
Huệ Vũ
Cuộc chạy đua giành sự chỉ định của đảng Dân Chủ vẫn còn diễn ra quyết liệt giữa hai ứng cử viên Barack Obama và Hillary Clinton. Trong hai người này ai sẽ là người chạy đua với Nghị sĩ John McCain trong tháng 11, và trong ba người ai sẽ là tân tổng thống Hoa Kỳ có lẽ bây giờ cũng khó ai tiên đoán được nếu không có tài vị bốc tiên tri. Nhìn lại cuộc chạy đua sơ bộ giữa bà Clinton và ông Barack giống như tình trạng khí hậu do hâm nóng điạ cầu thay đổi, trở nên bất thường, nắng mưa bất chợt, nên các cơ quan thăm dò uy tín đã nhiều lần đưa ra những con số ..trật.. be bét!
Ông John McCain hay bất cứ người nào trong hai ứng cử viên Dân Chủ đắc cử trong tháng 11, thì người thay thế Tổng thống George W. Bush trong đầu năm 2009 cũng sẽ trở thành vị tổng thống chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ: "Tổng thống" McCain sẽ là vị tổng thống già nhất trong lịch sử lúc đắc cử nhiệm kỳ đầu tiên. "Tổng thống" Obama sẽ vị tổng thống da đen đầu tiên, còn nếu bà Hillary đắc cử dĩ nhiên sẽ là "nữ tổng thống" đầu tiên. Cả ba nhân vật có thể trở thành tổng thống đầu tiên chưa từng có trong lịch sử này sẽ thay thế cho vị tổng thống cũng chưa từng có trong lịch sử với con số IQ thấp nhất, và theo thăm dò mới nhất của CNN/ Gallup công bố ngày 1/5/2008 vừa qua, tỷ lệ không chấp nhận (disapproval) đối với tổng thống Bush là 71%, là mức không chấp nhận cao nhất trong lịch sử tổng thống Hoa Kỳ. Ông Keating Holland, giám đốc thăm dò CNN nói rằng đây là lần đầu tiên mà một tổng thống có mức không chấp thuận vượt qua con số 70%. (No president has ever had a higher disapproval rating in any CNN or Gallup Poll; in fact, this is the first time that any president''s disapproval rating has cracked the 70 percent mark,".
Vị tổng thống có mức không chấp thuận vượt con số kỷ lục 70% này, sau khi ra đi sẽ trịnh trọng trao lại cho người kế vị, dù là ai, Cộng Hoà hay Dân Chủ, nhiều gánh nặng vĩ đại gồm: 2 cuộc chiến tranh, hoà bình Trung Ðông, và nền kinh tế đang bước tới ngưỡng cửa suy thoái.
Hai cuộc chiến tranh và là hai mặt trận nằm trong cuộc chiến chống khủng bố của chính phủ Bush, nhưng có hai sắc thái khác nhau. Cuộc chiến là cuộc chiến được thế giới ủng hộ, NATO giữ vai trò chính và cũng được dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ. Thăm dò mới nhất cho thấy trên 70% dân chúng Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ cuộc chiến ở . Ngược lại chiến tranh Iraq là cuộc chiến tốn kém nhất và đã gây bất mãn trên dư luận quốc tế, cũng như chia rẽ trong dân chúng Hoa Kỳ. Hai ứng cử viên Dân Chủ hứa hẹn mau chóng rút quân ở Iraq về nước, ứng cử viên John McCain giống như Tổng thống Bush cho rằng rút quân về nước là đầu hàng, là thất bại đối với al-Qaeda. Theo kết quả thăm dò của viện Gallup công bố ngày 24/4/08, trên 63% dân chúng Hoa Kỳ cho rằng chiến tranh là cuộc chiến sai lầm. Kết quả thăm dò ngày 1/5/08, đánh dấu 5 năm Tổng thống Bush lên hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln tuyên bố "Mission Accomplished" của CNN/Gallup lại cho thấy 68% dân chúng chống chiến tranh Iraq. Kết quả thăm dò của Gallup ngày 13 tháng 3 đánh dấu chiến tranh Iraq sau 5 năm, 60% dân chúng Hoa Kỳ muốn rút quân về nước theo một thời biểu nhất định, 18% muốn lập tức rút quân về nước. Cuộc chiến đến nay đã làm cho 4.063 quân nhân tử thương, 29.828 quân nhân bị thương. Con số người thiệt mạng chưa có thống kê chính xác, nhưng mỗi tháng ít nhất vài trăm người. Con số tử vong của thường dân Iraq trong tháng 2/2008 là 633 người, so với tháng 2 năm 2007, lúc Hoa Kỳ quyết định tăng quân tới Iraq, là 1.645 người. Trong tháng 3 vừa qua, chính phủ Thủ tướng al Maliki đã quyết định đập tan lực lượng dân quân Mehdi của ông đạo al-Sadr, chiến tranh đã diễn ra trong thành phố dầu lửa Basra, các thành phố người Shiite ở miền Nam và thành phố Sadr ở thủ đô Baghdad, mỗi ngày hàng chục người chết. Bộ Y Tế tuyên bố trong tháng 4 có 968 thường dân thiệt mạng. Theo ước tính của Bộ Y Tế con số thường dân bị chết vì bạo động từ tháng 3/2003 tới tháng 6/ 2006 là 151,000 người. Con số tờ báo y tế Lancet đưa ra là 601,027 người. Tổ chức Iraq Body Count (IBC), một tổ chức độc lập của Mỹ và Anh, đưa ra khoảng từ 80,000 tới 83,000. Theo một phúc trình của Liên Hiệp Quốc chỉ riêng năm 2006 con số người bị chết là 34,000 người. Những con số dù khác nhau này đều có thể nói lên một điều: chính người dân là nạn nhân lớn nhất của cuộc chiến. Họ đã không thể tìm được cuộc sống bình an sau khi nhà độc tài Saddam bị lật đổ. Ngoài cái giá sinh mạng, cuộc chiến tranh Iraq trong 5 năm đã vượt qua số tiền mà Hoa Kỳ đã chi tiêu trong cuộc chiến Việt Nam. Hiện nay mỗi tháng cuộc chiến tiêu tốn 12 tỷ mỹ kim. Chiến tranh có thể nói là cuộc chiến hoàn toàn sai lầm. Hoa Kỳ đã vội vã đưa quân tới lật đổ Saddam Hussein vì cho rằng ông ta đang thủ đắc vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) có thể cung cấp vũ khí này cho khủng bố al Qaeda. Trước khi đưa quân qua , Bộ trưởng quốc phòng Donald H. Rumsfeld cho rằng chiến tranh chỉ tốn từ 50 tới 60 tỷ mỹ kim. Thứ trưởng Paul D. Wolfowitz nói rằng số tiền Hoa Kỳ chi ra này sẽ có thể bù lại do lợi tức khai thác dầu lửa . Phó tổng thống Dick Cheney khẳng định người dân sẽ mang vòng hoa chào đón quân đội Hoa Kỳ. Tất cả nguyên nhân thúc đẩy đưa tới chiến tranh và những ước tính đối với chiến tranh đều sai lầm. Vũ khí hủy diệt hàng loạt không tìm ra! Saddan Hussein không có liên hệ gì với al Qaeda vì dễ hiểu ông ta là một nhà độc tài thế quyền, cũng là một kẻ thù của al Qaeda, tổ chức khủng bố chủ trương Hồi giáo cầm quyền! Số tiền ước tính 50 tỷ ban đầu của Bộ Quốc Phòng hiện đã lên gấp 11 lần, vượt qua chiến phí Việt , chỉ còn thua chiến phí của Ðệ Nhị Thế chiến! Theo kinh tế gia Joseph E. Stiglitz, số tiền tổn phí trực tiếp cho chiến tranh cộng với ảnh hưởng xã hội và kinh tế, cuộc chiến Iraq sẽ thiệt hại Hoa Kỳ 3,000 tỷ mỹ kim. Nếu số tiền này dùng để viện trợ cho các nước Hồi Giáo, các quốc gia nghèo nàn trên thế giới thì có thể chinh phục được con tim, thay đổi đời sống của hàng trăm triệu người trên thế giới. Tuy nhiên, số tiền lớn lao này và xương máu thanh niên Hoa Kỳ đổ vào chiến tranh lại làm cho người Hồi giáo chống Hoa Kỳ nhiều hơn. Theo thăm dò của WorldPublicOpinion thực hiện tại 4 nước Hồi giáo: Morocco, Ai Cập, Nam Dương và Pakistan, công bố ngày 27 tháng 4 năm 2007, trung bình 79% cho rằng Hoa Kỳ muốn làm suy yếu và chia rẽ thế giới Hồi giáo; 79% cho rằng Hoa Kỳ gây chiến chỉ nhằm kiểm soát nguồn dầu lửa Trung Ðông. Chủ biên của WorldPublicOpinion là ông Steven Kull nói rằng trong khi Hoa Kỳ theo đuổi cuộc chiến chống khủng bố, người Hồi giáo đã cho rằng Hoa Kỳ đang chống lại thế giới Hồi giáo, một tỷ số rất lớn người Hồi giáo tại bốn nước Hồi giáo có thể coi là thân thiện với Hoa Kỳ lại mạnh mẽ ủng hộ loạn quân tấn công quân đội Hoa Kỳ ở Iraq và Afghanistan. Con số này là 80% ở Ai Cập, 68% ở , 50% ở . Một thăm dò của World Public Opinion công bố trong ngày 27 tháng 9 năm 2006, trên 71% dân chúng muốn Hoa Kỳ rút khỏi trong vòng một năm. 82% người Shiite cho rằng Hoa Kỳ hiện diện ở chỉ tạo nên bạo động thay vì ngăn cản. Người Sunnis thì gần như thống nhất với 97% cho rằng bạo động ở vẫn tiếp diễn là do sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ.
Yếu tố lớn nhất để quyết định chiến thắng là lòng dân, khi lòng dân trong nước không thuận, khi người lính tới chiến trường chỉ có thể ở trong trại quân hay ngồi trên chiến xa mà không dám tiếp xúc với người dân địa phương, bị người dân địa phương coi là thù nghịch, theo binh pháp xưa nay là cuộc chiến không thể nào đưa tới chiến thắng. Làm sao đưa quân về nước, nhưng có thể giúp Iraq tránh khỏi cảnh nội chiến nồi da xáo thịt có lẽ là giải pháp tốt nhất mà vị tổng thống "bất thường" mới của Hoa Kỳ bắt buộc phải làm.
Afghanistan là chiến trường đang có nhân tâm thuận lợi, người dân ở Hoa Kỳ và các nước Âu Châu đều ủng hộ, Liên hiệp quốc cũng ủng hộ, ai cũng thấy rõ quốc gia này vẫn là cái nôi nuôi dưỡng khủng bố. Ðáng lẽ sau khi lật đổ chế độ Taliban, Hoa Kỳ tập trung khả năng bình định, tiêu diệt tận gốc khủng bố Taliban và al Qaeda đang ẩn trốn trong vùng biên giới Pakistan, mạnh mẽ viện trợ kinh tế và quân sự cho chính phủ Tổng thống Karzai, thay đổi đời sống của người dân Afghanistan, thì Hoa Kỳ lại mở thêm mặt trận Iraq, công tác bình định Afghanistan chỉ còn là ưu tiên thứ yếu. Hậu quả là Taliban lần lần phục hồi sức mạnh. Cuộc chiến chống Taliban ngày nay trở thành một cuộc chiến không chiến tuyến, Taliban đã áp dụng chiến thuật du kích như chiến tranh Việt phối hợp với chiến thuật khủng bố giống như . Trong năm 2007 có tất cả 170 vụ đánh bom tự sát ở Afghanistan, bạo động tăng 27% so với năm 2006. Thủ đô Kabul liên tiếp bị đánh bom tự sát. Ngày 27 tháng 4 vừa qua, chỉ với 6 tên khủng bố, chúng đã tấn công buổi lễ kỷ niệm lần thứ 16 Liên minh Mujahideen đánh bại chính phủ bù nhìn Cộng sản do Liên Xô dựng lên, được tổ chức gần dinh tổng thống, làm cho Tổng thống Karzai và tất cả bộ trưởng, dân biểu, đại sứ các nước và chỉ huy trưởng lực lượng quốc tế là tướng Dan McNeill của Hoa Kỳ phải nằm xuống đất tránh đạn. Quân đội quốc tế hoạt động ở Afghanistan dưới mệnh lệnh chính đáng của Hội Ðồng Bảo An được gọi là Lực Lượng Trợ Giúp An Ninh Quốc tế (ISAF, International Security Assistance Force) gồm có quân đội các nước NATO và Không NATO như Canada, Úc, Tân Tây Lan... nhiều nước chỉ đóng góp vài quân nhân như Georgia chỉ 1 người, Áo 2 người, Singapore 2 người.. nhiều nhất là Hoa Kỳ 14,000 người. Tổng số quân đội đặt dưới bộ chỉ huy ISAF khoảng 47,000 người. Hoa Kỳ hiện có 32.500 quân ở Afghanistan, ngoài 14,000 đặt dưới sự chỉ huy của ISAF, số còn lại hoạt động riêng, dùng huấn luyện quân đội Afghanistan, hay cơ động truy lùng lãnh tụ Taliban và al-Qaeda. Tình hình chiến sự gia tăng, ISAF cần thêm quân, nhưng Hoa Kỳ từ lâu áp lực các nước NATO gởi thêm quân tới đã không chứng tỏ thành công. Tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở thủ đô Bucharest trong đầu tháng 4 vừa qua, chỉ có Tổng thống Pháp Sarkozy hứa hẹn gởi thêm một tiểu đoàn 700 người. Tuy nhiên lời hưá hẹn này đang bị 68% dân chúng Pháp chống đối! Tình hình Aghanistan càng ngày càng tê hại hơn. Trong đầu năm nay, nguyên chỉ huy trưởng NATO cho tới năm 2006 là tướng hồi hưu James L. Jones cảnh báo phải cẩn thận ở Afghanistan , NATO có thể bị thất bại, "Afghanistan remains a failing state. It could become a failed state". Tướng Jones kêu gọi phải có những hành động khẩn cấp đối với chiến trường này. Một bản phúc trình của Nhóm Nghiên cứu Afghanistan (Afghanistan Study Group) do Trung Tâm Nghiên Cứu của Tổng thống (Center for the Study of the Presidency) thành lập cũng cảnh cáo rằng quân đội quốc tế ở Afghanistan không đủ để ổn định tình hình, và viện trợ kinh tế cũng quá ít để giúp ổn định lòng dân (The United States and the international community have tried to win the struggle in Afghanistan with too few military forces and insufficient economic aid..).
Liên Xô đã xâm chiếm Afghanistan trong năm 1979 với khoảng 100,000 quân và tới năm 1986 quân số của chính phủ bù nhìn Afghanistan cũng đã tăng lên con số trên 300,000 người. Hiện giờ quân đội của chính phủ chỉ mới huấn luyện được khoảng 57,000 người và họ chưa hoàn toàn sẳn sàng chiến đấu. Quân đội quốc tế cộng với quân đội Hoa Kỳ ở Afghanistan hiện nay khoảng 70,000 người, nhưng hầu hết quân đội các nước hiện diện ở Afghanistan đều giữ nhiệm vụ yểm trợ, không tác chiến. Gần như quân đội 4 nước Hoa Kỳ, Anh, Canada và Hoà Lan phải bao thầu, đảm nhiệm công tác chiến đấu trên toàn lãnh thổ. Sự bất công này đã làm cho đe doạ rút quân về nước! Tình hình chiến sự đòi hỏi và tình hình "tinh thần" của các nước NATO hiện nay cho thấy thành bại ở chiến trường Afghanistan cũng chỉ trông chờ vào Hoa Kỳ. Giải quyết Taliban tận gốc, giúp chính phủ Afghanistan đứng vững, tìm giải pháp và chiến lược thích ứng để khỏi theo chân Liên Xô trước đây cũng sẽ là gánh nặng mà Tổng Thống Bush sẽ "ưu ái" trao lại cho người tân tổng thống trong đầu năm 2009.
Bên cạnh hai cuộc chiến lớn còn đang dang dở, điều Tổng Thống Bush hy vọng nhất là Do Thái và Palestine sẽ ký kết hiệp ước hoà bình, thành lập quốc gia Palestine trước khi ông rời Toà Bạch Ốc lại hình như chỉ là một ước mơ mà thôi. Rõ rệt từ hội nghị hoà bình Trung Ðông ở Annapolis trong cuối tháng 11/07 cho đến nay con đường đi tới hoà bình không có chút tiến bộ nào. Chiến sự, chết chóc, khủng bố vẫn còn diễn ra hàng ngày. Thủ tướng Olmert hiện nay không phải là người chủ trương hoà bình và nhượng bộ. Lập trường của chính phủ Do Thái trước sau vẫn là chỉ ký một hiệp ước khung sườn, đồng ý một khái niệm về quốc gia Palestine mà không phải là một hiệp ước thành lập quốc gia Palestine, cùng sống chung song song với Do Thái như chính phủ Bush mong muốn. Do Thái vẫn tiếp tục xây cất các khu định cư trên lãnh thổ Palestine . Phiá Palestine, sau khi Hamas chiếm quyền kiểm soát dải Gaza trong tháng 6/07, Fatah và Hamas trở thành thù nghịch. Tổng thống Abbas cũng không thể kiểm soát chính cánh dân quân của Fatah là Binh Ðoàn Tử Ðạo al-Asaq. Tổ chức này cũng giống như Hamas vẫn thường xuyên bắn rocket sang Do Thái. Lập trường của Do Thái cho thấy hoà bình còn xa vời, nội bộ Palestine cũng cho thấy hoà bình không mấy hy vọng thành công trong vài tháng tới. Hiệp ước Oslo, Na Uy, ký kết ngày 20 tháng 8 năm 1993 giữa Thủ tướng Yitzhak Rabin và Chủ tịch Yasser Arafat trước sự chứng kiến của Tổng thống Bill Clinton là bước tiến quan trọng đầu tiên có thể đưa đến hoà bình Trung Ðông. Năm 1994, Thủ tướng Yitzhak Rabin, Chủ tịch PLO Yasser Arafat đã được trao tặng giải Nobel Hoà Bình do ký hiệp ước này, nhưng sau đó, tháng 11 năm 1995, Thủ tướng Rabin đã bị thành phần Do Thái cực đoan chống hiệp ước Oslo ám sát.
Có thể nói điều hy vọng nhất mà Tổng thống Bush có thể làm được là kết thúc vấn đề nguyên tử Bắc Hàn trước khi rời nhiệm sở. Tuy nhiên, theo hiệp ước Bắc Kinh ngày 13 tháng 2 năm 2007, Bình Nhưỡng phải đưa ra bản công bố kê khai hoạt động nguyên tử của nước này vào cuối năm 2007, nhưng cho tới nay Bình Nhưỡng đã không làm điều này. Sau Khi đắc cử, Tổng thống Lý Minh Bác (Lee Myung-bak) bác bỏ chính sánh AÔnh Thái Dương chủ trương hai bên Nam -Bắc hoà hoãn để dần dần đi tới thống nhất của những vị tổng thống tiền nhiệm Kim Ðại Trung (Kim Dae-jung) và Lư Vũ Huyễn (Roh Moo-hyun), đưa ra chủ thuyết MB (MB doctrine), chủ trương cứng rắn với Bắc Hàn, thắt chặt liên hệ với Hoa Kỳ. Chính sách mới này đã làm cho tình hình bán đảo Triều Tiên nổi sóng trở lại. Bắc Hàn lấp tức đóng cửa khu kỷ nghệ Khai Thành ( Kaesong ), bắn hoả tiển lên mặt biển thị uy, tăng cường quân đội tới biên giới trở lại. Tình hình căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên có thể làm hy vọng giải quyến vấn đề nguyên tử Bắc Hàn trở nên bế tắc, có thể sẽ không giải quyết nổi trước khi Tổng thống Bush rời chức vụ. Trong cuối tháng 4, chính phủ Bush đưa ra bản phúc trình của cơ quan CIA chứng minh Bắc Hàn đã giúp Syria xây dựng một lò phản ứng vừa sắp hoàn tất và đã bị phi cơ Do Thái thả bom phá hủy trong tháng 9/2007. Tổng thống Bush tuyên bố Hoa Kỳ đưa ra bằng chứng nhằm cảnh cáo tham vọng nguyên tử của Damascus, Bình Nhưỡng và Tehran . Ðiều này có thể cho thấy những vấn đề đối với ba quốc gia từng bị Tổng Thống Bush gọi là Trục Ma Qủy cũng sẽ là di sản mà Tổng thống Bush sẽ trao lại cho người kế vị.
Nhưng gánh nặng nhất mà người tân tổng thống Hoa Kỳ phải đối phó là nền kinh tế đang suy thoái. Ðầu tháng 4 vừa qua, Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tuyên bố nền kinh tế thế giới phát triển chậm lại trong năm nay và nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ ở trong tình trạng gần suy thoái (near recession), phát triển chỉ khoảng 0.5% trong năm nay, và 0.6% trong năm 2009. Theo thăm dò của viện Gallup ngày 4 tháng 5 vừa qua, 85% dân chúng nói rằng nền kinh tế đang trở nên tồi tệ hơn. Theo kết quả thăm dò ngày 1/5/08, 42% cho rằng giá xăng dầu đang ở trong tình trạng khủng hoảng. Những kết quả thăm dò mới nhất của Gallup cho thấy 55% dân chúng lo sợ không thể duy trì cuộc sống bình thường, 97% lo âu đối với giá xăng, 90% lo âu đối với giá lương thực, 75% lo âu đối với tiền điện... Con số lo ngại đối với đời sống ngày càng tăng lên. Trả lời phỏng vấn của đài CNBC trong ngày 8/4/08, Cựu chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang là ông Alan Greenpan nói rằng người tiêu thụ đang bắt đầu co lại, thị trường xe hơi teo lại, sản xuất chậm lại, nền kinh tế Hoa Kỳ đang bắt đầu của những cơn đau suy thoái. (Consumers are beginning to shrink in, the automobile markets are beginning to contract, production is beginning to ease, and we are in the throes of recession).
Có nhiều yếu tố góp phần cho sự sự suy thoái hay "gần suy thoái" của nền kinh tế Hoa Kỳ như phá sản của ngành cho vay điạ ốc, vỡ nợ tín dụng gây khủng hoảng thị trường tài chánh, đe doạ lạm phát, đồng dollar mất giá..v.v. Ðây là điều của các nhà chuyên viên kinh tế của chính phủ phải phân tích căn bệnh và tìm cách chạy chưã. Sự suy thoái là do chính sách kinh tế chi nhiều hơn thu, thâm thủng ngân sách kéo dài hàng năm của chính phủ Bush, hay là do những nguyên nhân nào khác đi nữa, thì thực tế là chính phủ Bush ra đi sẽ để lại một nền kinh tế đang làm cho dân chúng trong nước quan tâm, lo lắng, và người tân tổng thống phải giải quyết mối lo này cho người dân.
Hình như tất cả những gánh nặng mà Tổng thống Bush trao lại cho người tân tổng thống trong năm 2009 đều rất nặng nề, và chọn mặt gởi vàng trong tháng 11 sắp tới cũng cần được coi là bổn phận của mọi công dân Hoa Kỳ gốc Việt.
Huệ Vũ
