VÀI KÝ ỨC VỀ LƯU HỮU PHƯỚC, TRẦN VĂN KHÊ
VÀ TỔNG HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM
Lâm Lễ Trinh
Đất nước chúng ta sa vào một khoảng trống lãnh đạo chính trị từ lúc Đệ nhị thế chiến bùng nổ với vụ Nhựt tấn công Trân châu Cảng ngày 7.12.1941 cho đến ngày 2.9.1945 khi Hồ Chí MInh tuyên bố tại Quảng trường Ba Đình Việt Nam là một nước độc lập. Trong thời gian gần 4 năm ấy, trước khi Việtâ Minh xuất hiện công khai, Tổng hội Sinh viên VN ra đời ở Hà Nội, tích cực hoạt độäng và đã thành công khơi dậy trong tiềm thức quần chúng ngọïn lửa đấu tranh bằng âm nhạc ái quốc và họat độäng xã hộäi, dưới con mắt cú vọï của Sở mật thám Liên bang.Trong phong trào sinh viên này, các phần tử gốc Miền Nam đóng một vai trò tiên phong. Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê, Phan Thanh Hòa, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Đặng Ngọc Tốt, Nguyễn Thành Nguyên, Nguyễn Mỹ Ca…là những gương mặt năng nổ nhứt. Về phía chính trị, xuất hiện những lãnh tụ sinh viên trẻ như Trương Tử Anh, Nguyễn Tôn Hoàn, Lý Đông A, Nguyễn Tiến Hỷ, Hà Thúc Ký, Nguyễn Tường Bách, Trần Trung Dung, Đặng Văn Sung..v..v.. Một số gia nhập vào những đảng có sẵn, số khác thiết lập hệ phái mới. Về sau, với sự trở về của Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm, lằn ranh Quốc–Cộng được vẽ rõ ràng hơn.
Bài này không kể lại trong chi tiết các giai đoạn hình thành và cuộc đấùu tranh nội bộ của Tổng Hội Sinh Viên. Với sự góp ý thân tình của một số nhân chứng còn sống, người viết chỉ ghi lại vài ký ức – đặëc biệt cuối đời – liên hệ đến hai người bạn vong niên tài hoa: Phước (ra đi ngày 8.6.1989) và Khê (về hưu tại VN), mặc dù chúng tôi không chia xẽ hoàn toàn những ý thức chính trị.
Vài hàng lý lịch về Lưu Hữu Phước.
Vào cuối cuộc đời, Phước được Đảng CS ban thưởng với chức an ủi Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc VN. Theo lời Trần Văn Khê trong Hồi kýâ, Viện này đặt trụ sở tại Sàigòn trong “một căn phố nhỏ, không có phòng riêng cho Việän trưởng mà chỉ có một bàn viết để trong góc, nhạc cụ và nhạc khí chất dưới sàn chịu đựng lớp bụi của thời gian. Khi Phưiớc qua đời, Nguyễn Xinh về làm Viện trưởng. Điều làm tôi cảm động là tại đây có đặt bản thờ Lưu Hữu Phứoc.” [1] Phước từ trần đột ngột ngày 8.6.1989 (lối ba tháng trước Huỳnh Tấn Phát) vì bịnh tim, hưởng thọ 68 tuổi.
Những năm họat động hăng say trong Tổng hội Sinh viên VN
Thời Pháp thuộc, cho trọn bán đảo Đông Dương gồm có Việt Nam, Lào và Miên, chỉ có một Đại học mang tên Université de l’Indochine. Viện này chiếm một chu vi rộng lớn ở phố Bobillot, cách Nhà Hát Tây lối 200 thước. Mặt tiền khu Cao đẳng Đông Dương, nay ở số 19 đường Lê Thánh Tông, trông rất uy nghi. Đại lộ Gambetta tiến thẳng đến khu Đại học và ngưng tại đó. Giữa khu là thềm khá cao với gần 20 bậc dẫn lên một bờ hè rộng trước cổng chính. Từ cổng bước vào là một phòng rộng gọi Salle des pas perdus. Đại giảng đường, Grand amphithéâtre, nằm bên trái. Phòng rộng bên phải dùng làm thư viện, nơi nhóm họp của các giáo sư và văn phòng.Từ trên hánh lang theo đường thoai thoải xuống qua bên trái là khu đại học Y và Dược, còn qua bên phải là Giảng đường thứ hai, nhỏ hơn Đại giảng đường. Đứng giữa hành lang nhìn thẳng phía bên kia là hai sân quần vợt và Phòng thí nghiệm của Đại học Y và Dược.
Các sinh viên từ xa đến tranh nhau ghi tên ở trong Đông Dương Học Xá, một khu vực khang trang, tại khu phố Huế, sát bên xóm cô đầu, có tàu điệän (tramway) đưa vào trung tâm thành phố khá xa. Người viết (học luật), em là Lâm Trọng Thức (y khoa), Trần Công Dung (Dược), Xuân Diệu, Huy Cận (Canh Nông)..v..v.. may mắn vào được Học xá trong khi một số sinh viên khác, gốc “Nam kỳ”, chung tiền thuê phòng (popotes) ở giữa Hà Nội. Các đàn anh ra Hà nội trước gồm có Nguyễn Tôn Hoàng, Nguyễn Lưu Viên, Nguyễn Tấn Gi Trọïng,Trần Vỹ, Phạm Biểu Tâm, Trần Trung Dung, Trần Chánh Thành, Nguyễn Hữu Châu… Nhóm Lưu Hữu Phứoc (Nha), Trần Văn Khê (PCB), Mai Văn Bộ (PCB) và Nguyễn Thành Nguyên (Luật), Huỳnh Văn Tiểng (Luật) rủ nhau mướn căn phố 60 đường Wíélé, sau dời về một căn gác rộäng, phía trên ga-ra biệt thự số 88 đường Jacquin, do dược sĩ Vũ Ngọc Quỳnh làm chủ.
Vào cuối tuần hay trong các dịp nghỉ lễ, Nguyễn Tôn Hoàn (chơi mandoline rất hay), Nguyễn Tú Vinh, Nguyễn Văn Thiêm, Hồ Văn Huê.. thường nhập bọn với cánh Lưu Hữu Phước (mandoline một cây!), lối 14, 15 nam và nữ sinh viên, dùng xe đạp và xe lửa để viếng những địa danh lịch sử ngoài thủ đô Hà Nội như Sông Bạch Đằng, Vạïn Kiếp, Chi Lăng, Đền Hai Bà Trưng, đền Hùng..v..v..và đồng thời, cắm trại,cùng nhau tậïp hát một số bài do Phước sáng tác như Người xưa đâu tá, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Thanh niên hành khúc,Hội Nghị Diên Hồng...Chính trong một buổi picnic đầu năm 1941 tại Chùa Trầm, Hà Đông, nhóm đã thích thú khám phá ra hai giọng oanh vàng là Phan Thị Bình và Nguyễn Thị Thiều, cả hai đều là nữ sinh nội trú Trường nữ hộ sinh, École des Sage-femmes, tại bệänh việän René Robin tức Nhà thương Cống Vọng.[1]
Nhờ ngoại giao khéo, anh Hoàn thuyết phục được hai chị Bình, Thiều[1] tham gia Đoàn Vân nghệ Sinh viên mang tên Commission de Musique de l’AGEI, (tức Association des Étudiants de l’Université Indochinoise) để tổ chức những buổi diễn thuyết ra mắt công chúng, khuyến khích học sinh, thanh niên trở về nguồn, phụng sự xã hộâi, và khơi động lòng yêu nước, chống thực dân Pháp. Đoàn tích cực đẩy mạnh công cuộc dạy Quốc ngữ, truyền bá vệ sinh, đi về nông thôn hướng dẫn đồng bào. Đoàn ra mắt công chúng thành công nhiều lần tại rạp Olympia Hà Nội. Đặc biệt nên ghi buổi trình diễn ca nhạc xuất sắc hai giờ đồng hồ ngày chúa nhựt 15.3.1942 tại Grand Amphithéâtre, Khu Đại học, dưới quyền chủ tọa của Giám đốc Học chính Đông Dương để cứu trợ bệnh nhân nghèo các Nhà thương thuộc Trường Y,Dược. Lần đầu tiên, dàn nhạc Hải quân Pháp chơi bản Sinh viên Hành khúc, La Marche des Étudiants[1], của Lưu Hữu Phước. Nhạc điệu hùng hồn, thúc quan khách Việt-Pháp phải nghiêm chỉnh đúng dậy chào như chào một quốc ca. Lời ca nguyên thủy, do Đặïng Ngọc Tốt, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Nguyễn Thành Nguyên soạn, bắt đầu như sau:
Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi,
Đồng lòng cùng đi, đi đi mở đường khai lối,
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên..v..v.
Sau Hà Nội, đến nhà hát lớn Sàigòn (trụ sở sắp đến của Quốc hội VNCH). Dân chúng nô nức hoan nghinh từ Bắc chí Nam. Thời ấy, micros chưa được xử dụng, hai chị Nguyễn Thị Thiều – Phan Thị Bình làm vang dội thính phòng bằng tiếng hát thật của mình, kỳ diệu thay!
Việt Cộng xâm nhập Tổng hội Sinh viên Việt Nam (THSVVN)
Khởi thủy, THSVVN là một tổ chức của giới trẻ yêu nước, phi đảng phái. Trong Hồi ký, “Kỷ niệm thời niên thiếu”, đăng trong tập san Áo Trắng, Nguyễn Tôn Hoàn viết: “Đến năm 1937, khi đang học ở trường Y khoa Hà Nội, tôi thấy cần phải tranh đấu mạnh hơn, phải họat động trong một hàng ngũ, có tổ chức quy cũ, nên tôi đã dấn thân vào một đảng cách mạng, lao mình vào những họat động quy mô, những tổ chức bí mật, nguy hiểm bội phần để hy vọng giải thóat dân VN khỏi ách thực dân.” Anh Hoàn đã tuyên thệ nhập vào đảng Đại Việt của Trương Tử Anh. Trong THSV anh giữ chức Trưởng ban Âm nhạc (sau này gọi là Ban Văn nghệ) nhưng người điều khiển ban nhạc thường là Trần Văn Khê. Phan Thanh Hòa, chủ tịch THSV, về sau là anh vợ của Hoàn vì chị Phan Thị Bình là em ruột của Hòa. Chính Hoàn đã ghi trong tài liệu nêu trên rằng năm 1946, Hòa bị CS thủ tiêu vì Hòa công khai chống sứ giả của Hồ Chí Minh là hai anh em Phan Anh, Phan Mỹ đến dụ THSV nhập vào Mặt trận Việt Minh. Hòa tuyên bố Tổng hội đứng ngoài đảng phái. Phan Thanh Hòa thế Dương Đức Hiền trong chức Chủ tịch THSV. Một thời gian sau, tổ chức này mau chóng bị xích hóa. Đảng Tân Dân chủ của sinh viên xé làm hai. Một phần, chống CS, qua họat động trong hàng ngũ quốc gia. Phần còn lại, trong đó có Phước, Tiểng, Bộ, Khê, Nguyễn Tấn Gi Trọng.. ngã về phía Bắc Việt.
Cuối 1943, Hà Nội có phong trào đi kháng chiến. L H Phước và H V Tiểng sáng tác bài Xếp bút nghiên kêu gọi giới trẻ “dứt làn tơ vương, giã trường lên yên.” Miền Bắc bắt đầu bị nạn đói. Hàng ngày, từ Học xá đến trường, người viết thấy xác người rải rác bên lề đường. Gần hết sinh viên gốc Nam hô hào đi xe đạp về Nam vì gia đình ngưng gởi tiền.
Đầu 1945, Nhật đảo chính Pháp. Sàigòn bị bỏ bom thường xuyên. Với tư cách trưởng đoàn, Đặng Ngọc Tốt lập ra một Ban Tuyên truyền đi các tỉnh cổ võ tinh thần quần chúng bằng cách nói chuyện về sử, Trần Văn Khê thì hát những bài của Lưu Hữu Phước và dân ca. Đến Vĩnh Long, Khê gặp lần đầu tiên Phạm Duy đi theo gánh hát rong của Charlot Miều. Nhật trao quyền lại cho Phạm Văn Bạch, chủ tịch Ủy ban Nhân Dân Nam bộ.
Vai trò Trần Văn Khê trong giai đọan kháng chiến.
Thái độ đối với Cọng đồng người Việt hải ngọai.
Khê có qua Orange County , Californie, hai lần, mỗi lần không ở quá mười hôm, và mỗi lần đều có gặp người viết và vài bạn thân như Chi Điền Hoàng Duy Từ, Phạm Duy… Khê nói chuyện rất tâm tình, lần chót giữa năm 1995, có ghi lại trong Hồi ký, quyển 4, trang 234. Tại OC, Khê tránh xuất hiện trước đám đông vì ngại gây phản ứng của giới chống Cộng như ở San Francisco, Berkeley, Connecticut, Washington, Boston, Montreal…Vài nơi đã tố cáo Khê là du kích văn hóa CS, làm tay sai cho Hà Nội như Trịnh Công Sơn, và hăm tẩy chay bằng cà chua, trứng thúi. Người viết có lần hỏi trong giai đọan kháng chiến Khê làm gì, ở đâu và sau 1975, cảm nghĩ của Khê đối với khối đồng bào tị nạn ra sao? nhận định của Khê đối với nhà cầm quyền Hà Nội?
Khê xác nhận y “không phải là người họat động cách mạng theo nghĩa được tổ chức giáo dục và phản công”. Về Nam sau 1945, anh tham gia kháng chiến nhưng không muốn cầm súng, chỉ họat động trong lãnh vực văn nghệ. Vì thế Huỳnh Văn Tiểng, thay mặt Ủy ban kháng chiến Nam bộ, bổ nhậm anh Nhạc trưởng Quân đội, cấp Đại đội trưởng Cọng hòa vệ binh. Khê theo Đặng Ngọc Tốt một thời gian biểu diễn ca hát ở các tỉnh trong Ban Tuyên truyền Nam bộ. Bị Pháp đuổi dồn về U Minh, Cà Mau cuối 1946, Khê gặp Lưu Hữu Phước đang chuẩn bị ra Bắc với Tôn Đức Thắng bằng ghe bầu. Hai chục năm sau, Phước và Khê mới gặp lại nhau. Khi Đất nước thống nhứt xong Phước mới từ Bắc trở về Sàigòn.
Kẹt lại vì vấn đề gia đình, Khê về vùng qúốc gia cuối 1946 sanh sống tại Lộc Ninh bằng nghề mua bán lẽ thuốc Tây. Kiếân trúc sư Hoàng Hùng (sau trở thành Bộ trưởng Kiến thiết VNCH cùng chung một nội các với người viết) cho Khê mượn nhà mở lớp dạy tiếng Anh ở Sàigỏn, đồng thời viết báo (Việt Báo, Thần Chung) với Nguyễn Văn Hiếu, Triệu Công Minh, Trần Thọ Phước. Huỳnh Tấn Phát[1] móc nối. Khê bị Mật thám Pháp bắt giữ một thời gian ngắn tại bót Catinat. Khê vận đông sang Pháp du học cuối 1949. Sau khi thi đậu khoa chính trị[1] và nhạc, Khê làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu khoa học CNRS Pháp và cơ quan quốc tế UNESCO, dạy tại Sorbonne, đi nhiều xứ, 25 năm sau mới trở về VN khi Nước nhà đã thống nhứt.
Khê quả quyết chỉ là người trọn đới làm văn nghệ, “truyền đạo nhạc”, không vì danh, vì lợi mà chỉ vì tình yêu xứ sở, để “gieo chất men yêu nhạc truyền thống vào lòng người nghe khắp bốn biển năm châu.” Khê thú thật anh cảm thấy “hết sức chua chát và đau lòng” khi bị hiểu lầm vì chủ đích của anh là nghiên cứu để phổ biến tinh hoa của VN khắp mọi nơi.
Mùa thu 1974, Khê qui cố hương. Sau khi dự Hội nghị Âm nhạc Quốc tế tại Perth, Úc châu, Khê được Bs Nguyễn Lưu Viên vàø chuẩn tướng Công an Bùi Văn Nhu, bạn thâm giao thời Trung học Pétrus Ký, đứng ra bảo lãnh cho về VN ba tuần. Khê viếng xã Vĩnh Kim, Mỹ Tho, nơi sinh quán, gặp lại các con và em gái Trần Ngọc Sương, thân hữu văn nghệ như Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nam, Kim Cương, Phạm Duy, Vĩnh Bảo…, được tiếp đón nồng nhiệt và được mời nói chuyện nhiều nơi. Ngày chót, Phó Tổng thống Trần Văn Hương lại còn gắn cho Chương mỹ Bội tinh hạng nhứt tiếp theo Văn hóa Bội tinh của Bộ Giáo dục. Khi lãnh huy chương Miền Nam, Khê nơm nớp sợ phản ứng của Hà Nội. Khê ghi trong Hồi ký, quyển 3, trang 16: “Nếu họ (ám chỉ nhà chức trách Sàigòn) ghi trong giấy chứng nhận là xét rằng tôi có công với Chánh phủ (Miền Nam), chắc chắn tôi sẽ phản đối ngay vì “danh không chánh ngôn không thuận” (sic)
. Khê còn tiết lộ thêm không nhập Pháp tịch tuy có thẻ thường trú. Quy chế này buộc anh phải trở lại Pháp khai thuế mỗi năm và cho phép anh được Sở Bảo hiểm Xã hội Pháp bồi hoàn 100% chi phí thuốc men và trị bịnh[1]. Để giữ ghế đại diệân Việt Nam trong tổ chức Unesco, anh không bỏ quốc tịch VN, bởi thế anh gặp khó khăn trước 1975 mỗi khi cần lấy hộ chiếu để xuất ngoại. Các Tòa đại sứ của hai Chính phủ Hà Nội và Sài gòn đều bắt đợi để điều tra. Đại sứ VNCH tại Paris đã ra lệnh trước 1972 rút sổ thông hành khiến cho Khê trở thành vô quốc tịch, apatride. Chính phủ Pháp phải cấp tạm titre de voyage và cho Khê hưởng quy chế thướng trú vì anh làm việc cho CNRS và UNESCO. Chính quyền Hoa kỳ cũng đã mấy lần bác đơn của Khê xin nhập nội nước Mỹ vì cho Khê là thành phần thiên tả.
Theo Trần Văn Khê, những hiểu lầm về chính kiến với đồng bào Việt hải ngoại, đặc biệt ở Mỹ, lần hồi được giải tỏa, khi họ nhận thấy rằng - qua những lần nói chuyện và biểu diễn – Khê chỉ họat động văn hóa thuần túy, không lệ thuộc vào một sự chỉ huy nào của chính trị. Âm nhạc và nghệ thuật đã đặt được nhịp cầu cảm thông để mọi người đến vớùi nhau. Khi người viết hỏi vặn Khê: CS thuần túy có tôn trọng Văn hóa hay không? thật sự, có một Văn hóa CSVN hay không? Khê cười, không trả lời.
Khê nghĩ chính quyền CS tại VN có nhiều khuyết điểm và cần thời gian để cải tiến.Tháng 3.1976, Khê trở về VN lần đầu tiên sau chiến tranh. Vừa đến khách sạn, Công an tịch thu hộ chiếu. Tại TPHCM, Khê phải nạp bản văn bài nói chuyện để kiểm duyệt trước khi xuất hiện trên Đài truyền thanh, truyềân hình do bạn thân Huỳnh Văn Tiểng làm giám đốc.Ai muốn vô khách sạn quốc tế phải có giấy phép Bộ Nội vụ. Tuy thế, Khê vẫn tin chỉ có Xã hội chủ nghĩa mới có thể bứng Đế quốc ra khỏi VN.
“Tiếng Gọi Sinh Viên” trở thành Quốc ca VN
Năm 1947, trước khi về nước lập chính phủ, cựu hoàng Bảo Đại mời nhiều nhân vật như ông Ngô Đình Diệm, Bs Phan Huy Quát, Bs Lê Văn Hoạch, Trần Văn Hữu, Nguyễn Tôn Hoàn…qua nhóm tại Hồng Kông. Hội nghị đã chọn làm quốc kỳ lá cờ vàng ba sọc đỏ do họa sĩ danh tiếng Lê Văn Đệ vẽ ra. Chính Bs Nguyễn Tôn Hoàn đề nghị – và được chấp nhận – lấy bản “Tiếng gọi Sinh viên” làm quốc ca, với tên mới “Thanh niên Hành Khúc’. Lời nhạc cũng thay đổi thành:
Này thanh niên ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng,
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống..v..v..
Đầu năm 1954, khi lên nắm quyền, Thủ tướng Ngô Đình Diệm muốn chọn bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” làm qúốc ca nhưng cuối cùng, Quốc hội VNCH quyết định giữ bài “Thanh Niên Hành Khúc” với lời mới:
Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống..v..v..
Từ đó bản quốc ca này đi sâu vào lòng dân tộc. Biết bao chiến sĩ đã hy sinh vì nó. Sau 1975, có vài đề nghị thay đổi quốc ca nhưng công luận không chú ý đến .
http://hqvnch.net/media/media2/

quoccaviet.wma
Click vào hình để nghe bản nhạc QUỐC CA

http://hqvnch.net/media/media2/

quoccaviet.wma
Click vào hình để nghe bản nhạc QUỐC CA










