Xiêm áo tôn nghiêm còn lạ chủ,
Nửa chừng hoan lạc nép mình hoa.
Hỡi ơi, hồn lệ mờ nhân thế!
Vãn cuộc hồi sinh, ai đợi ta?
 
- 3 -
 
Hồn phách thanh tuyền dáng ảo hương,
Bâng khuâng thần chủ lạ thiên đường.
Gợn trong nhân ảnh màu hư cấu,
Lạc thổ bồng lên tuổi thái dương.
Thức ngủ huyền vi, điềm ngọc sáng,
Lửa đâu hoài niệm Đất phong vương?
Hiện thân động mái chèo kim cổ,
Nửa mặt phù sinh nép hậu trường.
 
ĐINH HÙNG
(Lạc Hồn Ca, - MÊ HỒN CA)
Publié le 03/03/2008 à 22:40
Par pctdn
Bài thuyết trình của Nhà văn Đinh Lâm Thanh
trong dịp Tưởng Niệm 40 năm biến cố Mậu Thân
tổ chức tại Paris ngày 02.03.2008 

Kính thưa Quý Vị
 Tôi được ban tổ chức có nhã ý mời tham gia đề tài ‘Biến cố Tết Mậu Thân’ trong dịp ‘Truy Điệu và Tưởng Niệm Nạn Nhân’ hôm nay. Tôi xin cám ơn ban tổ chức và hân hạnh trình bày cùng quý vị một vài điểm quan trọng, bài viết chia làm 3 phần :  Thứ 1.  Diễn tiến của quân Cộng sản kéo vào đánh hai thành phố lớn Sàigòn và Huế. Thứ 2. Tội ác của Cộng sản gây ra trong ‘Biến Cố Năm Mậu Thân 1968’Thứ 3.  Âm mưu đen tối và thất bại chính trị của một cuộc xâm lăng điên cuồng. 

1. DIỄN TIẾN QUÂN CỘNG SẢN BẮC VIỆT TẤN CÔNG VNCH.   
 

Trong dịp Tết Mậu Thân, các đây 40 năm, Cộng sản Bắc Việt không tôn trong lệnh hưu chiến mà họ đã cam kết với Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh. Chính Hà Nội đề nghị việc hưu chiến để dân chúng hai miền Nam Bắc vui Xuân trong những ngày Tết. Phía Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh thi hành đứng đắn thỏa hiệp nầy : Mỹ không oanh tạc Miền Bắc, cũng như các hang ổ và vị trí chuyển quân Cộng sản tại Miền Nam. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngưng các cuộc hành quân lục soát và truy kích bộ đội Bắc Việt, đồng thời cho phép một nửa quân nhân đồn trú các cấp về ăn Tết với gia đình. Ngay đêm giao thừa, chính già Hồ đã ra lệnh, qua lời chúc Tết, cho hàng chục sư đoàn chính quy Bắc Việt đồng loạt khai hỏa tấn công Việt Nam Cộng Hòa. Trò lưu manh tráo trở của già Hồ và bè lũ đảng Cộng sản là đề nghị hưu chiến rồi xua quân đánh úp vào trọng tâm các cơ sở quân-dân-sự trong lúc toàn dân Miền Nam đang chuẩn bị đón giao thừa.
 - Mặt trận Sàigòn : Cộng sản Bắc Việt đã chuẩn bị đánh Sàigòn từ tháng 4 năm 1965. Một tổ đặc công được thành lập tại Sàigon, Gia Định với bí số T300 thuộc quân khu 6 do Đỗ Tân Phong chỉ huy. Súng ống đạn dược được chuyển vào Sàgòn và cất giấu trong 8 hầm bí mật của các tên nằm vùng : Năm Lai ở Gia Định, Nguyễn thị Phê, Đỗ Văn Căn ở Sàigòn. Bộ chỉ huy Đặc Công đặt tại tiệm phở Bình Ba Đen, phân công cho các cán bộ CS Bắc Việt nằm vùng như sau : Ngô Thanh Vân chỉ huy đánh Tòa Đại Sứ Mỹ, Trần Phú Cương đánh Đài Phát Thanh, Lê Tấn Quốc tấn công Dinh Dộc Lập và Đỗ Tân Phong đột kích Bộ Tổng Tham Mưu.  Tại Sàigòn CS Bắc Việt tấn công 3 đợt, bắt đầu đêm Mồng Một Tết chúng xử dụng lực lượng Biệt Động Thành F-100 gồm 4 tiểu đoàn đặc công và 11 tiểu đoàn chính quy của Cục R do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh và Trần Bạch Đằng chỉ huy đánh vào khu vực Sàigòn-Chợ Lớn. Ngoài ra sư đoàn 7 và sư đoàn 9 Cộng sản ứng chiến sẳn sàng gởi quân tiếp viện. Về phía VNCH ngoài lực lượng CSQG, các đơn vị cơ hữu chuyên môn còn có Chiến Đoàn 1 Dù (TĐ 1, 6 và 8) từ vùng I về cộng với Liên Đoàn BĐQ (TĐ 30,33,34 và 38) và Chiến Đoàn B của TQLC. QLVNCH đã chiếm lại đài phát thanh Sàigon và cổng số 4 của Bộ Tổng Tham Mưu sau một đêm hai đơn vị nầy nằm trong tay quân CS Bắc Việt.  Tại Thủ Đô, quân Cộng sản pháo kính bừa bải vào các đơn vị của VNCH cũng như vào những khu đông dân cư tạo nên cảnh hổn loạn. Dù hai bên đang đánh nhau nhưng đường phố Sài gòn lúc nào cũng đông người. Đó là những nạn nhân vùng ven đô và ngoại ô kéo vào thành phố, rối loạn tìm nơi trú ẩn vì khu nào cũng xảy ra giao tranh ác liệt. Điều nầy chứng minh rõ ràng, dân chúng tại Sàigòn chạy trốn Cộng sản, không ai nổi dậy theo chân bộ đội như lối tuyên truyền tráo trở của bọn chúng. - Mặt trận Huế : Mục tiêu của Hà Nội là dồn nổ lực chính để đánh chiếm các thành phố lớn trong đó Sàigòn và Huế là hai mặt trận chính. Trại lực lượng A-Shau trên địa đầu phía Bắc Việt Nam Cộng Hòa rút đi nên thung lũng A Shau bị bỏ ngõ và CS Bắc Việt đã lợi dụng để chuyển một số lớn bộ đội chính quy vào tấn công Cố Đô Huế. Cộng sản Bắc Việt mở màn trận chiến vào hai giờ sáng ngày Mồng Hai Tết, nhằm ngày 31.01.1968 bằng hai cánh quân : Đoàn 6 gồm các tiểu đoàn đặc công K1,K2,K6 và K12 từ phía Bắc bên tả ngạn sông Hương tấn công  BTL/SD1 tại đồn Mang Cá, phi trường Tây Lộc, Đại Nội. Đoàn 5 gồm có các tiểu đoàn K4A,K4B,K10 và K21 từ hướng Nam hữu ngạn sông Hương, hợp với Thành Đội tấn công các cơ sở hành chánh phía Nam. Ngoài ra có Đoàn 9 gồm 2 tiểu đoàn 416, 418 hợp với tiểu đoàn 12 đặc công tấn công vào mặt Tây của thành phố. Cộng sản Bắc Việt tổ chức đánh bất ngờ và đã chiếm được trên một nửa thành phố Huế gồm cơ sở hành chánh, khu Đại Nội, chợ Đông Ba, các cửa Thượng Tứ, An Hòa và Chánh Tây. Ngoại trừ BTL/SD1 tại đồn Mang Cá trong thành nội, MACV, Tiểu khu Thừa Thiên, đài phát thanh, trường Kiểu Mẫu và các cầu tàu Hải Quân vẫn do QLVNCH kiểm soát. Ngày Mồng Ba Tết, nghĩa là một ngày sau đó, Chiến Đoàn Dù với 2 tiểu đoàn 2 và7 phới hợp với chi đoàn 2/7 từ phía Bắc vào giải vây Huế. Hai đại đội TQLC với chiến xa M48 thuộc tiểu đoàn X-Ray đóng tại Phú Bài cũng về Huế tăng cường phòng thủ MACV. Chiều ngày Mồng Bốn Tết, Tiểu Đoàn 9 Dù được trực thăng vận đổ xuống thẳng vào trận địa. Cuộc chiến trở nên ác liệt và cùng ngày đó, chiến đoàn A TQLC của QLVNCH gồm các tiểu đoàn 3,4,5 thay thế chiến đoàn Dù phối hợp với SDI BB tiếp tục giải tỏa áp lực tại sân bay Tây Lộc và Đại Nội. Ngày 19/2 TQLC mở chiến dịch Sóng Thần 739/68 và ngày 25/2, BĐQ chiếm lại Khu Gia Hội chấm dứt chiến cuộc tại Huế với đổ nát, điêu tàn. Nhà cửa cầu cống, cây cối, đường sá trở thành tử địa với xác người nằm la liệt thối sình…  Vừa chiếm được Huế, CS Bắc Việt đã vội vàng thành lập hai tổ chức hành chánh và hành động. 
Về Hành Chánh : Cộng sản Bắc Việt chỉ thị cho những tên CS chính gốc nằm vùng tại nhà Nguyễn Đóa là Hoàng Kim Loan, Hoàng Lanh, Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Hữu Vân, Phan Nam, Nguyễn Thiết…đưa những người địa phương ra lập các tổ chức hành chánh :- Chính quyền cách mạng tại Huế giao cho Lê Văn Hảo, Đào Thị Xuân Yến và Hoàng Phương Thảo. (Xin nói riêng về ông Lê Văn Hảo : là giáo sư Đại Học Huế, người Công Giáo, không có tên trong danh sách tham gia các phong trào tranh đấu của Phật Giáo..do đó sau 1966 ông vẫn được tiếp tục dạy Đại Học Văn Khoa Huế. Nhưng sau đó cũng bị Cảnh Sát bắt vì đã để cho Sinh viên theo Cộng sản xử dụng nhà riêng in ấn và phát hành báo chống Mỹ, ủng hộ Cộng sản. Sau đó ông được thả về trước Tết mấy ngày thì được Cộng sản đưa lên làm Chủ Tịch Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình. Sau năm 1975 được Cộng sản thưởng công cho chức Trưởng Ty Thông Tin Văn Hóa Bình-Trị-Thiên, chứ không được vào quốc hội như Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi. Nhân dịp đi qua Australia, Lê Văn Hảo trốn qua Pháp và xin tỵ nạn tại đây.)- Liên Minh các lực lượng Dân Tộc, Dân Chủ Hòa Bình do Lê Văn Hảo làm chủ tịch, thượng tọa Thích Đôn Hậu, Bà Nguyễn Đình Chi làm phó chủ tịch và Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư ký.  Tay sai gây nên tội ác như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm…là những tên nằm vùng, từ năm 1963 đến 1966, tham gia trong phong trào tranh đấu của Phật giáo và chạy vô bưng khi phong trào nầy bị đàn áp. Nhân vụ Tết Mậu Thân chúng trở lại hoạt động và gây tang tóc cho Huế.  
Về Hành Động : Do tên Lê Minh, đại tá, trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị-Thiên chỉ huy toàn bộ, Tổng Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy Khiêm là đảng viên Cộng sản Bắc Việt chỉ huy các tên HPNT, HPNP, NĐX, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân đi lùng bắt, thủ tiêu những người mà chúng cho là ‘ác ôn’, ‘có tội với nhân dân’. Nhưng thật ra là thường dân công giáo vô tội, những người trước đó có thù oán cá nhân với nhau và quân cán chính đang nghỉ phép để ăn Tết với gia đình.  

2. TỘI ÁC DO CỘNG SẢN BẮC VIỆT GÂY RA
 

Tính chung tổng số trên toàn quốc về thiệt hại nhân mạng và vật chất trong cuộc ‘tổng tấn công’ của Cộng sản Hà Nội, từ những vụ giật mìn, phóng hỏa tiển, đặt bom, bắn phá vào các tỉnh, thị xã đến việc chiếm 2 khu vực ở Sàigòn một đêm và 24 ngày tại Huế thì Cộng sản đã giết hại 14.300 người, gây thương tích cho 24.000 người và 627.000 người phải chịu cảnh màn trời chiếu đất.
 Tại Huế, CS lùng bắt thành phần quân-cán-chính, tập trung dân để tổ chức đấu tố, bắn giết, chôn sống tại chỗ một số và dẫn những người còn lại theo làm tù dân - tôi nói tù dân, vì tù là những người dân vô tội - trước rút lui tháo chạy trước sức tấn công mãnh liệt của QLVNCH và Đồng Minh. Nếu tính nạn nhân tại Huế, ngoài số quân nhân, cảnh sát, nhân viên cán bộ hành chánh về nghỉ Tết cũng như những người sống tại địa phương làm việc cho chính quyền Sàigòn bị Cộng sản bắn ngay tại chỗ là 1.892 người. Ngoài ra người ta còn tìm được 2326 tử thi thường dân trong 22 hố chôn tập thể tại những địa điểm như Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bải Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Ðức, Lăng Ðồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Ðông Ba, Trường An, Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Chùa Từ Đàm, Lăng Gia Long, Ðồng Di, Vịnh Thái, Phú Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Ðá Mài. Mỗi hố chôn tập thể từ 5, 7 người đến trên 400 nạn nhân như ở Khe Đá Mài. Những nạn nhân nầy bị thảm sát một cách dã man như : Cột chùm nạn nhân lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống. Nạn nhân là thường dân vô tội tuổi từ 15 trở lên, gồm có sinh viên học sinh, 6 linh mục là các cha Bữu Đồng, Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn Hồ, Cha Guy (dòng Thiên An), cha Urbain và cha Cressonnier (người Pháp). 5 thầy dòng Gồm 3 sư huynh dòng Thánh Tâm là thầy Hec-Man, thầy Mai Thịnh và thầy Bá Long. 2 sư Huynh dòng Lasan là thầy Agribert và thầy Sylvestre. Hai thầy dòng Lasan bị bắt và bị chôn sống chung một hố với linh mục Bữu Đồng tại Su Lộ, quận Phù Thủ. Ngoài ra Cộng sản còn giết các giáo sư đại học người nước ngoài trong lúc họ đang dạy ở đại Học Y Khoa Huế và thân nhân họ hàng của những người phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Người ta ước lượng tại thành phố Huế có gần 5.000 người bị Cộng sản giết trong vòng mấy tuần lễ.  Những người lớn tuổi còn sống tại Huế là những nhân chứng sống. Trong đó có hai thanh niên nguyên là học sinh trung học, nay đã 56 tuổi, trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngoại quốc. Người thứ nhất tên Tuấn cùng với những học sinh khác đã bị CSBV bắt đào lỗ chôn sống 5 người tại Gia Hội ngay trong ngày đầu tiên khi CS vừa chiếm Huế. Học sinh thứ hai, xin giấu tên, ở Phủ Cam bị bắt đi theo đoàn tù dân đưa chôn sống ở Khe Đá Mài. Cả hai học sinh nầy nhờ một phép nhiệm mầu nào đó họ đã thoát được và sống sót đến ngày hôm nay.  Thiệt hại về phía VNCH và Đồng Minh  :  Theo thống kê, VCH có 4954 binh sĩ tử trận, 15.097 bị thương trên toàn quốc. Riêng tại Huế, QLVNCH và Đồng Minh có 384 binh sĩ VNCH chết và 1800 bị thương trong đó phía Mỹ có 147 chết và 857 bị thương. Thiệt hại của quân Cộng sản : Các đây 10 năm, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ăn mừng chiến thắng Mậu Thân năm vào năm 1998, báo chí Cộng sản đã xác nhận có trên 100.000 lính Bộ đội CS chết hoặc mất tích trong cuộc ‘tổng nổi dậy’. Ngoài ra, qua chiến dịch Phượng Hoàng QLVNCH đã bắt làm tù binh hay chính bộ đội ra hồi chánh sau biến cố Mậu Thân là 9461 người. Vì mưu đồ xâm lược Hà Nội đã ‘nướng’ trên 100.000 thanh niên Miền Bắc trong vòng mấy ngày cận chiến với QLVNCH và sau đó Hà Nội còn bị mất thêm gần 1000 quân lính vừa bị bắt vừa ra hồi chánh. Nhiều đơn vị trong chính quy trong Nam phải xóa tên và Hà Nội đã vội vã bắt trẻ con ‘miệng còn hôi sữa’ đẩy vào chiến tường để tiếp tục thi hành thủ đoạn đen tối của già Hồ.  
3. ÂM MƯU ĐEN TỐI VÀ THẤT BẠI CHÍNH TRỊ CỦA CUỘC XÂM LĂNG ĐIÊN CUỒNG :

 
 Trong các tài liệu và diễn văn của Cộng sản tổ chức ăn mừng chiến thắng 40 năm, chúng cho rằng biến cố Mậu thân là một cuộc ‘tổng nổi dậy’ của dân quân Miền Nam. Nhưng thật ra Quân là những tên du kích mang danh Mặt Trận Giải Phóng do lính Bắc Việt đội lốt. Và Dân là cán bộ Cộng sản nằm vùng được tiếp tay của những tên đồ tể cầm đầu bọn đầu trâu mặt ngựa dẫn đường chỉ điểm. Tại Huế Cộng sản mở cửa các nhà tù để xử dụng phạm nhân, những tên tù tội dân sự nầy được giao nhiệm vụ lục soát, bắt bớ, tập trung và thủ tiêu dân chúng. Dân Miền Nam vừa nghe Việt Cộng tấn công đã bỏ nhà, bỏ ruộng vườn, tài sản, bồng bế nhau liều mạng đạp lên nhau để chạy trốn. Hình ảnh rõ ràng nhất là cảnh dân chúng Quãng trị chạy trốn Cộng sản trên quốc lộ 1 và dân chúng trên Cao Nguyên bỏ Pkeiku tháo chạy khi hay tin Quân Đoàn II rút về Quy Nhơn. Nếu nói dân chúng đồng loạt tiến công thì tại sao Cộng sản phải xử dụng súng đạn để lùa dân tập trung tuyên truyền tại những vùng chúng nó vừa tạm chiếm ? Tại sao Cộng sản phải lục soát, vào từng nhà ép buộc dân chúng tập trung, trói tay chân rồi dẫn theo để cản đường truy kích của QLVNCH cũng như để tránh bom, tránh đạn pháo của Không quân và Pháo Binh Việt-Mỹ ? Tại sao dân chúng các vùng quê không đứng lên theo bộ đội Cộng sản mà liều chết vượt lằn đạn để chạy qua các vùng tự do kiểm soát bởi QLVNCH ? Nói láo một cách trắng trợn thì chỉ bịp được những người Miền Bắc hoặc đối với ai chưa bao giờ nghe, biết và thấy những gì trong Miền Nam Tự Do. Trong số nầy cũng phải kể đến những người vừa lớn lên đã bị Cộng sản bưng bít nhồi sọ, nhuộm đỏ từ lúc vừa biết nói hoặc một số (tôi xin nhấn mạnh, một số) trí thức trốn quân dịch, chạy chọt ra nước ngoài du học rồi ăn phải bã Cộng sản đến ngày hôm nay vẫn chưa sáng mắt.  Trong tuyên truyền chạy tội cho tập đoàn Cộng sản, ông Bùi Tín đã che dù việc thảm sát năm Mậu Thân như sau :
Dưới áp lực phản công của VNCH,, bộ đội chính quy bắt buộc phải rút khỏi thành phố Huế sau mấy tuần lễ chiếm đóng. Để bảo toàn lực lượng, buộc lòng phải giết những người bị bắt theo để trút bớt gánh nặng !
Qua câu nói nầy chúng ta thấy được hai điểm quan trọng mà Cộng sản đã sảo quyệt bóp méo sự thật :
 Thứ nhất, Cộng sản đã thất bại hoàn toàn. Sau trên 3 tuần chiếm được Huế chúng đã bị QLVNCH và Đồng Minh đánh bại, ôm đầu máu chạy vô bưng. Trên đường đào tẩu chúng đã bắt dân theo để cản đường, cản pháo và cản máy bay oanh kích của QLVNCH và Đồng Minh, cuối cùng chúng đã giết tất cả tù dân theo lệnh của Quân Ủy Trung Ương.  Thứ hai, chứng minh một cách hùng hồn rằng không một người dân nào nổi dậy ủng hộ hoặc chạy theo Cộng sản trong biến cố Mậu Thân tại Huế. Chỉ có mấy tên đồ tể như HPNT-HPNP-NĐX với bọn đầu trâu mặt ngựa thi hành lệnh lùng bắt, thủ tiêu và sát hại dân lành, cuối cùng những tên nầy phải bám theo chân Cộng sản chạy thoát thân. Như vậy không thể gọi là Miền Nam đứng dậy ‘tổng khởi nghĩa’ theo tuyên truyền của cái ‘đỉnh cao trí tuệ’ mà Cộng sản Việt Nam thường vỗ ngực huênh hoang ! Viết đảo ngược sự việc trắng trợn như vậy rồi bắt dân chúng học tập thì lối tuyên truyền nầy chỉ tìm thấy độc nhất ở một chế độ rừng rú, nơi được mệnh danh là ‘cái nôi của nhân loại’ và ‘đỉnh cao trí tuệ của loài người’ mà thôi !!! Một điều tôi cần đưa ra đây để chứng minh vụ thảm sát thường dân vô tội là do lệnh của đảng Cộng sản. Một đảng viên huyện ủy Quận Phú Vang (Tỉnh Thừa Thiên) tên Hồ Ty, bí danh Sơn Lâm bị bắt và trong cuộc thẩm vấn, tên nầy đã khai rằng, việc thảm sát thủ tiêu tất cả dân lành vô tội bị dẫn đi trong dịp nầy là do lệnh của Quân Ủy Trị-Thiên-Huế. Còn một điểm quan trọng nữa, trong thời gian ở tù Cộng sản tại trại KàTum, một quản giáo trong lúc nổi nóng đã phun ra trước mặt tôi và anh em tù cãi tạo một câu đáng ghi vào lịch sử như sau :
‘Các anh may mắn được cách mạng khoan hồng tha tội chết, vào đây thì phải biết ăn năn, học tập tốt để sớm trở về sum họp với gia đình. Tôi nói cho các anh biết, nếu năm Mậu Thân chúng tôi thắng trận thì ba triệu Ngụy-Quân Ngụy-Quyền và gia đình các anh đã bị giết theo lệnh của Hồ Chủ Tịch !’
 
    Ngoài vấn đề quân sự nêu ờ phần 2, Cộng sản Hà Nội còn một thất bại nặng nề về phương diện chính trị đối với nhân dân Miền Nam và Quốc tế : Đó là Cộng sản đã lộ hẳn bộ mặt gian xảo, bịp bợm và âm mưu thôn tính Việt Nam Cộng Hòa. Thật vậy, Cộng sản đi đến đâu thì gây ra tang thương chết chóc đến đó. Sau biến cố Mậu Thân, người dân nào đã chứng kiến hành động giết người một cách thô bạo và dã man thì suốt đời của họ không bao giờ dám nghe cũng như không muốn ai nhắc đến hai tiếng ‘Cộng sản’ nữa !   Để kết luận, qua ‘những gì Cộng sản đã làm’, chúng ta có thái độ thế nào đối với trò bịp gọi là ‘Hòa Giải Hoà Hợp’ ? Tôi xin thưa như thế nầy : Là Người Việt da vàng máu đỏ, cùng một bọc trứng chui ra thì giận hờn nào cũng phải nguôi, căm thù nào cũng có thể xóa bỏ phần nào sau 33 năm chấm dứt chiến tranh. Nhưng Cộng sản trước mặt chúng kêu gọi quên đi quá khứ, xích lại gần nhau để xây dựng đất nước nhưng sau lưng chúng đã làm gì ? Và đây là hành động của Cộng sản Việt Nam đã làm, phải được ghi vào lịch sử tội ác : 
1. Cầu cạnh Mã Lai và Nam Dương đục xóa các bia tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên biển cả, như vậy chứng tỏ Cộng sản Hà Nội vẫn còn hận thù những người đi tìm tự do mặc dù họ đã chết từ ba chục năm nay. Các tượng bia tưởng niệm chỉ là những vật vô tri giác, nằm trên những quốc gia xa hàng ngàn số vẫn không thoát khỏi sự thù vặt của tập đoàn Cộng sản, thì đối với những người còn sống như chúng ta, ngụy quyền Cộng sản Hà Nội còn căm thù và tìm cách phá hoại đến mức độ nào !  
2. Đào xới, đập nát các nghĩa trang quân đội, nơi yên nghỉ của những người con thân yêu củaViệt Nam Cộng Hòa Tự Do là một hình thức đập vào con tim đang rướm máu của nhân dân Miền Nam, thì thử hỏi, còn gì để Cộng sản có thể nói chuyện tình cảm với người Việt Tự Do ! Chết là hết, nhưng đối với Cộng sản những người đã nằm xuống vẫn là kẻ thù, phải đào phải xới cho hả giận là một hành động man ri mọi rợ còn hơn cả loài súc vật.    
3. Đến giờ nầy Hà nội vẫn duy trì, tuyên truyền và khai thác rút tỉa tiền bạc trên những kỷ niệm đau buồn của QLVNCH và Đồng Minh cũng như của dân chúng Miền Nam. Hãy dẹp ngay những bảo tàng viện mà Cộng sản gọi là ‘Tội ác Mỹ-Ngụy’ đang trưng bày, bán vé cho dân chúng và du khách vào xem tại Hà Nội, Sài gòn cũng như vài thành phố khác. Đồng thời hãy bỏ hẳn những chương trình giáo dục nhồi sọ trẻ thơ gây căm thù với chế độ cũ qua sách báo và nhất là các tài liệu giáo khoa đang giảng dạy tại các trường mẫu giáo lên đến đại học. Một câu hỏi đặt ra cho Cộng sản Việt Nam, ‘Có chấm dứt được vấn đề vô liêm sĩ nầy không trước khi mở miệng ra đề nghị ‘xóa bỏ quá khứ’ ? 
4. Tết Mậu Thân 1968 già Hồ và bè lũ trung ương đảng Cộng sản tráo trở thỏa ước hưu chiến để kéo quân vào cướp nước giết hại hàng chục ngàn đồng bào vô tội bằng những cuộc thảm sát dã man, mọi rợ. Bây giờ đã 40 năm, Hà Nội vẫn ra lệnh cho cả nước ăn mừng chiến thắng, khác gì đảng Cộng sản cho tổ chức tiệc MÁU, khiêu khích nhân dân Miền Nam và Cộng đồng người Việt hải ngoại….thì đừng hòng đề cập đến chuyện ‘xóa bỏ quá khứ, bắt tay hòa giải hòa hợp dân tộc’, mặc dù tất cả chúng ta đều biết rằng đây chỉ là một trò bịp cố hữu của Cộng sản !
    Để kết thúc bài thuyết trình tôi xin gởi đến tất cả mọi người một câu nói đã đi vào lịch sử :
‘Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm’,
lời nói của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.  
Xin cám ơn Quý Vị.*

Xin cám ơn Giáo Sư Nguyễn Lý Tưởng và Nhà Văn Mường Giang đã bổ túc một vài chi tiết trong bài thuyết trình.

Publié le 03/03/2008 à 20:31
Par pctdn

Thổ Ngữ Của Tiếng Huế

                    

Kính thưa quý độc giả .

Tạp Chí Dân Văn được một đồng môn gởi cho bài viết „Thổ Ngữ của Tiếng Huế" của Phan Thịnh, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên vì chưa bao giờ được nghe các „thổ âm" này mặc dù có mấy người bạn thân người Huế 100%. Thông thường khi nói chuyện trao đổi với tôi, các người bạn này nói gì tôi cũng hiểu, nhưng thỉnh thoảng vô tình tôi được nghe đối đáp trong gia đình người bạn, thì quả thật, không hiểu được đến 70,80%...
Đây cũng là những nét đặc thù của một điạ phương, xin đươc gỏi đến Quý  Độc Giả.
Trân trọng,
Germany, 27.02.2008
Chủ Nhiệm TCDV,
Lý Trung Tín

 
Thổ Ngữ Của Tiếng Huế

      Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản tê mô răng rứa như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều . Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu .
Xin được đơn cử một câu rất Huế, một tâm sự kín đáo giữa hai o đang tuổi lấy chồng: "Tau noái với mi ri nì, en còn ở dôn, rứa mà bữa tê tề, en chộ tau phơi ló ngoài cươi, en kiêu tau vô, bồn tau lên chờn, cái ba . . . en đẩn . Mi quai chướng khôn ?" Sở dĩ tâm sự kín đáo vì đây là chuyện riêng của hai người, nói bằng thổ ngữ, nhưng ý nghĩa thì như vầy: "Tao nói với mày như vầy, ảnh còn ở rể, vậy mà hôm kia kìa, tao đang phơi lúa ngoài sân, ảnh kêu tao vào, bồng tao lên giường, rồi ảnh . . . Mày coi có kỳ không ?" .
Chữ đẩn, ngoài ý nghĩa một trong bốn cái nhất của đời người trên còn có nghĩa như ăn: "Đẩn cho bưa rồi đi nghể" . Ăn cho no rồi đi ngắm gái .
Đẩn cũng có nghĩa là đánh đòn: "Đẩn cho hắn một chặp!" (Đục cho hắn một hồi!) . Chữ đẩn còn được phong dao Huế ghi lại:
Được mùa thì chê cơm hẩm
Mất mùa thì đẩn cơm thiu
Xin được thêm một câu ngăn ngắn gần như rặt thổ ngữ của Huế mà, nếu không có . . . thông dịch viên gốc Huế hoặc Huế rặt, e rằng khó mà . . đã thông cho được:
"Thưa cụ mự, bọ tui vô rú rút mây về đươn trẹt, bọ tui chộ con cọt, rứa mà nỏ biết ra răng, con cọt lủi, lủi năng lắm, bọ tui mờng rứa thê ! Chừ mạ tui cúng con gà, cụ mự qua chút chò bui ." (Thưa cậu mợ, bố con vào rừng rút mây về đan rá (hoặc nia), bố con thấy con cọp, vậy mà chẳng biết sao; con cọp chạy trốn, chạy lẹ lắm; bố con mừng quá . Giờ mẹ con đang cúng con gà, cậu mợ qua chút xíu cho vui) Khó hiểu chưa ? !
Thổ ngữ ở Huế thì nhiều lắm và cũng lạ lắm, và vì tiêu đề của bài này là lan man về những thổ ngữ đó, nên xin được nhẩn nha tìm lại chút ít những gì đã mất và ôn lại những gì đang còn xài . Vì trang báo có hạn, không thể giải thích từng chữ một, nên trong bài này, xin được ghép thổ ngữ thành từng câu, từng nhóm thổ ngữ, vừa đỡ nhàm chán lại ra câu ra kéo, có đầu có đuôi hơn:
"Đồ cái mặt trỏm lơ mà đòi rượn đực!" (Thứ mặt mày hốc hác mà đòi hóng trai) Độc chưa ? O mô mà lỡ mang cái nhãn không cầu chứng tại tòa này chắc phải ở giá hoặc phải chọn kiếp . . . tha hương may ra mới có được tấm chồng . Chữ rượn gần đồng nghĩa với câu con ngựa Thượng Tứ, câu này cũng độc không kém . Thượng Tứ là tên gọi của cửa Đông Nam, bên trong cửa này có Viện Thượng Kỵ gồm hai vệ Khinh kỵ vệ và Phi kỵ vệ chuyên nuôi dạy ngựa cho triều đình Huế . Vì thế gọi ngựa Thượng Tứ có nghĩa bóng bảy xa xôi rằng con đó nó ngựa lắm, nó đĩ lắm, nhưng thâm thuý hơn nhiều
"Mệ cứ thộn ló vô lu, còn lưa, tui này lại !" (Bà cứ dồn lúa vô khạp (cho đầy), còn dư ra, con mua lại) . Chữ lưa cũng còn có nghĩa là còn đó như trong hai câu trong bài ca dao Huế:
Cây đa bến cộ (cũ) còn lưa (còn đó)
Con đò đã khác năm xưa tê rồi
Này lại (mua lại); tiếng này thường chỉ dùng nơi xóm giềng, thân cận; tương đương với chữ nhường lại, chia lại, mua lại . Chứ không dùng ở chợ búa hoặc nơi mua bán um sùm
Đập chắc lỗ đầu, vại máu! (Đánh nhau bể đầu, toé máu!)
Thương bọ mạ để mô ? Để côi trốt! Chắc chúng ta cũng thường hay hỏi lũ con lúc chúng vừa tập nói, vừa biết tỏ tình thương đối với cha mẹ, câu này có nghĩa: "Thương bố mẹ để đâu ? Để trên đầu!" Rồi đưa ngón tay chỉ chỉ, miệng cười cười, nghe hoài không biết chán
Tra trắn rứa mà còn ở lỗ! (Chững chạc, già đầu vậy mà còn cởi truồng) . Ở lỗ cũng xuất hiện trong câu phương ngôn "ăn lông ở lỗ" hoặc "con gái Nam Phổ, ở lỗ trèo cau!"
Lên côi độn mà coi (Lên trên đồi mà xem .) Chữ coi về sau này đã phổ biến đến nhiều địa phương khác .
Mự đừng có làm đày! (Mợ đừng có lắm lời, thày lay) . Riêng chữ cụ mự thường là dùng cho cậu mợ . Người Huế ít dùng chữ cụ để chỉ người già vì đã có chữ ôn hay ông . Điển hình như cụ Phan Bội Châu với chuỗi ngày "an trí " ở Huế, dân Huế đã có tên gọi ông già Bến Ngự, hoặc trong ca dao Huế, khi nói đến cụ Phan:
Chiều chiều ông Ngự ra câu
Cái ve cái chén cái bầu sau lưng
Chộ chưa ? Nỏ chộ ! (Thấy chưa ? Không thấy !) Nỏ là lối phủ nhận gọn gàng pha chút giận hờn, chanh cốm như chả biết, chả ăn, chả thèm vào ! Hắn mô rồi ? Nỏ biết ! Chữ nỏ biết ở đây pha chút, chút xíu thôi sự phủi tay về cái chuyện hắn đang ở đâu ! Tục ngữ Huế: Có vỏ mà nỏ có ruột .
Khóc lảy đảy, không biết ốt dột ! (Khóc ngon khóc lành, không biết xấu hổ!) .
En dòm tui, tui dị òm ! (Anh ấy nhìn tôi, tôi thẹn quá !) Chữ òm người Huế vẫn thường dùng để bổ túc cho cái phủ định của mình: Ngon không ? Dở òm !
O nớ răng mà không biết hổ ngươi ! (Cô đó sao mà không biết mắc cỡ !) Hổ ngươi cũng là tên của cây trinh nữ, cây mắc cỡ . Cũng như xấu hổ, thẹn, mắc cỡ thì ốt dột, dị và hổ ngươi có nghĩa khác nhau tuy chút ít nhưng tinh tế, nhẹ nhàng
Chiều hắn cho gắt, hắn được lờn !: Chiều nó cho lắm vào, nó làm tới . Mời ôn mệ thời cơm: Mời ông bà dùng cơm .
Mệ tra rồi mệ chướng: Bà ấy già nên sinh tật . Chữ chướng, người Huế cũng thường dùng để chỉ mấy đấng nhóc tì khóc nhè, bướng bỉnh hoặc các vị có lối nói, cách hành xử ngang như cua .
Ăn bụ cua cho hết đái mế: Ăn vú cua cho hết đái dầm . Chữ bụ cũng dành cho người và các loài có vú khác . Bụ mạ là vú mẹ, bọp bụ là bóp .
Bữa ni răng tau buồn chi lạ, buồn dễ sợ luôn ! (Sao hôm nay tao buồn quá, buồn quá trời luôn !) . Dễ sợ, với người Huế không đơn thuần ở nghĩa thấy mà ghê ! hoặc khủng khiếp quá !, mà còn có nghĩa, thí dụ: Con nớ đẹp dễ sợ !: Con bé đó đẹp quá trời !
Răng mà cú tráu rứa tê ?: Sao mà cộc cằn quá vậy ? Chữ cú tráu nếu phát âm đúng với giọng Huế thì nghe nặng hơn chữ cộc cằn nhiều, có lẽ phải gom thêm mấy chữ như thô lỗ, vũ phu thì mới lột tả được hết nghĩa .
Huế nói trại
Nói trại là nói sai giọng, không đúng âm theo giọng viết, nói trại đôi khi cũng dùng trong trường hợp "nói khác đi, nói cách khác" . Cách nói bị biến âm này rất phổ thông ở Huế, nhất là dân cư vùng biển . Nói trại làm cho âm thanh nặng hơn, khó hiểu hơn .
Con tâu tắng ăn ngoài bụi te tức là con trâu trắng ăn ngoài bụi tre . Tời tong tẻo, nước tong veo: Trời trong trẻo, nước trong veo .
Hầu hết những từ bắt đầu bằng "nh" đều được người Huế nói trại thành "gi": già (nhà) . Giớ già giớ vợ ở già: Nhớ nhà nhớ (luôn) vợ ở nhà!
Những từ bắt đầu bằng "s" thì nói trại ra thành "th": Ăn thung mặc thướng: Ăn sung mặc sướng hoặc Thầy gòn là Sài gòn, hoặc nữa: Noái năng thòng phẳng: nói cho sòng phẳng, rõ ràng . Lối phát âm của người Huế không xác định được âm cuối là "n" hay "ng": Con thằng lằng chép miệng thở thang!: Con thằn lằn chép miệng thở than!
Những chữ có âm "o" thường nói trại ra "oa": Xa voài voại, noái khôn tới, với khôn được, ngó khôn chộ: Xa vòi vọi, nói không tới, với không được, nhìn không thấy! Hoặc nữa: Đi coai boái, thầy boái noái đi coai cái voài voai: Đi coi bói, thầy bói nói đi coi cái vòi voi.
Những chữ có âm "ô", người Huế thường nói trại thành âm "u": Thúi trong thúi ra: Thối từ trong ra ngoài. Túi lửa tắt đèn: Tối lửa tắt đèn.
Nậy rồi mà mũi rãi thò lò !: Lớn đầu mà mũi rãi lòng thòng ! Chữ thò lò cũng đã góp mặt trong ca dao Huế:
Học trò thò lò mũi xanh
Cầm cái bánh đúc chạy quanh nhà thầy !
Vô rú mà đốn săng: Vào rừng mà đẵn gỗ . Săng cũng đã góp mặt trong mấy câu hò giã gạo với lối đối đáp rất "văn hóa" của Huế:
Bên nữ:
Lẻ củi săng chẻ ra văng vỏ
Bỏ vô lửa đỏ than lại thành than
Trai nam nhân chàng mà đối đặng
Thiếp xin kết nghĩa tào khang trọn đời
Nghĩa: Cây củi gỗ chẻ ra văng (Văn) vỏ (Võ), thảy vô lửa thì thành (Thành) than (Thang) . Cái kẹt là ý lại thâm hậu, cao xa hơn nhiều: Văn, Võ Thành, Thang là những vị vua thời Tam Đại, Tây Châu bên Tàu .
Bên Nam:
Trâu ăn giữa vạc ló lỗ
Đã ngụy chưa tề !
Nam nhân chàng đã đối đặng
Thiếp đã chịu theo chàng hay chưa ?
Nghĩa: Con trâu (Trâu) ăn giữa vạt lúa trổ (Lỗ), sao kỳ quá vậy ? Ý ư, cũng điển tích như ai: Trâu, Lỗ, Ngụy Tề là bốn nước thời Xuân thu Chiến Quốc cũng ở bên Tàu luôn . Còn hai người có "tào khang" với nhau được hay không là chuyện . . . của họ
En trên rầm thượng bổ xuống, nằm n_ đơ cán cuốc, phải địu đi nhà thương !: Anh ấy té trên rầm thượng té xuống, nằm cứng như cán cuốc, phải bồng, cõng đi nhà thương ! Đến đây thì kẻ hèn này hơi kẹt . Rầm thượng là gác lửng, hay kho chứa bên dưới mái nhà ? Ở Huế, rầm thượng không phải là chỗ ngủ nghỉ mà là nơi chứa những đồ gia dụng đáng giá nhưng phải cỡ nhỏ, vì không có lối lên . Muốn lên rầm thượng, phải bắc thang; thân phụ tôi đã dùng rầm thượng để cất giữ những đồ cổ vừa phải, không qúy lắm . Còn nếu qúy nữa thì bỏ vào rương xe, một thứ tủ thấp đóng bằng gỗ thật dày, có nắp đậy, có luôn 4 bánh xe để đẩy vì khiêng không nổi, nặng quá mà ! Mặt bằng của rương xe là cái đi-văng, tối tối cứ trải chiếu nằm ngủ trên đó là khỏi lo trộm đạo
Nước mắt chặm hoài không khô, răng khổ ri nì trời !: Nước mắt lau, thấm hoài không khô, sao khổ vậy nè trời ! Chữ chặm cũng đã lãng đãng trong mấy câu hò giã gạo, mà vì não nùng ai oán quá, nghe hò xong e phải . . bỏ chày luôn:
Hai hàng nước mắt như mưa
Cái khăn lau không ráo
Cái áo chặm không khô
Công anh đổ xuống ao hồ
Quì thưa bẩm dạ thuở mô đến chừ !
Mặt mày chạu bạu, ai chịu cho thấu !: Mặt mày một . . đống, ai chịu cho nổi ! Chữ thấu cũng có nghĩa là tới: Kêu trời không thấu: Kêu không tới trời; Vô thấu trong Thầy gòn: Vô tuốt trong Sài gòn .
Mả cha cái thằng vô hậu: Tiên sư cái thằng đoảng
Ăn trầu cơi thiếc: Ăn trầu (để) trong hộp, quả bằng thiếc . Cái cơi thiếc cũng đã đi vào tục ngữ Huế: Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc .
"Mả cha mi" là tiếng chửi, lời nhiếc mắng rất thông dụng ở Huế, đồng nghĩa với "mồ cha mày" . Lối chửi này ít thông dụng ở những địa phương khác .
Đi xe hay đi chưn xuống rứa ?: Đi xe hay đi bộ xuống đây vậy ?
Túi thùi thui, có chộ chi mô !: Tối quá, không thấy gì hết !
Rạt gáo rồi mà còn làm le làm gió !: Cạn túi rồi mà còn làm bảnh, làm sang !
Ăn đoại cơm hến, uống đoại nước chè: Ăn tô cơm hến, uống bát nước chè (xanh) . Tục ngữ Huế: Ăn lưng đoại, làm đoại lưng (làm muốn gãy lưng !) .
Cơm hến, chẳng có chi cầu kỳ, nhưng nhiều mùi vị với lưng bát cơm nguội, rau sống, thân chuối non, rau mùi xắt nhuyễn, nước luộc hến chan vô, cho chút xíu ruốc, bỏ chút ít hến xào, thêm vài trái ớt, đúng với cái ít ỏi của Huế .
Bữa ni đi kéo ghế: Hôm nay đi ăn nhà hàng . Người Huế, nhất là ở thôn quê, thường dọn cơm trên phản, trên tấm ngựa . Không dọn trên bàn nên khỏi có cái vụ kéo cái ghế mà ngồi vào bàn . Vì thế, mỗi khi được dịp đi ăn ở quán, ở nhà hàng thì gọi là đi kéo ghế .
Huế làm đày làm láo, Huế nói chữ
Vâng, người Huế, nhất là mấy o, mấy mệ thì ưa ăn nói văn hoa chữ nghĩa, ưa đa sự đa lự, ưa . . . làm đày làm láo, tức ưa xảnh xẹ, ưa nói lý nói sự, nói dông nói dài . Thêm vào đó, phải nói cho hay, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan thì "tụng" mới phê ! Cái phong cách noái lặp đi lặp lại của người Huế vừa như là một cách nhấn mạnh, vừa có vẻ dạy đời lại vừa mang nhiều ý nghĩa khác, xa xôi hơn, thâm thúy hơn nữa.
Để mô tả cái sự lanh chanh lắm, xí xọn quá, lu bu lắm . Người Huế ít khi dùng chữ lắm hay chữ quá mà dùng điệp ngữ: Cái con nớ, lanh cha lanh chanh ! Mấy mụ o giọn (nhọn) mồm tức mấy bà chị chồng mỏng mép của Huế vẫn đôi khi chê em dâu: Răng mà hắn vô phép vô tắc rứa hè !: Sao mà nó vô phép quá vậy!
Về màu sắc, người Huế thường có lối nói điệp ngữ để nhấn mạnh: xanh lè lè, đỏ lòm lòm, đen thùi thui, vàng khè khè, tím giắt giắt (tím ngắt) .
Bởi, cà rịch cà tang rứa mà đoài làm giôn !: Vậy đó, tà tà, lè phè vậy mà đòi làm rể ! Còn nữa, để than trách ông trời sao mưa lâu quá, mấy o ngồi chỏ hỏ trong nhà dòm ra, chép miệng than dài than ngắn: Mưa chi mưa mưa thúi đất thúi đai !.
Một bà mẹ tụng cô con gái, một bà chị cả mô-ran cô em thứ mà nghe cứ như là đang đọc một bài đồng giao với vần điệu, trầm bổng cũng là một trong những sinh hoạt dưới mái gia đình: Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa . Bọ mạ thì quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi mình . Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan !
Cái thông điệp cho thằng em trai thì: Năm tể năm năm tê, mi còn lẩm đa lẩm đẩm, mũi rãi thò lò, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép . Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được ?!
Mấy ôn, khi giáo huấn con cháu, vẫn thường trích dẫn ca dao, tục ngữ để đệm thêm cho ý tưởng của mình: Đó, mi thấy đó . Ai ơi chớ phụ đèn chai, thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn . Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; thì mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ !
-------------
Xa Huế đã lâu lắm rồi, từ ngày vừa biết tập tành đi nghễ mấy o Đồng Khánh, vừa ngấp nga ngấp nghé muốn vào (nhưng sợ bị chưởi) nhấm nháp thử ly cà phê đen sánh của cà phê Phấn, nơi mà các anh hùng trong thiên hạ vẫn tấp nập ra vào; và cũng vừa biết để dành tiền để mua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn tại nhà sách Ưng Hạ . Phong cách Huế không ít thì nhiều cũng đã phôi pha, thổ ngữ Huế cũng không mấy khi có dịp để dùng lại cho đỡ giớ, cho khỏi quên; thành ra cũng xao lãng đi nhiều .
Trong cái xao lãng bỗng có ý nghĩ muốn tìm lại, noái lại tiếng noái của thời cũ rích cũ rang nhưng đằm thắm đó . Cho nên chỉ xin được ghi lại đây những gì còn nhớ mài mại, để gọi là khơi lại chút âm thanh của những ngày xưa cũ .

Phan Thịnh