|
Publié le 27/07/2007 à 08:44
Par phusi-1
Nhạt Nắng Sáng tác: Xuân Lôi Ca sĩ: Thanh Thúy | 1. Tôi thương miền quê . . . nhớ hoàng hôn trên đất xưa Nghe . . . tiếng tiêu mơ màng chiều hè Tôi . . . yêu người xưa . . . áo nâu hương duyên thật thà Đời . . . mặn nồng hồng lên đôi má
2. Nhưng thôi giờ đây . . . nắng tàn phai trên khóm tre Bao . . . áng mây bên trời mịt mờ Thương . . . ai nhạt môi Mắt sâu lắng như đêm dài Đời . . . cần lao khoác lên mình trai
Điệp khúc:
Hoàng . . . hôn phai nắng Chân . . . trời xa vắng Còn . . . đâu tiếng tiêu buông
Chiều . . . tà mênh mang Thoáng . . . bên đồi nương Có . . . tiếng ai thở than
3. Tôi thương làng xưa . . . mái nghèo không manh liếp che Tia . . . nắng phai mau ngoài đầu hè Tôi . . . thương miền quê Khóm tre . . . xác xơ tiêu điều Người . . . buồn u uất ôm tình sâu
Download
 |
Publié le 26/07/2007 à 15:02
Par phusi-1
| Những Bước Chân Âm Thầm Sáng tác: Y Vân Thơ: Kim Tuấn Bolero http://www.teengirl09.homestead.com/files/
 nhungbuocchanamtham.mp3 Click
Từng bước từng bước thầm Hoa vòng rừng tuyết trắng Rặng thông già lặng câm Em yêu vì xa vắng? Cho trời mây ướp buồn
Từng bước từng bước thầm Mưa giữ mùa tháng năm Tay đan sầu kỷ niệm Gió rét về lạnh căm Từng bước chân âm thầm...
Anh yêu tình nở muộn Chiều tím màu mến thương Mắt biếc sầu lắng đọng Đèn thắp mờ bóng đêm Từng bước từng bước thầm
Khi người yêu không đến Tuổi xuân buồn lặng căm Đi trong chiều mưa hoang Đời biết ai thương mình .....
|
Avec toi Celine Dion Download here

Descends de ton fil toi l'artiste heureux toi le doux pierrot C'est tout un autre monde que tu vois à tout regarder d'en haut Non je ne suis pas la princesse en bleu de ton bois dormant Tu le vois je suis bien réelle et je veux de toi pour amant
Avec toi Je veux caresser la vie Je veux dévorer les plus beaux fruits Je veux pleurer aussi Avec toi Je veux partager mes nuits Je veux embrasser tes ciels de lit Jusqu'à mon dernier cri
Tu rêves debout et tu restes pur au milieu des loups C'est pour ça que je t'aime malgré moi et tu m'aimes malgré tout Non je ne suis pas la sagesse même et mes sentiments Ne sont pas faits que d'innocence Ils sont faits de chair et de sang
Avec toi Je veux caresser la vie Je veux dévorer les plus beaux fruits Je veux pleurer aussi Avec toi Je veux partager mes nuits Je veux embrasser tes ciels de lit Jusqu'à mon dernier cri
Au nom de l'amour je voudrais te voir faire des folies Renoncer à toi-même et quelques fois bousculer l'ordre de ta vie Mais je t'aime trop pour te perdre un jour alors je te dis Que si toi tu veux rester sage, je serai sage moi aussi Que si toi tu veux rester sage, je serai sage moi aussi
  Người Già Có Nên Về Sống Tại Việt Nam Không ?
Đây là câu hỏi mà linh mục Hồ Sĩ Mậu đặt ra cho cử tọa trong Thánh lễ ngày 6/6/2007 vừa qua. Và có nhiều người trả lời, nhưng tựu trung không ai muốn về sống luôn ở Việt Nam. Tại sao? 1. Tại sao lại muốn về Việt Nam?Đã là người Việt Nam thì ai chẳng muốn về sống trên quê cha đất tổ, để được gần mộ phần của tổ tiên, ông bà, cha mẹ? Nhất là được nói tiếng Việt mà không phải dùng một ngôn ngữ khác, đó là tiếng Anh mà có nhiều người già không hiểu và không biết nói. Sống ở Việt Nam mà nếu có tiền thì có thể thuê người hầu hạ, nấu ăn, dọn dẹp và săn sóc cho mình. Đời sống ở Việt Nam thì tương đối đơn giản, thoải mái. Chi phí sống ở Việt Nam cũng thấp hơn sống ở Mỹ. Các món ăn hợp với khẩu vị, lại tươi tốt, giá cả rẻ hơn ở Mỹ. Nói tóm lại, nếu được về sống ở Việt Nam để gần gũi thân nhân, gia đình và quê hương thì còn gì bằng? Thế mà vấn đề không đơn giản như vậy. 2. Một số người muốn về Việt Nam vì những lý do sau:Có một số ít người về Việt Nam để xây biệt thự để về hưởng thụ. Ở Mỹ, ai cũng phải làm việc quần quật như trâu bò cả ngày, không ai biết mình là ai. Nay về Việt Nam được người ta trọng vọng, nể vì bởi cái “mác” Việt kiều thì thích chí. Họ về Việt Nam để tự ái được thỏa mãn, cái tôi được vỗ về. Một số khác để kiếm bồ bịch và hưởng lạc thú xác thịt. Đó là những sự thật trơ trẽn mà ai ai cũng biết. Cũng có những kẻ chuyên lường gạt tiền bạc của người khác rồi đem tiền về Việt Nam đầu tư đất đai, nhà cửa và sống hưởng thụ và truỵ lạc trên mồ hôi, nước mắt và đồng tiền khó nhọc của kẻ khác. Khi chết, họ sẽ đối diện với những tội ác của họ. Gia đình tôi và một số bạn bè tôi là một trong những nạn nhân của hạng người này. 3. Những trường hợp thực tế có thật:-Một vị linh mục trên 90 tuổi đã suy xét rất kỹ về việc nên về Việt Nam sống và chết hay nên ở lại Mỹ. Kết cuộc, ngài chọn xin vào sống dưỡng lão trong Dòng Đồng Công ở Mỹ mà không về sống ở Việt Nam. -Nhiều bà cụ già sống độc thân, muốn về Việt Nam ở trong các tu viện và trả tiền chi phí ăn ở cho các nữ tu, để sớm hôm được dự Thánh lễ. Lúc sống hy vọng có các nữ tu đùm bọc, lúc hấp hối hy vọng có người lo cho phần rỗi linh hồn, nhưng rốt cuộc, các bà không thể về sống ở Việt Nam được, vì một số nữ tu không nhận nuôi các bà, dù cho các bà có trả tiền đi nữa. -Khi gia đình tôi về thăm Việt Nam, mẹ chúng tôi có ý định về dưỡng già ở Việt Nam nên chúng tôi đi tìm một dòng tu nữ để xin trả tiền cho mẹ tôi được về Việt Nam sống trong tu viện, nhưng bà bề trên nói rằng họ không thể cho bà ở trong tu viện của họ vì Dòng họ không có dòng Ba (dành cho giáo dân), và vì họ sợ sống chung đụng mất lòng. -Còn một dòng tu khác thì cho giá cả là 100USD tiền thuê phòng, chưa kể tiền cơm nước và công thuê người giúp việc để săn sóc cho bà. Căn phòng quá nhỏ và thiếu tiện nghi tối thiểu. Đi thăm Việt Nam lần ấy về, mẹ tôi bỏ ngay ý định: ”Ta về ta tắm ao ta” ngay. Thực tế nói nhiều hơn là trí tưởng tượng! -Một lần khác, chúng tôi lại đưa mẹ tôi ra Huế. Bà lại có ý định ở lại trong một dòng tu nữ ở Huế. Lần ấy, các nữ tu cho gia đình chúng tôi ở trong những phòng chật chội và nóng bức, thiếu những tiện nghi vệ sinh tối thiểu. Một phòng có đến 4, 5 chiếc giường lát gỗ. Nắng rọi vào phòng nóng như thiêu như đốt, mà phòng không có lấy một cái quạt máy. Mẹ tôi nhìn thấy thực tế mà tỉnh mộng. Gia đình chúng tôi vội vàng thuê khách sạn ở ngay, và không ai đề cập gì thêm đến chuyện về sống ở Việt Nam nữa. -Có hai vợ chồng cụ già ở Úc với con cháu nhưng hai cụ nằng nặc đòi về Việt Nam sinh sống với người con nuôi. Mặc dù các con của hai cụ ngăn cản chuyện hai cụ về lại Việt Nam, nhưng không giữ hai cụ được. Cuối cùng, họ gửi tiền về Việt Nam cho người con nuôi chăm sóc cho hai cụ, nhưng người con nuôi ở Việt Nam đã đối xử rất tồi tệ với hai cụ. Thậm chí, họ lấy dây cột trói hai cụ lại, rồi chụp hình gửi sang cho các con ruột của hai cụ để đòi tiền thêm. Các con ruột của hai cụ nóng ruột, đi về lo cho cha mẹ trở lại Úc, nhưng giấy tờ di trú đã hết hạn nên hai cụ không thể trở lại Úc được. Cụ ông buồn và chết, còn cụ bà thì đau khổ vì đã chọn lầm và lựa sai. Đây là một bài học cho những người già không chịu an phận ở với con cháu. -Có hai cụ cố là cha mẹ của một vị linh mục. Hai cụ cố chỉ muốn về lại Việt Nam. Khi ra phi trường, hai cụ “cay cú” xé hết giấy tờ di trú vì không còn muốn ở Mỹ nữa. Về Việt Nam được khoảng 6 tháng, hai cụ chịu không được, muốn trở lại Mỹ thì không còn giấy tờ di trú nữa. Thành ra tội nghiệp cho người con linh mục phải lặn lội về lại Việt Nam chạy chọt giấy tờ để đưa cha mẹ trở về Mỹ. 4. Các lý do mà Việt Kiều không muốn về sống luôn ở Việt Nam:Có nhiều lý do mà người Việt Kiều không muốn về sống luôn ở Việt Nam. Sau đây chỉ là một số lý do tại sao người ta không về sống ở Việt Nam: -Điều kiện an ninh chưa tốt, còn có những sự khó khăn và không hoàn toàn tự do. Nay người này đến kiếm chuyện, mai người kia đến khám xét. -Khi hậu Việt Nam quá khắc nghiệt, nắng và nóng nực hơn 30 năm về trước nhiều. Đã nóng lại còn ẩm ướt, làm cho con người không được thoải mái. -Ô nhiễm môi sinh: đường đi không tốt, ổ gà, bụi bặm, đầy khói xe, đông người chen chúc, ồn ào, kẹt xe… Ở Sàigòn, không có một con đường nào là yên tĩnh và nên thơ để hít thở chút không khí trong lành. Như vậy con người dễ bị theo đường hô hấp, bịnh phổi, bịnh lao. -Cách nấu ăn và thức uống không hợp vệ sinh. Đã có trường hợp rượu đế có pha thuốc rầy làm cho nhiều người chết. Rồi nạn bánh phở có chất độc cho bánh dai, làm người ăn chết oan. Nguồn nước uống không trong lành. Người ở Mỹ về thường bị đau bụng tiêu chảy, và bị ngứa ngáy khắp cơ thể. -Cách lái xe của các tài xế quá ẩu, không có sự an toàn. Họ đã nhiều lần lái xe lấn áp những người lái xe gắn máy cho đến khi người ta té ngã hay chết. Trong thân nhân tôi, có trường hợp một phụ nữ có thai bị chết oan cả hai mẹ con vì bị tái xế xe hàng ép té bể đầu. Bản thân chúng tôi thuê xe đi mà tài xế suýt đụng xe mấy lần. Tại sao mình lại dại dột giao mạng sống mình cho những kẻ mình không biết gì về họ? -Bước chân ra là tốn đủ mọi thứ tiền: Tiền di chuyển, tiền xe taxi, tiền tiêu, tiền tặng, và nhiều chi phí khác. Trong khi ở Mỹ, ngoài hai bữa cơm, không tốn tiền xe cộ, và không tốn những món tiền không cần thiết khác. -Nạn hối lộ và đút lót làm cho hệ thống hành chánh thối nát và chậm chạp. -Điều kiện chữa trị y tế chắc chắn là thua xa Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có hệ thống y tế tiến bộ nhất thế giới. Khi về già thì hay sinh ra nhiều bịnh. Tại sao lại chọn cái xấu mà chê cái tốt, khi càng già càng mang nhiều bịnh? Đó là chưa kể khi mình bị bịnh nặng, lại mang danh là Việt kiều, liệu các nhân viên y tế có hết lòng chăm lo cho Việt kiều hay là để cho mình chết cho mau? -Lối sống, lối suy nghĩ và mọi sinh hoạt khác biệt giữa hai nền văn hoá, khiến cho người Việt kiều đôi lúc có cảm tưởng mình là kẻ xa lạ trên chính quê hương của mình. -Điều quan trọng nhất là: những người già ở Mỹ có tiền trợ cấp xã hội, một tháng cũng gần 900USD. Nếu các ông bà này ra khỏi Mỹ trên 29 ngày là bị chính quyền cắt viện trợ ngay. Vậy khi về ở luôn ở Việt Nam là xem như quý vị không còn tiền trợ cấp xã hội nữa. Liệu có ai hầu hạ và chăm sóc không công cho một người già không tiền hay không? -Quý vị thử đến thăm thân nhân hay ngay cả các tu sĩ mà không tặng họ tiền, thì sẽ thấy ngay phản ứng của họ. Thử tưởng tượng mình đem thân xác bịnh tật về Việt Nam mà không có tiền, liệu còn tình nghĩa gì không? 5. Giải pháp tốt nhất:Nếu quý vị không muốn sống với các con cháu vì họ đi làm, đi học suốt ngày, không có giờ để săn sóc cho quý vị, thì xin hãy vào trong các viện dưỡng lão có đông người Việt Nam ở California. Chúng tôi đã từng đi thăm nhiều viện dưỡng lão. Tại đó có Thánh lễ hàng tuần và có các Thừa Tác Viên Thánh Thể kiệu Mình Thánh Chúa đến cho quý vị hàng ngày. -Nếu các cụ theo đạo Phật thì cũng có các vị thượng toạ đến tụng kinh và cầu siêu cho các cụ còn sống cũng như đã qua đời. -Ngoài ra còn có những hội đoàn đến thăm viếng, an ủi, và giúp vui cho quý vị. Các cụ thường tụ tập đọc kinh và cầu nguyện chung. Các con cháu thường đến thăm viếng các cụ bất cứ lúc nào. Chúng tôi đã phỏng vấn một số cụ già, cả nam lẫn nữ. Họ rất vui khi ở trong các viện dưỡng lão này. 6. Kết luận:Vì thế, nhiều người kết luận rằng: Họ chỉ về thăm quê hương và giúp đỡ người nghèo và tàn tật, chứ không về ở luôn tại Việt Nam. Những ông bà cụ có con cháu còn ở lại Việt Nam thì họ về thăm cho đỡ nhớ, rồi sau đó, họ cũng trở lại Hoa Kỳ vì nhiều lý do tế nhị khác mà không thể nói ra hết được. Tốt hơn hết, mình nên sống ở Hoa Kỳ. Con cháu mình ở đâu thi gia đình mình ở đấy. Nhà mình ở đâu thì tổ ấm ở nơi đấy. Có thương dân nghèo, thương quê hương thì về thăm và giúp đỡ. Kim Hà 12/6/07
Publié le 25/07/2007 à 19:33
Par phusi-1
http://www.teengirl09.homestead.com/files/
 nhungbuocchanamtham.mp3 Click vao hinh

THOÁNG ĐÂU ĐÂY ÊM AÍ TIẾNG CHUÔNG CHIỀU


Vĩnh biệt nữ sĩ Mộng Cầm Hà Đình Nguyên
 | | Bà Mộng Cầm lúc sinh thời |
| Trong khoảng nửa thế kỷ vừa qua, chuyện tình Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm vẫn luôn là đề tài làm tốn hao nhiều giấy mực của các nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ. Hàn thi sĩ đã từ trần vào ngày 11.11.1940, còn Mộng Cầm từ đó đến nay vẫn sống âm thầm ở TP Phan Thiết (Bình Thuận), và vừa đi vào cõi vĩnh hằng lúc 21 giờ 30 ngày 23.7.2007... Ở bài viết này, vì tôn trọng chuyện quá khứ, riêng tư của bà nên chúng tôi không ghi tên thật, chỉ lược lại những chi tiết chung quanh "chuyện tình" Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm mà nhiều sách vở, bài báo đã đề cập. Mộng Cầm sinh ngày 17.7.1917. Theo các tài liệu của Nguyễn Bá Tín (em ruột Hàn Mặc Tử), của nhà văn Quách Tấn thì Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm quen biết nhau qua thơ văn. Đó là khoảng năm 1934, khi Hàn Mặc Tử rời Quy Nhơn vào Sài Gòn phụ trách trang văn chương cho tờ Trong khuê phòng. Thỉnh thoảng, Hàn Mặc Tử có nhận được những bài thơ ký tên là Mộng Cầm từ Phan Thiết gửi vào. Thư đi tin lại, rồi chàng ra Phan Thiết tìm nàng. Hóa ra, Mộng Cầm là cháu gọi thi sĩ Bích Khê bằng cậu, nhân vậy mà sau này mới có tình bạn thắm thiết giữa Bích Khê và Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử mất vào cuối năm 1940 thì đến năm 1942, nhà văn Trần Thanh Mại ra cuốn sách đầu tiên giới thiệu thân thế, sự nghiệp của Hàn Mặc Tử. Trong cuốn sách gây xôn xao dư luận lúc đó, Trần Thanh Mại đã dành hẳn một chương để nói về Mộng Cầm: Đôi trai tài gái sắc yêu nhau. Họ hay gặp nhau ở Quy Nhơn và Phan Thiết, hay đưa nhau đi chơi, thăm thú các danh lam thắng cảnh, nhất là Lầu Ông Hoàng... Đùng một cái, Hàn thi sĩ phát hiện mình mắc bệnh phong, chàng tuyệt giao với bằng hữu, kể cả với Mộng Cầm. Dù đã tuyệt giao với những người thân thiết nhất nhưng hình ảnh của Mộng Cầm vẫn luôn ám ảnh Hàn thi sĩ. Nỗi đau đớn triền miên trên thể xác cộng với nỗi đau tinh thần luôn giày vò thiên tài bất hạnh, từ đó thi sĩ bật ra những câu thơ thống thiết: "Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng/Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang/Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết/Ơi! Trời ơi! Là Phan Thiết! Phan Thiết/Mà tang thương còn lại mảnh sao rơi/Ta đến nơi, Nàng ấy vắng lâu rồi/Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ/Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ/Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng... Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!/Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu/Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư". (Phan Thiết! Phan Thiết) hoặc "...Nghe gió là ôm ngang với gió/Tưởng chừng như trong đó có hương/Của người mình nhớ mình thương/Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì…" (Muôn năm sầu thảm)...
 Mộng Cầm thời trẻ
Hơn 20 năm sau ngày Hàn Mặc Tử mất, vào năm 1961, nhà thơ Nguyễn Vỹ (chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Phổ thông) đã cử nhà báo Châu Mộng Kỳ tìm gặp Mộng Cầm để phỏng vấn về mối tình Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm. Thực ra từ khi có gia đình riêng, Mộng Cầm sống ẩn dật và luôn từ chối gặp gỡ các nhà báo. Sở dĩ Châu Mộng Kỳ thực hiện được cuộc phỏng vấn là do ông vốn là thầy dạy học của một người con trong gia đình Mộng Cầm. Trong bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Phổ thông số 63, ra ngày 15.8.1961, bà Mộng Cầm đã cho rằng chuyện tình cảm giữa mình và Hàn Mặc Tử "chỉ là mối tình văn thơ, còn xác thịt thì hoàn toàn không nghĩ tới. Cha mẹ đã cho giao thiệp tự do, chúng tôi phải giữ gìn cho xứng đáng...". Bà xác nhận có đi chơi ở Lầu Ông Hoàng với Hàn Mặc Tử rồi gặp mưa, hai người vào nấp mưa ở một nghĩa địa nhưng không cho rằng do vậy mà Hàn mắc bệnh phong, bởi cả hai người cùng nấp mưa một chỗ tại sao bà chẳng hề hấn gì? Bà kể tiếp: "Về đến Phan Thiết, tôi đưa Hàn Mặc Tử đến trường Hồng Đức, cậu Bích Khê tôi dạy ở đó. Ở đó suốt buổi sáng chủ nhật, chiều anh đáp chuyến tàu suốt về Sài Gòn. Sau ngày ấy, cậu tôi bảo tôi ra dạy ở trường Hồng Đức, do vậy mà Hàn Mặc Tử ra vào thường. Thứ bảy nào anh cũng có mặt ở Phan Thiết, chiều chủ nhật lại vào Sài Gòn. Trong một dịp thứ bảy đi chơi Lầu Ông Hoàng, anh đã thổ lộ mối tình với tôi. Tôi có trả lời anh: "Chắc là không thể đi đến chỗ trăm năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng". Anh hỏi lý do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau. Tuy vậy chúng tôi vẫn giao thiệp thân mật một hai năm như thế. Trong thời gian này, có nhiều lần Hàn Mặc Tử năn nỉ tôi dẫn về Quảng Ngãi thăm nhà và trong nhiều bức thư anh có đề cập đến vấn đề hôn nhân. Tôi vẫn trả lời thư, nhưng luôn tìm cách từ chối: "Em thiết nghĩ chúng ta sống thế này thanh cao hơn, tôn giáo bất đồng, chữ hiếu bắt buộc em phải nghe lời thân mẫu...". Nhiều người - trong đó có Quách Tấn, Trần Thanh Mại, Ngọc Sương (dì ruột của Mộng Cầm) đều xác nhận chuyện tình cảm giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm là có thật, sở dĩ bà phải "đính chính" trong bài phỏng vấn là muốn bảo vệ hạnh phúc đang có. Âu đó cũng là một việc làm thường tình và đáng thông cảm... Hôm nay, người thiếu nữ năm xưa - nhân vật đã trở thành huyền thoại trong nhiều bài thơ, khúc nhạc - đã mang vào lòng đất những vui buồn quá khứ. Xin thắp một nén nhang tiễn bà vào vĩnh hằng... Hay tin Mộng Cầm qua đời, trong suốt ngày hôm qua 24.7, nhiều đoàn khách đã lên đồi Thi Nhân (còn gọi là Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định - nơi có mộ phần thi sĩ Hàn Mặc Tử). Ai cũng xúc động khi ngắm nhìn những hình ảnh nữ sĩ được trưng bày trang trọng ở phòng lưu niệm ở trên đồi. Chị Mai Lan trong đoàn khách đến từ Nam Bộ rưng rưng: "Nữ sĩ qua đời đột ngột quá, tôi từng ấp ủ dự định gặp bà để hiểu hơn về mối tình thơ của bà với Hàn Mặc Tử, tiếc là đã muộn rồi".
Dzũ Kha và bà Mộng Cầm
Cũng trên đồi Thi Nhân, nghệ nhân Dzũ Kha - được gọi là "người giữ lửa thơ Hàn", từng gặp nữ sĩ Mộng Cầm và được bà đề tặng bài thơ Chan chứa đã gửi cho Hàn Mặc Tử trong thời gian hai người quen nhau - bùi ngùi: "Thật buồn khi nàng thơ từng là nguồn cảm hứng sáng tạo cho thơ Hàn không còn nữa. Nhiều lần tôi đến thăm, bà lúc nào cũng gọi anh Trí, anh Trí mỗi khi nhắc đến thi sĩ họ Hàn. Chuyện tình không thành nhưng giữa hai người đã có những kỷ niệm thật đẹp...". (Đình Phú) Hà Đình Nguyên http://ra.vnunited.com/vietmusic/khanhha_ Thuyền viễn xứ
Click thuyenvienxu.wma
Sáng tác: Phạm Duy Trình bày: Phương Dung Chiều nay sương khói lên khơi Thùy dương rũ bến tơi bời Làn mây hồng pha ráng trời Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người
Thuyền ơi! viễn xứ xa xưa Một lần qua dạt bến lau thưa Hò ơi! giọng hát thiên thu Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về Nhìn về đường cô lý Cô lý xa xôi Đời nhịp sầu lỡ bước Bước hoang mang rồi ...! Quay lại hướng làng Đà Giang lệ ướt nồng Mẹ già ngồi im bóng Mái tóc tuyết sương Mong con bạc lòng ...
Chiều nay gửi tới quê xưa Biết là bao thương nhớ cho vừa Trời cao chìm rơi xuống đời Biết là bao sầu trên xứ người
Mịt mờ sương khói lên hương Lũ thùy dương rủ bóng ven sông Chiều nay trên bến muôn phương Có thuyền viễn xứ, nhổ neo lên đường ... 
Publié le 24/07/2007 à 18:16
Par phusi-1
Chữ người tử tù
Nguyễn Tuân
Nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường, viên quan coi ngục quay lại hỏi thầy thơ lại giúp việc trong đề lao : - Này, thầy bát, cứ công văn này, thì chúng ta sắp nhận đuợc sáu tên tù án chém. Trong đó, tôi nhận thấy tên người đứng đầu bọn phản nghịch là Huấn Cao. Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao ! Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không ? Thầy thơ lại xin phép đọc công văn. - Dạ, bẩm chính y đó. Dạ, bẩm có chuyện chi vậy ? - Không, tôi nghe tên quen quen và thấy nhiều người nhắc nhỏm đến cái danh đó luôn, thì tôi cũng hỏi thế thôi. Thôi, cho thầy lui. À, nhưng mà thong thả. Thầy bảo ngục tốt nó quét dọn lại cái buồng cuối cùng. Có việc dùng đến. Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nổi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không ? Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa không ? - Dạ bẩm, thế ra y văn võ đều có tài cả. Chà chà ! - Ờ, cũng gần như vậy. Sao thầy lại chặc lưỡi ? - Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Dạ bẩm, giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc. - Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn. Thôi, thầy lui về mà trông nom việc dưới trại giam. Mai, chúng ta phải dậy sớm để cho có mặt ở cửa trại trước khi lính tỉnh trao tù cho mình lĩnh nhận. Đêm nay, thầy bắt đầu lấy thêm lính canh. Mỗi chòi canh, đều đặt hai lính. Chòi nào bỏ canh, hễ mỗi vọng canh ngủ quên không đánh kiểng đánh mõ, thầy nhớ biên cho rõ, cho đúng để mai tôi phạt nặng. Chớ có cho mấy thằng thập nó đánh bạc nghe ! Thầy thơ lại rút chiếc hèo hoa ở giá gươm, phe phẩy roi, đi xuống phía trại giam tối om. Nơi góc chiếc án thư cũ đã nhạt màu vàng son, một cây đèn đế leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi. Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương. Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kiểng và mõ đều đặn thưa thớt. Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó cắn ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ. Nơi góc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, đĩa dầu sở trên cây đèn nến vợi lần mực dầu. Hai ngọn bấc lép bép nổ, rụng tàn đèn xuống tập giấy bản đóng dấu son ty Niết. Viên quan coi ngục ngấc đầu, lấy que hương khêu thêm một con bấc. Ba cái tim bấc được chụm nhau lại, cháy bùng to lên, soi tỏ mặt người ngồi đấy. Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ. (*) Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc; tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ. Ông Trời nhiều khi hay chơi ác đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt. Ngục quan lấy làm nghĩ ngợi về câu nói ban chiều của thầy thơ lại. " Có lẽ lão bát này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình. Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại, nhưng chỉ sợ tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên. Để mai ta dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu ". Sớm hôm sau, lính tỉnh dẫn đến cửa ngục thất sáu tên tù mà công văn chiều hôm qua đã báo trước cho ngục quan biết rõ tên tuổi, làng xóm và tội hình. Sáu phạm nhân mang chung một chiếc gông dài tám thước. Cái thang dài ấy đặt ngang trên sáu bộ vai gầy. Cái thang gỗ lim nặng, đóng khung lấy sáu cái cổ phiến loạn, nếu đem bắt lên mỏ cân, có thể nặng đến bảy tám tạ. Thật là một cái gông xứng đáng với tội án sáu người tử tù. Gỗ thân gông đã cũ và mồ hôi cổ mồ hôi tay kẻ phải đeo nó đã phủ lên một nước quang dầu bóng loáng. Những đoạn gông đã bóng thì loáng như có người đánh lá chuối khô. Những đoạn không bóng thì lại sỉn lại những chất ghét đen sánh. Trong khi chờ đợi cửa ngục mở rộng, Huấn Cao, đứng đầu gông, quay cổ lại bảo mấy bạn đồng chí : - Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải rỗ gông đi. Sáu người đều quỳ cả xuống đất, hai tay ôm lấy thành gông đầu cúi cả về phía trước. Một tên lính áp giải đùa một câu : - Các người chả phải tập nữa. Mai mốt chi đây sẽ có người sành sõi dẫn các người ra làm trò ở pháp trường. Bấy giờ tha hồ mà tập. đứng dậy không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ. Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt. Một trận mưa rệp đã làm nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm nâu đen. Cánh cửa đề lao mở rộng. Sáu người né mình tiến vào như một bọn thợ nề thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt ngang trên vai. Trái với phong tục nhận tù mọi ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể, tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi. Khi kiểm điểm phạm nhân, ngục quan lại còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao. Bọn lính lấy làm lạ, đều nhắc lại : - Bẩm thầy, tên ấy chính là thủ xướng. Xin thầy để tâm cho. Hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn. Mấy tên lính, khi nói chữ "để tâm" có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra. Ngục quan ung dung : - Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép nước. Các chú chớ nhiều lời. Bọn lính rãn cả ra, nhìn nhau mà không hiểu. Sáu tên tử tù có ngạc nhiên về thái độ quản ngục. Suốt nửa tháng, ở trong buồng tối, ông Huấn Cao vẫn thấy một người thơ lại gầy gò, đem rượu đến cho mình uống trước giờ ăn bữa cơm tù. Mỗi lúc dâng rượu, với thức nhắm, người thơ lại lễ phép nói : " Thầy quản chúng tôi có ít quà mọn này biếu ngài dùng cho ấm bụng. Trong buồng đây, lạnh lắm ". Ông Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu và ăn thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm. Rồi đến một hôm, quản ngục mở khóa cửa buồng kín, khép nép hỏi ông Huấn : - Đối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất. (**) Ông đã trả lời quản ngục : - Ngươi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây. Khi nói câu mà ông cố ý làm ra khinh bạc đến điều, ông Huấn đã đợi một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục. Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này. Ngục quan đã làm cho ông Huấn bực mình thêm, khi nghe xong câu trả lời, y chỉ lễ phép lui ra với một câu : " Xin lĩnh ý ". Và từ hôm ấy, cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước nữa; duy chỉ có y là không đặt chân vào buồng giam ông Huấn. Ông Huấn càng ngạc nhiên nữa : năm bạn đồng chí của ông cũng đều được biệt đãi như thế cả. Có nhiều đêm, ngoài việc nghĩ đến chí lớn không thành, ông Huấn Cao còn phải bận tâm nghĩ đến sự tươm tất của quản ngục. " Hay là hắn muốn dò đến những điều bí mật của ta ? ". " Không, không phải thế, vì bao nhiêu điều quan trọng, ta đã khai bên ty Niết cả rồi. Ta đã nhận cả. Lời cung ta ký rồi. Còn có gì nữa mà dò cho thêm bận ". Trong đề lao, ngày đêm của tử tù đợi phút cuối cùng, đúng như lời thơ xưa, vẫn đằng đẵng như nghìn năm ở ngoài. Viên quản ngục, không lấy làm oán thù thái độ khinh bạc của ông Huấn. Y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Quản ngục chỉ mong mỏi một ngày rất gần đây ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết lại, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho...cho mấy chữ trên chục vuông lụa trắng đã mua sẵn và can lại kia. Thế là y mãn nguyện. Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời nữa. Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn. Quan Hình Bộ Thượng thư trong Kinh bắt giải ông Huấn Cao và các bạn đồng chí ông vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi. Viên quản ngục vốn đã tin được thầy thơ lại, cho lính gọi lên, kể rõ tâm sự mình. Thầy thơ lại cảm động nghe xong chuyện, nói : " Dạ xin ngài cứ yên tâm, đã có tôi " Rồi chạy ngay xuống phía trại giam ông Huấn, đấm cửa buồng giam, hớt hơ hớt hải kể cho tử tù nghe rõ nỗi lòng quản ngục, và ngập ngừng báo luôn cho ông Huấn biết việc về Kinh chịu án tử hình. Ông Huấn Cao lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười : " Về bảo chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ. Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ. đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ ". Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột phân gián. Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, họ dụi mắt lia lịa. Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quan ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo : - Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không ? ...Tôi bảo thực đấy : thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi. Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau. Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào : " Kẻ mê muội này xin bái lĩnh ".
( Trích Vang bóng một thời ) Nguyễn Tuân (*) kiểm duyệt thời pháp thuộc bỏ mất bảy dòng chưa tỉm ra được. (**) kiểm duyệt thời pháp thuộc bỏ mất sáu dòng chưa tỉm ra được.
|
 Đi Giữa Quê Hương
| Sáng tác: Châu Kỳ Ca sĩ: Thanh Tuyền
Download

Tôi đã đi giữa lòng quê hương tôi Từ ngày tiếng hát bên nôi Chưa âm vang tiếng khóc lạc loài
Tôi đã đi giữa lòng quê hương tôi Nghe từng mảnh đất buồn vui Theo tháng năm quê nghèo nổi trôi
Tôi đã đi từ Việt Bắc cho tới Cà Mau Từ Trường Sơn cho tới miền sâu Gót chân mềm mòn trên đất nâu
Tôi đã đi từ ngục tù đi tới tự do Từ hận thù đi tới tình yêu Tôi đã đi tôi còn đi nhiều
ĐK:
Đi hơn hai mươi năm trên đất nước này Hơn hai mươi năm chân bước miệt mài Hơn hai mươi năm mắt không rời đường về tương lai đến bây giờ súng còn cầm tay
Tôi vẫn đi giữa lòng quê hương tôi Ngày nào em bé trong nôi Chưa yên trong giấc ngủ thật muồi
Tôi vẫn đi giữa lòng quê hương tôi Cho đến khi quê nghèo hát vui Tôi vẫn đi tôi còn đi hoài
Tôi vẫn đi giữa lòng quê hương tôi Tôi vẫn đi giữa lòng quê hương tôi.......
*Nguyên gốc tác phẩm này được nhạc sĩ Châu Kỳ ký dưới bút hiệu Anh Châu

|
Publié le 20/07/2007 à 21:28
Par phusi-1
Tout l'amour que j'ai pour toi Est brûlant comme un feu Il est grand et plein d'éclat C'est si bon d'être heureux Mes cris de joie Je te les dois Car rien pour moi N'est plus que toi Même quand tu n'es pas là Tu es présent, bien présent Tout l'amour que j'ai pour toi Est plus fort chaque jour Je crois bien qu'il durera Pour la vie, pour toujours Quelle obsession, que ma passion Je dis non Tout bas, tout bas Au moindre bruit de tes pas Mon cœur bat, mon cœur bat Je veux crier au monde entier Que rien ne peut nous séparer Tout l'amour que j'ai pour toi C'est vraiment, tout pour moi...
 
Ghe vượt biên : TTPS lái * 20-11-1981 * Khởi hành tại Bà Rịa * 23-11-1981 HongKong MỘT LẦN ĐI
Có một lần đi không đành đoạn Theo con sóng biển sớm mai hồng Mịt mờ phía trước hồn vô định U uẩn đong đầy mặt nước trong Nhớ ơi là nhớ màu lúa chín Vàng như rơm rạ quấn con đê Bao mùa mưa nắng sầu cố quận Đời ta thôi trót lỡ câu thề Vẫn biết quê xưa tình nghĩa nặng Nhưng đành chia cách núi sông ơi Hồn thiêng đất nước mong trở lại Đâu ngờ nay vẫn xa ngàn khơi Có gì lận đận dài hun hút Khắc khoải trăng tàn mộng viễn du Níu kéo đôi chân chưa biết mõi Mới hay lạc lối cõi sa mù Nước mắt giờ hình như đã cạn Suối nguồn đã chảy hết ra sông Trên đỉnh bình yên cao vòi vọi Xin cho thư thái một tấm lòng
Tôn Thất Phú Sĩ
 108 Thuyền nhân an toàn đến HONG KONG * Noel 1981 ONCE GONE
There'd once gone against my heart Along with sea waves at reddish sunrise Ahead it's obscure before indeterminate soul Melancholy gauged clear water surface
How much do I miss ripened rice color
Yellow as rice stalks climbed dikes How many rainy and sunny seasons I thought of fatherland My life I just missed my promises
Although knowing nativetown full of deep affection
But I must separate from you, fatherland Divine soul of the country wishes us coming back But who knows still we are faraway
Something not so well and at lost view
Anxiously late moon proved far-going dream Tried keeping my legs never exhausted Just now know being lost in misty world
At present tears seemed to be dried out
Stream source flew off to river On peaceful peak immeasurably high Please make a heart peaceful.
RGC 
Noel 1981 Trại Tỵ Nạn * Kow-Loon - Hong Kong 20-06-1982 Định Cư Paris
NGÀY VỀ Cầm tờ giấy ra trại mà tưởng mình đang mơ. Chúng tôi một toán 13 người ngồi quanh trong một cái láng ( phòng ) lợp tranh nhỏ cạnh bìa rừng. Tên Công An Quản Giáo đang lên lớp : - Nhân Dân xét thấy trong thời gian Cải Tạo, các anh có vài tiến bộ, học tập chính trị và lao động tốt, nên ngày hôm nay với chính sách khoan hồng của Cách Mạng, các anh được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa cho các anh về. Các anh về phải trình diện Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố , nơi đây sẽ Quản Lý các anh. Hành lý chúng tôi mỗi người chỉ có một cái võng, vật dụng linh tinh tự chế như chén, lon , muổng , đũa ..., một cái mền cũ và 5 kg khoai mì được nhà nước cấp cho để bồi dưỡng trên đường về . Vì không có áo quần tươm tất , những năm khốn khổ quần áo đã rách tả tơi nên tôi đành phải mặc bộ áo quần Cải Tạo màu nâu, phía sau có hàng chữ đỏ CT5-2 ( Cải Tạo khu 5 / Đội 2 ) . Đành vậy thôi, mặc dù có vài Công An Quản Giáo " hăm doạ “ các anh coi chừng Nhân Dân biết các anh là Nguỵ Quân Nguỵ Quyền đầy nợ máu, Nhân dân sẽ ném đá các anh”. Tôi nghĩ thầm , dù sao vẫn còn lối thoát , hơn là sống trong tù. Chúng tôi cũng nhiều phần không tin lời tên công an, nhận xét thấy rằng trong thời gian đi lao động, một đôi lần gặp dân, tuy bị cấm ngặt không được liên hệ, họ vẫn len lén vất cho vài củ khoai, vài trái chuối, tuy họ rất lam lũ và quá nghèo. Từ những sự kiện đó , Chúng tôi vẫn an tâm phần nào . Nhìn bao khoai mì ( thực phẩm chỉ có vậy thôi), đường về xa thăm thẳm, làm sao nấu nướng, anh Nuôi trại tù, đề nghị mua phần khoai mì này cho heo ăn với giá 6 đồng một kg , chúng tôi đành phải bán cho nhẹ hành trang . Với ba mươi đồng chúng tôi có thể ăn được một tô phở không người lái và mua thêm một ổ mì, anh nuôi nói vậy. Lấy gì ăn trên đoạn đường về nhà đây? Thôi thì tới đâu hay tới đó, miễn thoát khỏi chỗ này rồi tính , chúng tôi ai cũng nghĩ vậy. Lần đầu tiên nhìn thấy tiền miền Bắc, (theo luật lệ của trại thì cải tạo viên không được giữ tiền), chúng tôi buồn cười :“ sau hơn năm năm lao động cho xã hội chủ nghĩa, mình được một số tiền 30 đồng cụ Hồ, biết chừng đâu mình sẽ trở thành Tư sản, rồi lại bị đấu tố thì sao”?. Nghĩ tếu cho vui vậy thôi chứ lòng chúng tôi ai nấy cùng hồi hộp, nôn nóng, nghĩ đến chốc nữa đây sẽ được trở về bên mẹ cha, bên vợ con, bên gia đình và lòng lâng lâng một niềm vui khôn tả. Tôi đang mơ nhè nhẹ bước vào nhà, mọi người không ai biết ... Tôi chợt thấy nước mắt mình ứa ra tự lúc nào , không dám tưởng tượng cái sự thật tôi đang có vì mới cách đây vài giờ tất cả đều ngoài tầm tay. Thực hay mơ, nghĩ cho cùng, có lẽ mình giống như chết đi sống lại. Chiều hôm nay, rừng núi miền Bắc đầy tiếng chim kêu, ánh nắng chiều chan hoà reo vui trong gió. Trong cái ngút ngàn vô cùng tận của đất trời, tôi mơ ... mơ những nụ hôn, những vòng tay, những lời chan chứa ân tình của một ngày về :
Trên đường về nhớ đầy; Chiều chậm đưa chân ngày. Tiếng buồn vang trong mây. Tiếng buồn vang trong mây.
Chim rừng quên cất cánh. Gió say tình ngây ngây Có phải sầu vạn cổ. Chất trong hồn chiều nay. Chất trong hồn chiều nay
Tôi là người lữ khách . Màu chiều khó làm khuây . Ngỡ lòng mình là rừng . Ngỡ hồn mình là mây ....
Tôi hát khe khẽ cho tôi nghe bài thơ Chiều của Hồ Dzếnh ai đó đã phổ nhạc như chính lòng tôi đang phổ nhạc. Theo chương trình, chúng tôi được ăn bửa cơm cuối ngay chiều nay, sau đó xe Công An của trại sẽ đưa bọn tôi xuống núi và cấp vé tàu lửa cho chúng tôi về Nam. Mọi việc đã xong xuôi, khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi tụ họp tại cổng trại, điểm danh một lần cuối, chờ xe của trại chở đi. Xin giã từ tất cả, chào tất cả bạn tù còn lại mặc dù không thấy mặt nhau trong giây phút này vì cổng trại xa quá tầm nhìn về các láng bạn tù đang ở. Tôi nhìn lên cổng trại, lá cờ đỏ sao vàng bay phất phơ, dưới hàng chữ :CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CÔNG AN NHÂN DÂN Tỉnh HÀ NAM NINH và ảnh Hồ Chí Minh . Tôi dơ tay chào và thầm nói "Thôi ở lại , ta đi" Xui cho tôi, tên công an gác cổng đàng xa, vẫy tay gọi tôi lại . - Anh kia, lại đây, anh nói gì với Bác đấy ? Tôi lanh trí , trả lời: - Tôi chào bác tôi về, tôi rất hồ hởi phấn khởi, nhờ ơn bác và đảng khoan hồng cứu xét cho tôi được về sum họp với gia đình. - Anh lại đây, chờ làm việc. Tôi đến vọng gác đứng chờ . Khoảng 15 phút sau có một công an Quản Giáo ra, đưa tôi vào phòng làm việc. Vẫn câu hỏi “anh nói gì với Bác , Tối trước sau như một, cứ một lời ban đầu trả lời. Thế là tôi bị giữ lại, 12 bạn lên xe ra đi. Tôi bùi ngùi nhìn theo, chiếc xe vận tải rú lên và lao đầu về phía trước để lại một đám bụi mờ, mờ như số phận của tôi phải trả , do cái tính hay tếu của tôi cho đời nó vui. Vui đâu không thấy bây giờ lại lo, lo một chút thôi, bởi vì thật ra, cũng liều rồi. Sau đó tôi bị giam cách ly và hàng ngày hàng đêm tôi phải làm tờ tự khai với câu hỏi “ Anh đã nói gì với Bác '' ?. Tôi vẫn cứ thế trả lời hàng trăm lần như một lần “Tôi chào bác tôi về, tôi rất hồ hởi phấn khởi, nhờ ơn bác và đảng khoan hồng cứu xế cho tôi được về sum họp với gia đinh”`. Cuối cùng sau hai tuần bị giữ lại, tôi được tha, với lời hăm doạ : -Tạm tha cho anh , chúng tôi không tin lời anh nói tốt như vậy . Lần này tôi nhắm mắt đi (không một lời giã biệt Bác). Tôi được trao lại đầy đủ hành lý, kể cả 30 đồng Cụ Hồ. 4 giờ sáng ngày 21-09 -1980 ( tôi gọi là ngày N ) , tôi quá giang xe anh Nuôi đi chợ. Tài xế chở tôi đến một ga không có tên tuổi gì cả ( sau này tôi biết được là Ga Vinh ), toàn là người miền núi. Họ nói tiếng của họ, họ hiểu với nhau, tiếng Việt của người dân tộc miền núi . Anh Quản giáo trao cho tôi tấm vé xe lửa "tàu chợ". Tôi chỉ được cấp vé về đến Qui Nhơn, từ Qui Nhơn về Saigon phải tự túc. Tôi nghe trên loa phóng thanh người ta thông báo xe chạy đến ga Diệu Trì sẽ ngừng để chạy ngược lại về miền Bắc. Suốt thời gian di chuyển, tôi không dám mua một món gì để ăn , dù một củ khoai. Chỉ có 30 đồng, nếu hết thì làm sao xoay xở, trên người không có một cái gì có thể đổi chác được. Tôi uống nước cầm hơi cho qua ngày. Nghĩ ngày về đến Saigon vui quá tôi quên đi cái đói phần nào. Nhưng đến ngày N+3 , vừa bước ra khỏi toa xe lửa, tôi muốn xỉu, hoa mắt, nhức đầu, bụng cồn cào ra chất chua. Chợt thấy con chó hoang ghẻ lác đứng gặm khúc xương bên hè mà nước miếng mình chảy dài. Cầm lòng không được, tôi sà xuống gánh hàng rong bán bún, ăn một tô bún to với nước mắm chanh tỏi ớt đường. Những cọng bún trắng tinh, thêm vị chua ngọt mặn trôi dần xuống cổ. Tôi không dám ăn nhanh, chậm chậm thưởng thức cái mùi vị ngàn năm một thuở. Bụng đã no rồi nhưng bụng lại đau khi người bán hàng bảo: - Cho tớ xin 15 đồng. Thế là toi đi mất nữa gia tài. Chần chờ tại ga Diệu Trì đến trưa phòng bán vé mới mở cửa. Tôi hỏi vé đi thành phố Hồ chí Minh. Anh cán bộ bán vé trả lời “Diệu Trì - TP HCM giá 58 đồng " . Tôi yêu cầu cho giá hạng bét, anh ta lạnh lùng trả lời “đây chỉ có một giá thôi, đồng hang”... Tôi năn nỉ “xin anh giúp cho, tôi chỉ có vỏn vẹn 15 đồng, cải tạo được tha về mà anh”. Với giọng Bắc lạnh lùng hơn nữa, anh ta dứt khoát trả lời “Không là không ”.Tôi đành ở lại Ga Diêu Trì để tìm phương cách khác. Với số tiền còn lại, tôi cầm hơi khoai sắn được hai ngày thì hết sạch. Ban ngày tôi tìm đủ mọi cách để kiếm tiền vé xe nhưng không có cách nào cả, tối lại treo võng tòn ten ngủ trong sân ga. Thấy tôi mặc bộ đồ tù nên chẳng ai hỏi đến. May thay đến ngày thứ ba, trong lúc không còn một xu để mua thức ăn , có một em bé mặt mũi khôi ngô khoảng mười tuổi tự nhiên chạy đến hỏi: - Chú có muốn đi làm kiếm tiền không? Mừng quá tôi hỏi: - Làm chuyện gì em? - Nhà cháu cần người gánh nước, mỗi đôi 1 đồng. Tôi nhận lời ngay. Em bé dẫn tôi về nhà, giới thiệu với bố mẹ. Người ta bằng lòng với điều kiện gánh nước không mặc quần áo cải tạo. Tôi nghĩ điều chi chớ điều này thì quá dễ, mặc quần xà lỏn gánh nước cũng tiện cho tôi. Từ giếng về nhà xa gần cây số, mỗi thùng cỡ 20 lit , hai thùng là 40 lít , lúc đầu tưỡng dễ ăn , cố gắng lắm tôi cũng chỉ gánh được 15 đôi. Ngày đi cải tạo 68 kg, ngày về còn 50 kg, gởi lại 18 kg thịt cho núi rừng Bắc Việt, tôi cảm thấy không đủ sức để gánh nhiều hơn . Tôi nhận mười lăm đồng để sống qua ngày. Ngày hôm sau người ta không thuê nữa, thế là thất nghiệp. Ba ngày vô vị trôi qua, lòng như lửa đốt, tôi đành chọn phương pháp của những người được về trước , NHẢY TÀU. Đây cũng là phương pháp của những người bán hàng rong đi lậu vé, nếu bị xét vé thì bị phạt nặng. Đối với những người bán hàng rong thì dễ dàng vì người ta là dân, lại quen mặt với những người xét vé, còn tôi là tù vừa được thả, chưa có quyền công dân, lỡ bị xét không có vé có thể đi tù trở lại . Biết vây nhưng con người đến đường cùng thì phải liều, tôi quyết định nhảy tàu. Ngày N+6 chuyến tầu Thống Nhất từ Hà Nội vào đúng 8 giờ sáng Từ đấy về Saigon tàu sẽ ghé mỗi ga. Tôi theo những người bán hàng rong đứng chờ sẵn mỗi toa. Khi còi tàu hú và chuyển bánh chầm chậm, dân nhảy tàu lợi dụng thời gian này, bu theo thành tàu chạy một đoạn rồi nhảy lên, đến ga tới, tàu ngừng thì nhảy xuống. Tại mỗi Ga như vậy, tàu ngừng khoảng 30 phút để hành khách lên xuống, chuyển hàng hoá và soát vé. Tôi cứ nhảy ga như vậy cho đến ga Tuy Hoà. Trên đường nhảy ga tôi thường giúp đỡ những người bán hàng rong để chuyển dùm hàng hoá lên xuống, do đó tôi chiếm được cảm tình nhiều người và được tặng vài củ khoai, củ sắn, miếng cơm, cái bánh... no lòng trên suốt đoạn đường dài. Từ Tuy Hoà đến Ga Nha Trang, tàu đang chạy ngon trớn, bỗng nhiên ngừng lại. Sợ bị xét vé, tôi vội nhảy xuống, nhưng không phải soát vé mà là có một vụ cướp giựt xảy ra. Tàu đang cán phải một người. Hỏi ra mới biết nạn nhân là một em Bé , giựt một đồng CỤ HỒ trên tay một anh Công An , bị anh Công An xô ngả xuống đường Ray, xe lửa cán em Bé đứt làm hai phần , tên cán bộ này đang bị mọi người phẫn nộ đánh hội đồng. Sau đó tàu phải ngưng giữa đường một đêm, để giải quyết sự việc và từ đấy không còn xét vé . Khi tàu đến Ga Mường Mán, Phan Thiết, tôi ngồi lì không thèm nhảy nữa, bình an về đến Ga Bình Triệu đúng 11 giờ đêm ngày N+16. Gió mát từ sông Saigon thổi vào thành phố. Chợ Bến Thành rộn rịp như ngày tôi đi nhưng tôi vẫn ngỡ ngàng nhìn Thủ Đô ngày nào bây giờ là thành phố đổi tên . 16 ngày đêm trên đoạn đường dài, biết bao kỷ niệm từ Bắc về Nam. Tôi vất hết hành lý, hai tay thọc vào túi áo, thả bộ từ Ga về nhà, trên con đường Trương Minh Giảng quen thuộc, lòng phơi phới nghĩ đến vợ con, đến mái nhà tổ ấm của tôi. Trong niềm tin và hy vọng, tôi chuẩn bị tư tưởng cho một chuyến ĐI XA. Đi thật xa và không bao giờ quay trở lại. Tôn Thất Phú Sĩ 
Chiều Sáng tác: Dương Thiệu Tước Trình bày:
Trên đường về nhớ đầy Chiều chậm đưa chân ngày Tiếng buồn vang trong mây Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh Gió say tình ngây ngây Có phải sầu vạn cổ, Chất trong hồn chiều nay Chất trong hồn chiều nay
Tôi là người lữ khách Màu chiều khó làm khuây Ngỡ lòng mình là rừng Ngỡ lòng mình là mây Nhớ nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây
Trên đường về nhớ đầy. Chiều chậm đưa chân ngày. Tiếng buồn vang trong mây Tiếng buồn vang trong mây http://nhacviet.vietshare.com:81/
 bannhacviet/chieu.asxClick

Mộng chiều XuânSáng tác: Ngọc Bích Trình bày: Hoàng Oanh
http://phoipha.org/nhacvangonline/1hmuvnth/CoLaiDo_
 HoangOanh/MongChieuXuan_HoangOanh.wma Click
Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung Người yêu thoáng qua trong giấc mộng Vui nguồn sống mơ Những ngày mong chờ Trách ai đành tâm hững hờ
Mối tình đầu xuân ai thấu chăng? Lòng tha thiết vương theo tiếng đàn Mơ đời ái ân những ngày phong trần Sống trong mộng đẹp ngày xuân
Ngây thơ giáng huyền đến trong mơ Lòng anh bớt sầu Mộng vàng phút tan theo gió chiều Biết em về đâu
Hãy trả lời lòng anh mấy câu Tình duyên với em trong kiếp nào Xuân còn thắm tươi Anh còn mong chờ Ái ân kẻo tàn ngày mơ!
 TÔI ĐI HỌC
Thanh Tịnh Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây bàn bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy, tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này, tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học . Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quí và không đi ra đồng nô đùa như thằng Sơn nữa. Trong chiếc áo vải dù đen dài, tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn. Dọc đường thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng xệch ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước ôm sách vở nhiều, lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết. Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi: - Mẹ đưa bút thước cho con cầm. Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm: - Thôi để mẹ cầm cũng được. Tôi có ngay cái ý nghĩ vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước. Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi. Trước sân trường làng Mỹ Lý dày đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa. Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hoà An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé lại trường một lần. Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ . Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng nào khác là nhà trường cao ráo và sạch sẽ hơn các nhà trong làng. Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý trông vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hoà Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn trong những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ . Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ . Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ . Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Cảm thấy mình trơ vơ là lúc này. Vì chung quanh là những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả ban tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp. Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đến đứng trước lớp ba. Trường làng nhỏ, nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông ta đọc đến tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ: - Thế là các em được vào lớp năm. Các em phải gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy các em được sung sướng. Các em đã nghe chưa. (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có một tiếng dạ ran của phụ huynh đáp lại.) Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút này, chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy, đã lúng túng, chúng tôi càng lúng túng hơn. Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói: - Thôi, các em lên đây sắp hàng để vào lớp học. Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cánh tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lưng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi. Ông đốc tươi cười nhẫn nại chờ chúng tôi. - Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai lại được nghỉ cả ngày nữa. Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi đi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt tươi cười đang đón chúng tôi trước cửa lớp. Trong thời thơ ấu, tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ. Vì có những hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết. Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường, tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận, rồi tự nhiên lạm nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tý hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề quen biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá, đến nỗi tôi cũng không dám tin có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao. Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa hay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi. Nhưng tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đánh vần đọc: - Bài tập viết : TÔI ĐI HỌC !
 |
|