iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 16/06/2007 à 16:41
Par tapinlu



CON NHỚ NGÀY CHA ÐI TÙ
 
 
Con nhớ ngày cha đi tù                                  
mắt mẹ ướt thâm quầng đêm khó ngủ               
gặm củ sắn mẹ dành cho chưa đủ              
con đói cha ơi!                                             
 
Trạc phân bò năm ấy đội qua sông          
nước ngập ướt tràn xuống môi con mặn    
sông vô tình vẫn trôi bình lặng                      
bão tố cha ơi ! Bão tố tơi bời !                         
 
Lũ lụt đi qua, rơm ướt mẹ phơi                     
cong người xuống, mẹ gồng trên vai hẹp      
gánh cả giang sơn, đầu trần, không dép
mẹ thẫn thờ, lảo đảo gọi tên cha            
 
Năm tháng đi qua, năm tháng đi qua                  
mẹ vẫn nép cuộc đời trong rơm rạ                 
con giấu tuổi thơ vào nỗi buồn lớn quá  
gánh tháng ngày tát cạn biển thời gian
 
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC                                                       
VietNam

 

English version:
 
THE DAYS DAD GOT IMPRISONED
 
How harrowing were the days Dad got imprisoned:
Mom could hardly sleep, got her eyes wet, rings wizened. 
Gnawing the tiny rootstock Mom spared for me: how sad!
I was so hungry, Dad!
 
The cow feces I bore on my head across the river,
Wetted, dripped from the basket, salted my lips.
The heartless stream was still flowing to make me shiver.
Oh Dad! such storms had risen to break life into chips.
 
After the flood, Mom dried the damp hay nearly kaput;
Humping her back, she carried on either slender shoulder
The burden of family responsibility, bareheaded, barefoot;
She staggered, listlessly calling for Dad, the householder...
 
Months had thus slipped away, and years gone by;
Mom still hid and rested her life in thatch, straw and slime.
I concealed my youth in such sadness as the immense sky,
Shouldering my days struggling to drain the sea of time.
                       
THANH-THANH

http://nhacviet.vietshare.com:81/
bannhacviet/cha.asx



Ngày Anh Về

    Nhạc sĩ: Quốc Trung  
Ca sĩ: Hồng Nhung

Những con đường bỗng vui là thế
Vì biết anh về lá xanh gọi gió hè
Rất yêu đời mấy ô cửa nắng
Vì bíêt anh về sớm nay cửa sáng ngời

Em vẫn mong chờ anh
Vẫn luôn mong chờ anh
Bước chân thật nhanh anh về với em
Nắng xanh vờn nắng
Gió xôn xao gọi mây
Lá xanh ngời là anh đang tới

Những con đường bỗng vui là thế
Vì biết anh về lá hoa rực phố hè
Rất yêu đời mãi trên trời thắm
Vì biết anh về áng mây lộng lẫy nắng hồng

Dưới khu vườn sớm nay lặng lẽ
Vì biết anh về lũ chim rộn hót kìa
Rất yêu đời khóm hồng đầu ngõ
Vì biết anh về bỗng hương tỏa ngát trời

Em mong chờ anh
Vẫn luôn mong chờ anh
Bước chân thật nhanh anh về với em
Nắng xanh vờn nắng
Gió xôn xao gọi mây
Lá xanh ngời là anh đang tới

Những con đường bỗng vui là thế
Và dưới khu vườn lũ chim rộn hót kìa
Những khóm hồng những ô cửa nắng
Vì biết anh về ngát thơm rực rỡ nắng hồng Rồi Có Lúc

Rồi có lúc bỗng ta yêu mối tình thơ
Rồi có lúc bỗng nhiên ta nhiều ước mơ
Tình trăm năm tim son sắt vui đợi chờ
Tình vô biên yêu thắm thiết không phai mờ
Anh cùng em đắm say ngẩn ngơ
Anh nhìn em dấu yêu vô bờ

http://nhacso.net/Music/nghe_song.asp?

id=100001839

Publié le 15/06/2007 à 21:23
Par tapinlu

                  
   

Nhạc sĩ  Văn Giảng -Thông Đạt

        http://www.khoa30.com/media/LucQuanVN.wma
                                                           
Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang
Đi đi đi, lời thề nguyền, tung gươm thiêng, thi gan trai
Đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi...

Trên đây là lời ca 8 trường canh đầu của bài hành khúc "Lục Quân Việt Nam" của Văn Giảng mà mọi người Việt Nam, từ cậu học sinh đến anh tân binh ở quân trường cũng như tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đều biết. Bài hát được tác giả viết vào năm 1950 với cung Ré trưởng, khi được đồng ca bởi một số đông người, đem lại cho người nghe một cảm giác như hăng say cương quyết, như nung chí anh hùng:

... Phá tan tành ầm ầm đoàn quân xông pha
Thét oai linh tung gươm giết tan quân thù
Đoàn hùng binh say sưa nhìn trong trời sương
Ta anh hùng đời đời lục quân Việt Nam...

Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế trong một gia đình trung lưu. Thừa hưởng năng khiếu thiên phú gia tộc về âm nhạc vì ông nội của Văn Giảng cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc rất giỏi cho nên Văn Giảng cũng có khiếu về âm nhạc từ lúc nhỏ và ngày còn bé, nghe người ta chơi một loại nhạc khí nào là ông có thể về mò mẫm tự học lấy và thành công trong việc xử dụng loại nhạc khí đó. Cũng như mọi người thích âm nhạc và quyết tâm chơi nhạc, loại đàn dễ học nhất cho mọi người là đàn mandoline, nhạc sĩ Văn Giảng cũng vậy, khi bắt đầu ông học đàn măng cầm và sau đó lần đến lãnh vực tây ban cầm.
Có một người bạn lớn tuổi hơn ông biết đàn tây ban cầm, Văn Giảng muốn tầm sư học đạo, đến nhà ông này để nhờ chỉ dạy nhưng người này bắt ông phải trả công bằng một cây đàn guitare. Làm gì có tiền ở lứa tuổi còn nhỏ ? Văn Giảng về nhà tìm tòi tự học lấy và chỉ một thời gian sau, ông vượt qua tài nghệ của ông "thầy hụt" kia và ông này phải nhờ Văn Giảng chỉ lại cho. Nhờ có biệt tài như vậy mà nhạc sĩ Văn Giảng có thể xử dụng rành rẽ nhiều nhạc khí cổ kim, trở thành một nhạc sĩ tài giỏi và đào tạo rất nhiều môn sinh có trình độ sau này.
Không những chỉ trong lãnh vực âm nhạc mà thôi, nhạc sĩ Văn Giảng còn nổi bật trong lãnh vực văn hóa, mọi thứ, mọi việc ông đều tự học như vừa làm giáo sư âm nhạc ở Huế, ông vừa tự học để rồi sau đó lặn lội vào Saigon thi lấy bằng tú tài và bằng cử nhân.
Ông tốt nghiệp Anh văn ở Hội Việt Mỹ và trúng tuyển cuộc thi tuyển sinh viên nghiên cứu về âm nhạc ở ngoại quốc, được xuất dương du học tại trường Âm nhạc lớn của Hoa Kỳ ở Hawaii và Bloomington. Ở Hoa Kỳ, Văn Giảng đã tốt nghiệp với lời khen của Ban Giám khảo và được cấp thêm học bổng để nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm Giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế.
Phần đông những sáng tác của nhạc sĩ Văn Giảng thuộc loại hùng ca như "Thúc Quân" (1949), "Lục Quân Việt Nam" (1950), "Đêm Mê Linh" (1951), "Quân Hành Ca" (1951), "Qua Đèo" (1952), "Nhảy Lửa" (1953) v.v... nhưng ít người được biết nhạc sĩ Văn Giảng còn có một biệt hiệu khác là "Thông Đạt" với ca khúc bất hủ "Ai Về Sông Tương" mà mọi người trong giới học sinh, sinh viên và ở lứa tuổi 40 trở lên đều biết:

Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương
Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương...

Bài ca này được tác giả viết vào năm 1949 với cung La trưởng, uyển chuyển tha thướt trong phần lời lãng mạn, trữ tình, là một bản nhạc gối đầu giường, nằm lòng của thanh thiếu niên nam nữ trong những thập niên 50 - 60.
Về ca khúc này, có một câu chuyện khá thú vị như sau: Trong những thập niên 1940, 1950, ở Huế ai ai cũng biết ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế (xin đừng lẫn lộn với nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ở Saigon do nhạc sĩ Lê Mộng Bảo làm giám đốc) in ấn và phát hành một số nhạc phẩm ít oi của thời đó.
Là nhạc sĩ, đương nhiên Văn Giảng chơi thân với ông Tăng Duyệt vì một số hành khúc của ông đều do nhà xuất bản Tinh Hoa Huế của ông Tăng Duyệt ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông Tăng Duyệt có ngụ ý bảo rằng nhạc sĩ Văn Giảng chỉ viết được những bài hùng ca thôi còn về những bài tình ca không phải sở trường của Văn Giảng.
Nghe vậy hay vậy, không cần phải trả lời. Nhạc sĩ Văn Giảng về nhà, âm thầm lấy giấy bút viết bài "Ai Về Sông Tương", không ghi tên tác giả là Văn Giảng như mọi khi mà đề tên tác giả là Thông Đạt, một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc Việt Nam thời đó. Bản "Ai Về Sông Tương" được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon và cả nước đều nghe "Ai Về Sông Tương" của Thông Đạt trong thời gian sau đó:

... Thu nay về vương áng thê lương
Vắng người duyên dáng tôi thương
Mối tình tôi vẫn cô đơn
Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em
Mơ hoài hình bóng không quên
Hương tình mộng say dịu êm...

Sau nhiều lần được nghe bài "Ai Về Sông Tương" quá hay trên làn sóng điện, qua các đài phát thanh, ông Tăng Duyệt gặp Văn Giảng và hỏi ở trong giới nhạc, Văn Giảng có biết Thông Đạt, tác giả bài "Ai Về Sông Tương" là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩm này nhưng Văn Giảng tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai!
Rồi một hôm có hai người bạn trẻ của Văn Giảng là nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, tác giả bài "Mùa Thi" (Thi ơi là thi, sinh mi làm chi, "bay" nghẹn ngào, "bám", ồn áo, buồn vui vì mi) và nhà văn Lữ Hồ tình cờ đến nhà Văn Giảng chơi và thấy bản thảo bài "Ai Về Sông Tương" với tuồng chữ và lối chép nhạc của nhạc sĩ Văn Giảng trong xấp nhạc trên bàn viết nên nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà Văn Giảng và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một ca khúc với thể điệu "Blues" tha thướt trong tay để mà ngân nga cho đỡ thương đỡ nhớ những khi trái tim rung động vì một bóng hình nào đó.
Nhạc phẩm "Ai Về Sông Tương" đã chiếm kỷ lục tái bản thời đó với 6 lần in thêm trong tháng đầu tiên và được thính giả Đài Phát thanh Pháp Á chọn là bài nhạc hay nhất trong năm 1949. Qua bút hiệu Thông Đạt, chúng ta còn được thưởng thức những sáng tác sau đây: "Đôi Mắt Huyền", "Hoa Cài Mái Tóc", "Tình Em Biển Rộng Sông Dài", "Xin Đừng Chờ Em Nữa" v.v...
Ngoài hai bút hiệu trên, Văn Giảng - Thông Đạt còn một bút hiệu thứ ba để sáng tác những bài Phật giáo. Đó là bút hiệu Nguyên Thông được dùng để ghi trên những nhạc phẩm như "Từ Đàm Quê Hương Tôi", "Mừng Đản Sanh", "Ca Tỳ La Vệ", "Vô Thường", "Hoa Cài Áo Lam" v.v...
Trong thời gian làm nhạc trưởng Đài Phát thanh Huế và giáo sư âm nhạc tại các trường Trung học Hàm Nghi, Quốc Học và trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học, nhạc sĩ Văn Giảng có sáng tác và ấn hành một tập nhạc dành cho thiếu nhi mang tên :"Hát Mà Học" gồm có 10 ca khúc: Đến Trường, Chơi Ná, Chê Trò Xấu Nết, Mèo Chuột, Tham Mồi, Gương Sáng Lê Lai, Quang Trung Hùng Ca, Trăng Trung Thu, Chúc Xuân và Tạm Biệt.
Cũng trong lãnh vực âm nhạc, nhờ xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc, Văn Giảng thích tìm tòi và nghiên cứu nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1956, ông đã tìm ra phương pháp ký âm cho nhạc sĩ cổ truyền có thể nhìn bài bản mà trình tấu chung với nhạc sĩ tân nhạc và từ đó, ông thành lập ban cổ kim hòa điệu "Việt Thanh", một ban nhạc đầu tiên trong nước dưới hình thức tân cổ hòa điệu với những nhạc khí tranh, tỳ, nhị huyền, nhị hồ, đàn nguyệt... hoà tấu chung với dương cầm, tây ban cầm, đại hồ cầm...
Trong phạm vi này, ông đã hoàn thành tác phẩm độc đáo "Ai Đưa Con Sáo Sang Sông", một bản đại hòa tấu, thời lượng 60 phút, trình diễn bởi các nhạc sĩ cổ truyền. Ông cũng đã soạn nhiều sách giáo khoa về âm nhạc, hoàn thành quyển "Kỹ Thuật Hoà Âm" dày 350 trang được dùng làm tài liệu dạy âm nhạc ở các trường.
Sau Tết Mậu Thân 1968, cảm thấy sinh sống ở Huế bất an - ông Tăng Duyệt, bạn thân của ông, đã chết trong biến cố này - nhạc sĩ Văn Giảng vào Saigon lập nghiệp từ năm 1969 và ông nhanh chóng hòa hợp với nhịp sống âm nhạc của thủ đô, soạn hòa âm cho hãng đĩa Asia - Sóng Nhạc, dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền hình.
Cũng trong thời gian này, một số nhạc phẩm tình cảm với bút hiệu Thông Đạt của ông được thành hình và tung ra thị trường. Đồng thời, Văn Giảng được Bộ Văn Hóa Giáo Dục đề cử làm Trưởng Phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật.
Năm 1970, ông được huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (âm nhạc loại A) với sáng tác phẩm "Ngũ Tấu Khúc" (Quintet for Flute and Strings). Cùng năm này, ông được chỉ định làm Giám đốc Nghệ thuật điều hành Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm 100 nghệ sĩ tân cổ nhạc và vũ, ban vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, ban vũ cổ truyền đại nội Huế do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba điều khiển, để tham dự Hội chợ Quốc tế Expo 70 tại Osaka (Nhật Bản).
Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1981 mới vượt biên đến đảo Natuna (Nam Dương) và sau đó được chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây, trong 6 tháng, Văn Giảng sáng tác được một số bài nói lên thân phận lạc loài của người dân mất nước mà bài đầu tiên là "Natuna người tình đầu" cùng một số 70 ca khúc khác.
Ngày 20/5/1982, Văn Giảng định cư tại Úc, ở đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách nhạc lý như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, hòa âm, sáng tác, học hát, học đàn v.v...
Ở đây, ông cũng đã sáng tác thêm nhiều tình khúc như: 12 tình khúc (Tập I), 12 Tình Khúc (Tập II) v.v... Những ai thiết tha với tân nhạc, muốn đi sâu, tìm hiểu hơn về sáng tác và hòa âm hoặc muốn trau dồi việc xử dụng các nhạc khí kim cổ, thiết nghĩ không gì bằng tìm các sách giáo khoa của nhạc sĩ Văn Giảng để đi đến nơi đến chốn. Văn Giảng hiện cư ngụ ở thành phố Footscray, bang Victoria (Úc Châu), điện thoại: (03) 9689-9623.
Ngoài một gia sản âm nhạc đồ sộ, từ những hành khúc hùng dũng đến những cung bậc uyển chuyển lả lướt của những bài tình ca qua những điệu nhạc vui tươi yêu đời dành cho thiếu nhi và những ca khúc uy nghiêm về Phật giáo, nhạc sĩ Văn Giảng còn đóng góp trong việc phổ biến âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại với một số lượng đáng kể về sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, chẳng những dành cho thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại mà cho cả người ngoại quốc muốn học hỏi và tìm hiểu về nền âm nhạc Việt Nam.
Một con người giản dị, khiêm nhường, không thích phô trương với một gia tài âm nhạc to lớn như thế của mình ẩn náu nơi một góc trời Đông sau ngày mất nước quả thật là một người đáng kính nể, đáng tôn thượng trong làng âm nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ Lê Dinh



Ai Về Sông Tương
Sáng tác : Thông Đạt (Văn Giảng)
Trúc Mai
Ai có về bên bến sông Tương,
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương.

Tháng với ngày mờ nhuốm đau thương,
Tâm hồn mơ bóng em luôn,
Mong vài lời em ngập hương.

Thu nay về vương áng thê lương,
Vắng người duyên dáng tôi thương,
Mối tình tôi vẫn cô đơn.

Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em,
Mơ hoài hình bóng không quên,
Hương tình mộng say dịu êm

Bao ngày qua, Thu lại về mang sầu tới
Nàng say tình mới hồn tôi tơi bời,
Nhìn hoa cười đón mừng vui duyên nàng:
Tình thơ ngây từ đây nát tan

Hoa ơi ! Thôi ngưng cười đùa lả lơi.
Cùng tôi buồn đắm đừng vui chi tình,
Đầy bao ngày thắm, dày xéo tâm hồn này
Lệ sầu hoen ý thu.

Ai có về bên bến sông Tương,
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Sao đành nỡ dứt tơ vương.

Ôi duyên hờ từ nay bơ vơ.
Dây tình tôi nắn cung tơ,
Dứt lòng sầu trách người mơ...


Thúc quân

Sáng tác: Văn Giảng
Trình bày: Hoàng Oanh


Dồn trong đêm vắng ngàn tiếng đồng loa vang lừng
Đầu người lô nhô sát theo bờ núi sông hò reo
Thây tan trong khói mây.
Tiến quân! Tiến quân theo!
Nơi chốn sa trường dân Nam hồn thúc oai vang đời
Việt Nam hận đời đời
Diệt quân Nguyên, quân lướt tới thây kề thây
Máu tuôn rơi theo mờ dương
Mây nước chập chùng đến đâu
Việt Nam hận đâu!

Nhìn trong hơi gió thoảng bóng quân Nam lướt đi
Thề cùng diệt tan giống tham tàn thúc quân vùng lên!
Nơi đây đất nước Nam biết bao đấng anh linh
Xác thân thay cùng cố tâm đền núi sông an nhà.
http://phoipha.org/nhacvangonline/1cl3cdmg/ho-

thuongnguoichiensi/02.%
20Thuc%20Quan.wma


Lick vao hinh



Đêm Mê Linh

Sáng tác: Văn Giảng
Trình bày: Hoàng Oanh


Canh dài ta ngồi trong rừng cây vang âm hồn thiên thu
Trời vắng hồn lắng tiếng sơn hà trong gió hú:

"Ai thấy chăng xưa hùng cường?
Ai thấy chăng nay xiềng cùm
Đằng đằng nặng hận thù?
Ai đắp non sông trường tồn?
Ai kết lên dân tài hùng
Xua tan giặc Đông Hán
Xua tan giặc xâm lấn?"

Ta cùng chung lòng mong ngày vang danh thơm dòng oai linh
Thề quyết rèn chí quét quân thù đang cướp nước
Ta cháu con dân Việt hùng
Nơi Mê Linh ta trùng phùng
Đồng lòng nguyền vẫy vùng
Ta chiến binh đang thề nguyền
Quanh ách thiên nung lòng bền
Gian nguy càng hăng chí
Xung phong chờ đến ngày

Ai vì nước?
Ai thề ước?
Ta xung phong nguyền dâng thân hiên ngang
Nguyện đấu tranh xua tan quân Đông Hán
Ai trung thành?
Ai liều mình?
Thề hy sinh, thề tung hoành hiên ngang
Thề kiên trung chiến đấu, thế chiến thắng!

Canh dài ta ngồi mơ ngày đi xông pha giành non sông
Ngời chói bừng ánh sáng tươi hồng hăng chí nóng
Quanh ánh thiêng reo bùng bùng
Ta nắm tay ca trầm hùng
Hẹn ngày rạng Lạc Hồng
Mơ xuất quân đi rập ràng
Mơ quét tan quân bạo tàn
Xua tan giặc Đông Hán
Xua tan giặc xâm lấn



Click here
http://nhacvangonline.info/phoipha/3kkndmlnr/HoangOanh-nhaclichsu/10%20Dem%20Me%20Linh_HoangOanh.wma

 
 
 Sao chưa thấy hồi âm

Sáng tác: Châu Kỳ
Trình bày: Hoàng Oanh


Theo năm tháng hoài mong
thư gởi đi mấy lần
đợi hồi âm chưa thấy
em ơi nhớ rằng đây
còn có anh đêm ngày
hằng thương nhớ vơi đầy

Ngày đi mình đã hứa
toàn những lời chan chứa
còn hơn gió hơn mây
mỗi tuần một lần thư
kể nghe chuyện sương gió
kể nghe niềm ước mơ

Nhưng em vắng hồi thư
thế là em hững hờ
hoặc là em không nhớ
anh đâu khác người xưa
ngày lẫn đêm mong chờ
tình yêu nói sao vừa

Từ lâu đành xa vắng
đời trăm ngàn cay đắng
hỏi em có hay không
chỉ cần một hồi âm
là anh mừng vui lắm
cớ sao em phụ lòng...

Ngày xưa em còn nhớ
nàng Tô Thị bồng con ngóng trông
thời gian đã hoài công
nàng thành đá ngàn kiếp yêu thương chồng

Ngày nay anh nào thấy
lòng chân thành của thế nhân
tìm đâu trong tình yêu
được bền lâu để kiếp sau không sầu

Anh mơ ước làm sao
cho trọn mối duyên đầu
đẹp lòng em yêu dấu
xưa Chức Nữ chàng Ngưu
từng đắng cay dãi dầu
chờ Ô Thước bắt cầu

Còn em từ xa cách
làm anh hờn anh trách
hỏi em có hay không
mỏi mòn đợi hồi âm
thềm xưa giờ vắng bóng
nhớ thương ai ngập lòng...

http://phoipha.org/nhacvangonline/2ctcvckkn/HoangOanh/SaoChuaThayHoiA
m-
HoangOanh.wma


 
http://kimvo.net/music/XuatQuan.
mp3
                                               Click



http://nhacso.net/Music
                   
/nghe_song.asp?id=100001430
Publié le 14/06/2007 à 22:24
Par tapinlu



MAI ANH VỀ SẼ DẮT EM THEO


Mai anh về sẽ dắt em theo
Hai đứa vui trong nắng Sài Gòn
Nhà Bè nước chảy chia hai ngã
Cay đắng ngọt bùi vẫn sắt son


Bàn tay em vẫy chào xứ Huế
Qua Tràng Tiền giòng nước long lanh
Áo dài lụa trắng khung trời tím
Ngơ ngác hồn anh một bóng hình


Chùa Cầu gió nhẹ lùa tóc rối
Khỉ  già ngồi đó mấy trăm năm
Phố cổ Hội An tô mì Quảng 
Quán nửa đêm xưa vẫn nhớ thầm


Anh sẽ đưa em nhập cuộc vui
Hạt lúa vàng thơm thấy bùi ngùi
Mùa gặt năm nay mênh mông thóc
Tây Đô yêu dấu rộn tiếng cười


Ta chắp cánh bay về Hà Nội
Trăng Hồ Tây đưa đẩy điệu Sa Pa
Rượu cần cay xé bờ môi mặn
Cầu Long Biên gãy nhịp tự bao giờ


Theo con tàu suốt  ghé Nha Trang
Ta dẵm chân lên bãi cát vàng
Hương thơm phở Chụt còn ngây ngất
Mộng thuỡ ban đầu mộng viễn du  


Rồi ta về tuốt tận Cà Mau
Bắt  con cá lóc nấu canh bầu
Thương em từ lúc chiều chưa xuống  
Anh đứng thẩn thờ trên bải dâu


Ta đi chưa hết nẽo đường thương
Thôi tạm dừng chân thăm mái trường
Nghe sao tha thiết thời thơ dại
Một thoáng buồn ... nỗi nhớ quê hương


tôn thất phú sĩ




TOMORROW I'II TAKE YOU WITH ME


Tomorrow I'II take you with me
Both of us had good time under Saigon sunlight
Nha Be water began parting in two directions
Bitterness, sweetness remained faithful


Your hand waved the Hue capital
Through Trang Tien Bridge bright was the current
Along dress made of white silk very romantic
Astounded was my soul of a shadow


Cau pagoda the wind softly blew through mixed hair
The old monkey standing there hundreds of years
Ancient street Faifo and Quang noodles
Midnight bar I still remembered in the dark


I would take you to a party
Fragrant rice seed made me blue
This crop this year was very fruitful
Beloved Tay Do sounded laughing


I took off to go towards Ha Noi
Ho Tay Moon accompanied Sa Pa dance
Tube alcohol tasted strong to salty lips
Long Bien bridge got spans broken since when


Along with the locomotive passing by Nha Trang
I trampled on golden sandy beach
Chut Chinese noodle’s fragrance made me being in Anastasia
Once tried to be sailor offshore


I went further as Camau cap
Took a kind of fish to make a kind of soup
Loving you since the evening did not come
Distract I stood on mulberry field


I did not finish my love way
Stop! Temporally paid visit to school roof
Feeling astounded in remembering innocence time
With quick feeling the nostalgia.


RGC



Download here


Publié le 14/06/2007 à 12:59
Par tapinlu




NGÀY ĐẦU RA KHƠI


Riêng tặng Bạn bè cùng lớp  .
Một thời cắp sách đã trước sau  gia nhập
HQVN :


Đổ viết Viễn
Ngô văn Sơn
Trương văn Phương
Phan Vinh
Lê tất Dũng
Nguyễn hữu Sử
Trần trọng An Sơn
Lê tự Hưng
Trần minh Sĩ
Lê viêm Côn
....
                                                     

Miền Trung đã bắt đầu đón nhận những cơn mưa phùn làm tê tái lòng người , mùa đông đó có những thằng con trai đang còn lang thang nơi ngưỡng cửa Đại Học , đã mộng mơ theo tiếng gọi của con dế mèn Tô - Hoài , bỏ trưởng , bỏ lớp , bỏ thầy cô , bỏ cả tuổi mộng mơ, đành đoạn nhất là đã bỏ những mối tình dang dỡ đầy ắp kỷ niệm để đi tìm một chuyến phiêu lưu theo con tàu bồng bềnh sóng nước của Đại Dương mênh mông với bao nhiêu bờ bến lạ  ...Có một chiều , trời đã vào đông , nhưng bỗng nhiên chợt nắng , những tia nắng mềm êm ả trãi dài trên khu phố chính Trần Hưng Đạo HUẾ , xuất hiện những chàng thuỷ thủ quân phục trắng tinh , áo veste dạ đen sậm , lang thang dạo phố phường , những anh chàng giang hồ lãng tử đó đi trong gió heo may lạnh lạnh như chất men rượu đã quyễn rũ chúng tôi chọn đời lính thuỷ . Quyến rũ hơn nữa , sáng sớm ngày thứ bảy hôm sau , hai chiếc tàu nhỏ cặp cầu Thương Bạc , chở một toán học sinh , sinh viên đi thăm một chiến hạm đang neo tại cửa biển Thuân An , vui ơi là vui , theo dòng Hương trôi ra biển , trời như chìu lòng người , nắng của ngày lập đông trong veo và ấm lạ thường , được lên thăm viếng một chiến hạm là điều chúng tôi mơ ước từ  lâu  , nơi đây tiếp xúc bao nhiêu điều mới lạ về nếp sống của một người thuỷ thủ trên tàu , những làn sóng lăng tăng dào dạt bên mạng tàu , xa xa trời nước bao la trầm bỗng theo lời ca tiếng hát của mọi người :

Toán chiến sĩ Hải Quân hôm nay ra khơi , bờ nước Nam gió khơi nồng máu say .
Ra đi không vương thê nhi , miền Bắc núi tuyết rét buốt Quen vui trong muôn phân ly  Sóng xô trên ngàn trùng sóng . Vui say trên Nam Băng Dương . Nước xanh hồn Thái Bình Dương  . Ra khơi sóng vang dạt dào Mênh mông sóng vang trên tàu ...

Những đam mê đó rạo rực trong lòng của đám thanh niên  Huế , đến ngày đầu Xuân năm ấy , chúng tôi khoãng 200  người , phần lớn là Sinh Viên Đại học Huế nộp đơn dự thi vào khoá Sĩ Quan Hải Quân , hội đồng thi đặt tại Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng  Sơn Chà . Chúng tôi tình nguyện chấp nhận đời thuỷ thủ với niềm hăng say của tuổi trẽ , rạo rực của con tim phiêu bồng ,với khẩu hiệu quyến rũ chúng tôi :
CÁC BẠN GIA NHẬP HẢI QUÂN ĐỂ CÓ MỘT KIẾP SỐNG HẢI HỒ , MỘT NGÀNH HỌC UYÊN BÁC , MỘT NGHỀ NGHIỆP CAO QUÝ và ... MỘT KỸ NIỆM ÊM ĐỀM ...
Sau ngày thi tuyển khoảng hai tuần , một tối nọ , tôi nghe trên Đài phát thanh Huế đọc danh sách 12 thí sinh trúng tuyển , lòng phân vân không biết  buồn hay vui , tôi vào lính chắc chắn Ba Me tôi không bằng lòng , tôi còn trong tình trạng được tiếp tục  học , ngày đó Nam Sinh Viên mà ở lại lớp một năm thì phải thi hành lệnh tổng động viên, nhập ngủ vào quân trường Thủ Đức , đường học hành của tôi chưa có trở ngại , tôi đang theo học năm thứ  2 Y- Khoa HUE , nhưng tôi tự chọn cho mình con đường trong tương lai , Tôi đi vào Hải Quân với  tất cả ham mê của tuổi trẻ , của lòng yêu quê hương , quê hương đang quằn quại trong chiến tranh Nam Bắc .
Ngày tôi lên đường nhập ngủ , nước sông HÀN Đà Nằng  dâng cao , Ba Má va em gái tôi ra tận bờ sông đưa tiễn ,  chiếc tàu nhỏ chở 12 đứa chúng tôi qua Hải Khu Đà Nẵng ngoài Tiên Sa để nhập trại , chờ Chiến Hạm đưa  về quân Trường Hải Quân Nha Trang , Hình ảnh nhưng người thân yêu xa dần rồi mất hút , tôi mơ hồ thấy Me tôi khóc , Ba thì trầm ngâm đứng lặng , riêng đứa em gái vẫn nở nụ cười hồn nhiên vô tư :


Mưa vẫn mưa dài trên lối đi
Giọt mưa rơi ướt tuổi xuân thì
Em tôi từ độ em mười sáu
Vô tư chưa biết sầu biệt ly


Tôi bùi ngùi , lần tay vào vào cổ , mân mê lá bùa mà Me đeo cho tôi và nói Me thỉnh từ một vị sư già nào đó làm bùa hộ mạng cho tôi , tôi chợt ân hận vì đã đem nỗi buồn đến cho những người thân yêu nhất đời .Thôi giã từ  tất cả ...và không quên  giã từ mối tình thơ dại buổi đầu :


 


Thuở ấy nhà anh cách nhà em
Con sông uốn khúc chảy êm đềm
Hai bờ xuôi mái con đò nhỏ
Chở ánh trăng về bên phía em
Gặp em anh đã muốn làm quen
Nhưng sao em vẫn cứ vô tình
Theo em mòn cả đôi giày mới
Mòn cả tim hồng mới lớn lên
Từ đó anh như kẻ không hồn
Đi tìm chút nắng cuối hoàng hôn
Vết thương đầu đời em đâu biết
Bao mùa lá rụng vẫn còn đau
Rồi bỗng một ngày em hiểu anh
Tình ta vằng vặc ánh trăng rằm
Là ngày anh xuống con thuyền nhỏ
Nợ tang bồng theo cuộc chiến chinh
Giây phút chia tay thật lạ kỳ
Dòng sông sâu nước chảy lao xao
Bờ chờ bến đợi đưa tay vẫy
Giọt lệ  không rơi mắt lại nhoà


( Biệt ly - trích tập thơ ttps )

 

Chiếc tàu nhỏ đưa 12 đứa con trai mặt mày non choẹt ,ngổ ngáo đến Hải Khu Đà Nẵng , Thiếu uý Chiến binh  Lê phước Thiệt  trưởng phòng nhân viên của Hải Khu Đà Nẵng  đón tiếp chúng tôi lập thủ tục nhập trại , đời lính bắt đầu từ đây hay sao ? tôi tự hỏi và cãm thấy trong lòng có nhiều sự đổi  thay , nhưng tuổi trẽ ham vui chúng tôi bắt đầu làm quen nhau  ,  8 người quê quán gia đình tại Huế , 2 người Đà Nằng và 2 là người Quãng Nam Quãng Ngãi . Chúng tôi là những thí sinh trúng tuyễn miền Trung , Phần lớn đại đa số thi tại SaiGòn , trình diện trại Bạch Đằng , để cùng về nhập khoá tại Nha Trang , tổng cọng 108 Sinh Viên được tuyễn lựa trên toàn quốc qua một kỳ thi tuyễn
Trong những ngày tạm trú tại đây , mưa gió buồn bã vây quanh , một eo biển nhỏ mênh mông nước , một vài
chiếc tàu nhấp nhô đem lại cho chúng tôi nỗi buồn man mát , nhớ mông lung những tháng ngày cắp sách đến
trường , thật sự rồi , chúng tôi bắt đầu giã từ tuổi học trò mộng mơ , gởi lại bên bờ sông Hàn chùm
phượng vĩ , tiếng ve sầu và biết bao kỹ niệm êm đềm  mà suốt đời vương vấn mãi . Tạm trú được ba ngày , ngày thứ tư chúng tôi được  đưa xuống một chiến hạm mang số HQ 09 , HQ Thiếu Uý  Rạng ( Khoá 10 ) , Sĩ Quan đang phục vụ trên chiến hạm , làm Sĩ Quan trách nhiệm toán chúng tôi trong suốt chuyến hải hành Đà Nẵng - Nha Trang , ông ta tập họp chúng tôi tại sân giữa của tàu để nói lời khích lê. , Giới thiệu trường Hải Quân Nha Trang , nơi chúng tôi sẽ có 2 năm hoc Hải Nghiệp :
Trung tâm Huấn luyện Hải Quân Nha Trang do Hải Quân Pháp xây cất và khánh thành tháng 11 năm 1951 theo tiêu chuẩn của Trường Hải Quân BREST của Pháp , sau hiệp định  Genève ( 20/04/54) bàn giao lại cho Quân lực VNCH với sự  trợ huấn của HQ /Hoa Kỳ . Trường toạ lạc trên một khu  đất rộng đối diện với bờ biển Nha Trang muôn  đời rì rào sóng vỗ , giới thiệu lịch sữ chiến hạm  chúng tôi đang quá giang , Chiến hạm mang tên Kỳ Hòa HQ 09 , là loại tàu tuần dương PCE ( Patrol Craft Escort ) được Hải Quân Mỹ chuyển giao đầu năm 1962 .... và những hoạt động của nó trong thời gian phục vụ trong hạm đội Quân Lực VNCH .... Giọng nói của HQ Thiếu uý Rạng ấm và hùng hồn cho chúng tôi sự bình tỉnh trở lại , sau đó chúng tôi được hướng dẫn thăm tàu và được khuyến khích tham dự các hoạt động của tàu trong suốt thời gian Hải Hành .
Chiến hạm ra khơi trong mùa biển động , con tàu lắt lư theo từng cơn sóng bạc đầu , ngay ngày đầu tiên , tất
cả đều mằm liệt trên các giường nệm dành riêng cho chúng tôi , thuỷ thủ đoàn ai nấy đều làm việc vui vẽ ,
chỉ có bọn chúng tội những lính mới tò te , mơ mộng tình yêu biển , những ngày tháng phiêu du đó đây trong
mênh mông của Đại Dương bao la , giờ đây đã vỡ mộng , những tấm thân mằm im bất động , từ chối những
lần được mời đi ăn cơm của người phụ trách ẩm thực , TH/UY Rạng cho mỗi tên vài bao nylon để nôn mữa ,
ông tươi cười nhìn lủ chúng tôi và nói - Ngày xưa khi mới ra trường , tôi cũng như các anh , còn say sóng nhiều
hơn nữa , nhưng dần dần quen đi , bây giờ thì cãm thấy thích thú trong những ngày đi biển . Vừa nghe hết câu
này , một đứa trong bọn buột miệng la " Trời ơi ", thế là tất cả những gì còn trong bụng nó đều tuông ra khỏi mồm , văng tung toé vào người TH/UY Rạng  Chúng tôi nắm liệt một ngày không ăn uống , có đứa tè ra cả quần , Th/uy Rạng bảo phải ăn uống vào để mà nôn mữa , chứ không thì sẽ bị đau bao tử , ông không cho chúng tôi uống thuốc say sóng , ông bảo thuỷ thủ không biết loại thuốc này , ngày xưa mới ra trường tôi vừa đeo Xô vừa làm việc , làm việc và nôn oẹ là hai động tác đưa người thuỷ thủ đển bến bờ mộng mơ . Còn tàu
chòng chành nghiêng ngả , sóng càng lớn phủ mũi tàu trắng xoá , ông giải thích thêm , đây chỉ là sóng cấp 6 trong 9 cấp của sóng và chỉ là sóng dọc ngang , nếu gặp sóng ngầm thì càng vui hơn , loại sóng này đưa thân thể vào tình trạng mất trọng lượng và mình cảm thấy phiêu bồng vào một thế giới thần tiên , rồi còn gặp bão nữa , nói đến đây ông cười , nụ cười mà tôi nhớ mãi người Sĩ Quan đàn anh vui tánh .
Chúng tôi hình như bị chạm tự ái , tuổi trẻ mà , đâu có chịu thua bao giờ , chúng tôi đồng loạt đứng dậy , lê lết đi làm vệ sinh cá nhân , ăn chút cháo cho ấm lòng người lính biển Quốc Gia , Lê Đình Đức , tên chì sóng nhất trong bọn , đi tới đi lui , miệng lẩm bẩm  như đọc kinh sám hối , Phạm văn Kha bò lên boong tàu để nhìn đại dương mênh mông mà lòng hối hận , Hà thúc Thuỵ  thì thào - Tau muốn xin về , không đi Hải Quân nữa , Hồ văn Nam xổ tiếng Đức giọng Huế , mong chóng đến Nha Trang xin giải ngủ về học tiếp cho hết cái cử nhân toán , Nguyễn văn Sương người hùng của thôn Vỹ Dạ tuyên bố ồn ào với bộ mặt xanh mét : Phóng lao phải theo lao , ta sẽ chiến thắng biển cả , sau đó nó chớp chớp đôi mắt và hát bài Quốc Ca . ...Này công dân ơi! đứng lên ...liền  lúc đó nó oẹ ra đầy cả sàn tàu .Riêng tôi , sau hai ngày không ăn , chỉ uống nước lã , bao nhiêu chất đắng , chất vàng của bao tử đã trút đầy bao nylon , tôi gượng ngồi dậy leo lên cầu thang để lên boong tàu , nắng vàng chiếu rực rỡ , mây trời xanh biếc , đàn hải âu bay là là xung quanh tàu , từng đợt sóng lớn phủ trắng xoá mũi tàu , không khí trong lành dễ chịu , con tàu vẫn tròng trành lắc lư đi dưới sóng , với trời biển mênh mông , con tàu chỉ là chiếc lá nhỏ trôi giữa dòng , vũ trụ bao la , con người chỉ là hạt nước trong đại dương vô cùng tận . Tại đây tình cờ tôi gặp anh Lân , Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Hải Châu Đà Nẵng  của tôi ngày trước , anh bây giờ là Thượng Sĩ điện khí phục vụ dưới tàu , anh em mừng vui bất ngờ , anh thấy tôi say sóng cũng phì cười , tôi quen lần với sóng gió , không còn chóng mặt , buồn nôn và thấy khoẻ hẵn nhờ mấy múi cam anh cho ăn , anh em tâm sự ... ngày nào cùng với các đoàn  thanh niên thiếu nữ Phật Tử bên ánh lữa trại bập bùng Sơn Trà , Non Nước , Mỹ Khê , Mỹ Thị , Quá Giáng , Đò Xu ... cả một thời thơ dại lại trở về , thành phố Đà Nẵng thân yêu chập chờn trên sóng nước đưa con tàu về đến bến bờ hoa mộng . Tôi nhớ như ngây như dại Bờ sông Hàn Đà nẵng , nơi hẹn hò mối tình thơ dại vu vơ  theo dòng sông :


Ta lớn khôn trong vòng tay của mẹ
Mang vào đời lòng hiền hậu của cha
Nhà ta  ở  bên dòng  sông uốn khúc
Nước  vỗ bờ lời mẹ ru thiết tha
Kể từ đó ta cùng con sông nhỏ
Kết tình thân  theo dòng nước lớn nhanh
Ta lặn ngụp  bơi ven bờ hạnh phúc
Dòng sông Hàn tắm mát tuổi ngây thơ
Mối tình đầu gởi trên cành phượng vĩ
Gió lao xao hoà điệu nhạc ve sầu
Trên ghế đá  ngồi nhìn chiếc lá rụng
Sóng dập dồn đưa chiếc lá về đâu
Đà Nẵng ơi ! dòng  sông Hàn diệu vợi
Tuổi học trò mơ mộng một dòng sông
Để mai này  tuổi đời  vừa đủ lớn
Sông đưa ta vào  biển rộng mênh mông

               ~ o ~
Và từ đó giã từ con sông nhỏ
Xa quê hương  không  mong  một ngày  về
Ai đã từng làm học trò Đà Nẵng
Mơ một lần tắm lại nước sông xưa


( Sông Hàn Đà Nẵng - Trích tập thơ  ttps )


Qua ba ngày ba đêm sóng gió , tàu neo trước bải biển Nha Trang trong một sớm mai nắng đẹp , tất cả chúng tôi đã tỉnh lại sau những ngày chập chờn triền miên rã rời , chúng tôi tắm rữa sạch sẽ , thay áo quần mới dĩ nhiên vẫn là quần áo học trò , điễm tâm ngon lành sau ba ngày nhịn đói , tất cả sẵn sàng để xuống tàu nhỏ đưa vào Trung Tâm huấn luyện Hải Quân .12  thằng học trò cù lần  tập họp tại sân giữa  chiến hạm để nghe Hạm Trưỡng nói vài câu từ giã  , lần đầu tiên thấy mặt Hạm Trưỡng  , trong bộ quân phục màu vàng  giãn dị  , tươi cười   nói chuyện với chúng tôi  :
_ Chúng tôi sẽ  đưa các anh  vào nhập học tại Trung Tâm huấn luyện Hải Quân Nha Trang  , tại đây  các anh sẽ được trao dồi kiến thức lý thuyết về Hải Nghiệp  , thời gian hai năm  . Sau đó các anh ra trường   và được đi thực tập trên các chiến hạm của  Đệ thất Hạm Đội  Mỹ  để  thực hành   , khi  các anh về nước  ,   chính thức  đi phục vụ  Hạm Đội  như chúng tôi  , Chúc các anh thành công trong cuộc sống mới  .
Chúng tôi đồng loạt cám ơn Hạm Trưỡng  , trong lòng phơi phơi  như sóng gió  dạt dào vây quanh . Bình minh trên biển , lộng lẫy huy hoàng , mặt trời chiếu lung linh trên sóng nước lăng tăng như thuỷ tinh vỡ , Chúng tôi đã thấy quân trường của mình trãi dài trên bải cát trắng , phía trước là hàng thông xanh lao xao tiếng gió , những con dã tràng  xe cát thành những viên tròn nhỏ để rồi tan biến sau đợt sóng mong manh , tuổi trẽ dễ nhớ và cũng dễ quên , mệt nhọc trong chuyến hải hành không còn nữa , thay thế bằng những rạo rưc của một tương lai :

Các chiến hữu Hải Quân bên nhau hôm nay .
Cùng hát vang , những tâm tình ngất ngây .
Trao nhau bao nhiêu tâm tư , Ngồi nhớ những lúc chiến đấu . Bôn ba qua bao gian nguy , Những khi vượt ngàn sóng  . Vui say trên Nam Băng Dương . Nước xanh hồn Thái Bình Dương .Ra khơi sóng vang dạt dào .
Mênh mông sóng va thân tàu ....... Mờ mờ xa mây núi , Bờ bờ xa ra khơi .Đi không quên bến bờ chờ , Ra khơi trùng dương bát ngát ...Ngày về Tổ Quốc ghi tên ...


tôn thất phú sĩ


K.15 HQ NHA TRANG
SONG NAM 2
1964-1966
 

http://hqvnch.net/media/media2/hqhk.wma
                                                                       
Publié le 14/06/2007 à 10:12
Par tapinlu


danang.jpg

ĐÀ NẲNG VẮNG EM

Anh về Đà Nẳng tìm em
Con đường Lê Lợi êm đềm ngày xưa
Giờ còn ngây ngất nắng trưa
Hằng in kỷ niệm ngày xưa  chúng mình

Khu vườn nho nhỏ xinh xinh
Nơi mình hò hẹn mối tình thơ ngây
Hoang  vu cỏ dại mọc đầy
Anh ngơ ngẫn đứng nhìn  mây  nhạt nhoà

Mây bay về núi Sơn Chà
Tiếng chim tu hú Tiên- Sa vọng về
Nhớ em ngày đó tóc thề
Yêu thêm Đà Nẳng đời nghe nặng buồn

Để hồn vương víu  cô thôn
Để tim đau thắt nỗi hờn núi sông
Người ơi ! nước chảy đá mòn
Tình người Đà Nẳng nặng lòng thuỷ chung

Con đò đưa khách  sang ngang
Rán chiều  rực rỡ nhuộm vàng nước non
Ta về một tấm lòng son
Ngọn cờ Tổ Quốc cao hơn Ngủ Hành

Tôn Thất Phú Sĩ
Paris 24 Mai 2006

tulips_pink.gif

DA NANG MISSING YOU 

I went back seeking you in Da Nang
Le Loi street was calm as before
Now still astounded the midday sunlight
Engraved souvenir of our past days

Small garden and graceful
Where our date was carrier out by innocence love
Wasteland was covered by weeds
Vaguely standing I watched the fading cloud

Cloud flew to Son Cha mountain
And echoed the singing of Tien Sa koel
Remembered the time when you with loose hair
Loving Danang further felt life heavily sad

For soul stuck to sole village
Feeling pain in heart and hating country
Love! Water flowing eroded stone
Love of Danang people fully faithful

The boat sent passenger across the river
Evening sunlight brightly painted our country
Retuming with a strong feeling
National flag was higher than Ngu Hanh mountain.

RGC 26-05-2006



Tiếng dương cầm
Sáng tác: Văn Phụng
Trình bày: Hoàng Oanh

Nhớ khi nào mùa xuân mới sang
Muôn bầy chim ca hót vang
Tung cánh nhẹ bay la đà
Bướm khoe màu trên muôn sắc hoa
Chập chờn tung bay thướt tha
Đùa giỡn trong tia nắng vàng

Nhớ đêm nào tình xuân ngất ngây
Mưa phùn rơi rơi ướt vai
Đi mãi tìm ai yêu đàn
Bước chân lạc nơi đây chốn nao
Trên lầu ai kia cất cao
Vang tiếng dương cầm thiết tha

Trầm trầm êm êm thánh thót
Nhịp nhàng khoan thai thắm thiết
Nhạc lòng đưa câu luyến tiếc
Người ơi còn nhớ
Chopin ngày xưa vì ai dệt nên câu nhạc lâm ly
Cho đời say trong tiếng tơ
Cho tình dâng muôn ý thơ
Dù cõi lòng ai mong chờ

Tiếng dương cầm còn vang thiết tha
Riêng mình ta đây với ta
Chìm đắm trong một giấc mơ...
 
TTPS.jpg

http://phoipha.org/nhacvangonline/1cl3cdmg/CoLaiDo_HoangOanh/TiengDuongCam_HoangOanh.wma
 
Pages : 1 2 3 4 5 6 7 8 9

Ma photo
Le blog de tapinlu