|
Publié le 14/06/2007 à 07:38
Par tapinlu

Cái Bát Gỗ
Bùi Hữu Thư chuyễn ngữ
Tôi cam đoan bạn sẽ nhớ được câu chuyện của cái bát gỗ này vào ngày mai, tuần tới, tháng tới hay năm tới nữa. Một ông già gầy yếu phải dọn đến ở chung với con trai, con dâu và một đứa cháu nội lên 4 tuổi. Ông già hai tay run rẩy, mắt đã mờ, chân bước không vững. Cả gia đình ngồi ăn chung nơi bàn ăn. Nhưng người ông lớn tuổi với hai tay lụng cụng và đôi mắt kèm nhèm khiến cho việc ăn uống rất khó khăn. Những hạt đậu rớt từ muỗng xuống sàn nhà. Khi ông với tay lấy ly sữa thì sữa đổ tóe ra khăn bàn. Người con trai và con dâu rất bực mình vì phải lau chùi dọn dẹp cho ông. Người con trai nói: “Chúng mình phải làm một cái gì để giải quyết vấn đề này. Anh chán ngấy cái vụ ông đánh đổ sữa, ăn uống nhồm nhoàm, và đánh đổ thức ăn trên sàn nhà.” Do đó hai vợ chồng bàn nhau đặt một cái bàn trong góc phòng. Ở đó, ông cụ phải ngồi ăn một mình trong khi cả gia đình ăn uống vui vẻ. Vì ông cụ đã đánh vỡ mấy cái đĩa, thức ăn của ông được bỏ vào một cái bát gỗ. Khi cả gia đình liếc nhìn về phiá ông cụ, đôi khi thấy ông chẩy nước mắt khi phải ngồi một mình. Vậy mà, mỗi khi ông đánh rơi muỗng nĩa hay đánh đổ thức ăn, hai vợ chồng vẫn còn la rầy ông. Đứa cháu 4 tuổi quan sát mọi sự trong thinh lặng. Một tối kia, ngay trước bữa ăn, người cha thấy đứa con nghịch với mấy khúc gỗ vụn trên sàn. Anh ta dịu dàng hỏi: “Con đang làm gì vậy?” Đứa bé cũng trả lời diụ dàng không kém: “Ồ con đang làm một cái bát nhỏ cho ba và mẹ ăn khi con lớn lên.” Nó cười và tiếp tục làm việc. Những lời nói của đứa trẻ làm cho cặp vợ chồng sững sờ không nói nên lời. Rồi những giọt nước mắt tuôn rơi trên mặt họ. Dù không nói ra lời, cả hai đều hiểu phải làm cái gì. Tối hôm ấy, người con trai, cầm tay bố và diụ dàng dắt ông cụ trở về bàn ăn của gia đình. Và trong suốt những ngày còn lại của cuộc đời ông cụ được ngồi ăn chung với gia đình. Và từ đó cả chồng lẫn vợ dường như không còn chú ý đến những lúc muỗng niã rơi, sữa bị đổ tràn hay khăn bàn bị dính bẩn. Điểm son của bài học này là, dù bất cứ cái gì xẩy ra hôm nay có tệ đến đâu, đới sống vẫn tiếp diễn, và ngày mai sẽ tốt đẹp hơn. Tôi cũng học được rằng chúng ta có thể biết nhiều về một con người qua phản ứng của người này trước bốn điều này: một ngày mưa buồn, người già yếu, mất hành lý, và những giây đèn Giáng Sinh bị vướng mắc. Tôi đã học được rằng, dù cho bạn có yêu hay không thương yêu cha mẹ bạn, bạn cũng sẽ nhớ tiếc họ, khi họ đã đi ra khỏi cuộc đời của bạn. Tôi đã học được rằng: kiếm sống trong đời không giống như là tạo dựng một cuộc đời. Tôi cũng học được rằng, đời sống đôi khi ban cho ta một cơ may thứ hai. Tôi cũng học được rằng chúng ta không thể nào chỉ biết tìm cách ôm bắt tất cả mọi sự trong đời. Chúng ta cũng phải có thể ném ra và cho đi. Tôi đã học được rằng: nếu chúng ta theo đuổi hạnh phúc, nó sẽ lẫn tránh ta. Nhưng nếu chúng ta tập trung vào gia đình, bạn bè, vào nhu cầu của người khác, vào công việc của mình và cố gắng làm mọi sự tốt đẹp nhất, thì hạnh phúc sẽ tìm đến với ta. Tôi đã học được rằng mỗi khi tôi quyết định một điều gì với một trái tim rộng mở, thì tôi thường quyết định đúng đắn. Tôi đã học được rằng ngay cả khi tôi đang đau đớn, tôi không phải là nỗi đau cho kẻ khác. Tôi đã học được rằng mỗi ngày qua tôi phải vươn ra và chạm đến một người khác. Người ta thích những cử chỉ thân thiện - cầm tay, ôm chặt hay chỉ cần một cái vỗ nhẹ vào vai. Tôi đã học được rằng tôi còn phải học hỏi rất nhiều hơn nữa!

REFLECTION ON FATHERS’ DAY
The Wooden Bowl I guarantee you will remember the tale of the Wooden Bowl tomorrow, a week from now, a month from now, a year from now. A frail old man went to live with his son, daughter-in-law, and four-year old grandson. The old man's hands trembled, his eyesight was blurred, and his step faltered. The family ate together at the table. But the elderly grandfather's shaky hands and failing sight made eating difficult. Peas rolled off his spoon onto the floor. When he grasped the glass, milk spilled on the tablecloth. The son and daughter-in-law became irritated with the mess. "We must do something about father," said the son. "I've had enough of his spilled milk, noisy eating, and food on the floor." So the husband and wife set a small table in the corner. There, Grandfather ate alone while the rest of the family enjoyed dinner. Since Grandfather had broken a dish or two, his food was served in a wooden bowl! When the family glanced in Grandfather's direction, sometime he had a tear in his eye as he sat alone. Still, the only words the couple had for him were sharp admonitions when he dropped a fork or spilled food. The four-year-old watched it all in silence. One evening before supper, the father noticed his son playing with wood scraps on the floor. He asked the child sweetly, "What are you making?" Just as sweetly, the boy responded, "Oh, I am making a little bowl for you and Mama to eat your food in when I grow up." The four-year-old smiled and went back to work . The words so struck the parents so that they were speechless. Then tears started to stream down their cheeks. Though no word was spoken, both knew what must be done. That evening the husband took Grandfather's hand and gently led him back to the family table. For the remainder of his days he ate every meal with the family. And for some reason, neither husband nor wife seemed to care any longer when a fork was dropped, milk spilled, or the tablecloth soiled. On a positive note, I've learned that, no matter what happens, how bad it seems today, life does go on, and it will be better tomorrow. I've learned that you can tell a lot about a person by the way he/she handles four things: a rainy day, the elderly, lost luggage, and tangled Christmas tree lights. I've learned that, regardless of your relationship with your parents, you'll miss them when they're gone from your life. I've learned that making a "living" is not the e same thing as making a "life.." I've learned that life sometimes gives you a second chance. I've learned that you shouldn't go through life with a catcher's mitt on both hands. You need to be able to throw something back. I've learned that if you pursue happiness, it will elude you. But if you focus on your family, your friends, the needs of others, your work and doing the very best you can, happiness will find you. I've learned that whenever I decide something with an open heart, I usually make the right decision. I've learned that even when I have pains, I don't have to be one. I've learned that every day, you should reach out and touch someone. People love that human touch -- holding hands, a warm hug, or just a friendly pat on the back. I've learned that I still have a lot to learn.! 
Publié le 13/06/2007 à 17:01
Par tapinlu
 19-06 * NGÀY QUÂN LỰC TƯỠNG NHỚ ĐẾN : Anh Hùng Hải Quân TỬ SĨ HOÀNG SA
 HQ Trung Tá NGỤY VĂN THÀ
 Vấn Ðề Hoàng Sa Hay Mưu Ðồ Trung Quốc
Phi Luật Tân và Trung Quốc. tranh chấp về một đảo nhỏ bé, đảo Mischief nằm ở Ðông Nam quần đảo Hoàng sa. Tổng thống Fidel Ramos của Phi Luật Tân cho tập trung tất cả các phản lực cơ trên đảo Palawan để theo dõi các sự di chuyển của hải quân Trung Hoa và cũng nhắc nhở các đồng minh trong khối Ðông Nam Á cũng như Hoa kỳ về bổn phận của họ trong một cuộc chiến có thể xẩy ra giữa Phi Luật Tân và Trung Quốc.
Quần đảo Hoàng Sa gồm nhiều đảo (trên dưới 40 có diện tích đáng kể, có thể chứa dân cư), mà đảo quan trọng nhất là đảo Spratly, nằm rải rác trong biển Ðông Hải, trên bắc vĩ tuyến từ 6 đến 13 và đông kinh tuyến 112 đến 117, cách bờ Việt Nam độ 400 cây số sát các đảo Palawan (Phi Luật Tân) và Bornéo (tỉnh Sabah thuộc Mã Lai). Theo các tài liệu sử có trên các văn kiện, đặc biệt là các văn kiện thời bảo hộ Pháp, thì quần đảo này thuộc Việt Nam, nhưng từ nhiều năm nay một số quốc gia đã tranh chấp chủ quyền trên quần đảo này, đó là (ngoài Việt Nam ra): Mã Lai, Phi Luật Tân, Trung Quốc và Ðài Bắc.
Năm 1988, Trung Quốc đã ngang nhiên chiếm đóng sáu đảo (đó là các đảo Cuarteron, Fiery Cross, Gaven, Subi, Eldad) sau khi đánh chìm một số chiến hạm Việt Nam ở cạnh đảo Johnson. Nhưng chánh phủ Cộng sản Hà Nội chỉ phản đối trên giấy tờ và chưa tìm được một thỏa ước nào với Bắc Kinh, vì lo ngại Trung Quốc trả đũa trên phương diện khác.
Cuộc xâm chiếm đảo Mischief vừa qua nằm trong một kế hoạch lâu dài của Bắc kinh trong việc chiếm đóng biển Ðông Hải thành một biển "nội địa" của Trung Quốc. Năm 1974, Trung Quốc cũng đã đánh chiếm quần đảo Trường sa (mà đảo quan trọng nhất là đảo Paracel). Lúc đó, chỉ có chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa phản đối và bị tổn thất, trong khi đó Hà Nội đương nhiên chấp thuận sự chiếm đóng của Trung Quốc.
Tầm Quan Trọng Của Những Hải Ðảo.
Theo luật quốc tế về biển cả, thì chủ quyền của một quốc gia trên biển cả là 2 hải lý (3,6 cây số) cách bờ, nhưng các quốc gia đó có thể khai thác các tài nguyên nằm trong vòng 200 hải lý (360 cây số) cách bờ . Vì thế các cường quốc trên thế giới mới tìm cách đóng chiếm những đảo hoang nằm rải rác trên các biển như Pháp có quần đảo Kerguelen ở vùng Nam cực hay Anh có đảo Pitcairn nằm xa xôi trơ trọi giữa Tân Tây Lan và Chí Lợi. Những hòn đảo hẻo lánh đó tuy tốn kém cho ngân quỹ quốc gia ngày hôm nay nhưng cho phép các cường quốc kiểm soát các tàu bè đi qua lại trong vùng và trong tương lai nếu cần có thể khai thác những tài nguyên (hải sản, mỏ quặng, dầu hỏa, v.v...).
Trung Quốc đóng quân tại đảo Mischief cũng vì những quyền lợi vừa nêu trên. Ðảo Mischief chỉ cách đảo Palawan độ 100 cây số, thì đương nhiên vùng biển giữa Palawan và đảo Mischief sẽ bị chia đôi giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân, nếu tình hình không được giải quyết và tiếp tục nằm trong tình trạng trên.
Trước khi chiếm đóng một số đảo trên quần đảo Hoàng Sa, đương nhiên vùng Ðông Hải giữa quần đảo và bờ biển Việt Nam hoàn toàn nằm trong quyền khai thác của Việt Nam. Nay, vì các đảo chiếm đóng của Trung Quốc nằm ở phía Tây quần đảo thì vùng biển Ðông Hải giữa Việt Nam và các đảo phải "chia" cho Trung Quốc.
Một Vị Trí Chiến Lược.
Sự chiếm đóng các quần đảo ở biển Ðông là một cuộc thử thách của Trung Quốc đối với các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á cũng như các cường quốc trên thế giới.
Trước tiên, là từ năm 1987, Liên Sô đang gặp khó khăn nội bộ, lần lần bỏ rơi vịnh Cam Ranh, không còn ý định muốn kiểm soát vùng Ðông Hải. Mỹ sau khi rời bỏ căn cứ tại Phi Luật Tân, bỏ luôn vai trò kiểm soát biển Ðông Hải. Trước sự bỏ trống của các cường quốc, Trung Quốc mới có ý đồ xâm chiếm các đảo nằm trong biển Ðông Hải để kiểm soát vùng này. Nhìn lại bản đồ trong vùng thì chúng ta sẽ thấy là các tàu bè giao thương giữa Nhật và các nước Ðông Nam Á đều phải đi qua biển Ðông Hải cũng như các tàu chở dầu hỏa từ Trung Ðông về Ðại Hàn hay Nhật cũng phải đi con đường này. Trung Quốc kiểm soát Ðông Hải có nghĩa là Trung Quốc kiểm soát con đường vận chuyển các nhu liệu kỹ nghệ và năng lượng của Nhật và Ðại Hàn. Khi Việt Nam gia nhập vào khối kinh tế các quốc gia Ðông Nam Á thì đương nhiên sẽ tăng thêm những cuộc giao thương trên vùng biển Ðông Hải, sự hiện diện của Trung Quốc trên biển là có sự kiểm soát các con đường giao thương của khối.
Ðó là chưa kể đến những tài nguyên có thể có trong vùng. Hải sản là một tài nguyên quan trọng mà Việt Nam chưa có đủ phương tiện để khai thác. Khi chiếm đảo Hoàng Sa, đương nhiên là Trung Quốc muốn khai thác vùng rất nhiều hải sản này.
Gần đây, Việt Nam đã khai thác được dầu hỏa bên vùng quần đảo Hoàng Sa (khu Ðại Hùng). Theo các nhà chuyên gia về dầu hỏa thì thềm lục địa của vùng Ðông Hải có nhiều triển vọng có rất nhiều dầu hỏa. Vì thế, sau khi cưỡng chiếm một số đảo, Trung Quốc đã ngang nhiên cho phép một công ty Mỹ thăm dò dầu hỏa ngay tại khu nằm giữa Việt Nam và quần đảo.
Phản ứng Của Các Cường Quốc.
Thái độ của các cường quốc cũng không quyết liệt hơn vì từ lâu Mỹ, cũng như Nga, Pháp hay Anh, đã chấp nhận không đóng một vai trò nào trong vùng vì Trung Quốc có kiểm soát hay không kiểm soát biển Ðông Hải thì không ảnh hưởng gì đến quyền lợi chung của họ
Chỉ có Nhật hay Ðại Hàn có thể bị thiệt hại, nhưng thay vì đụng chạm với Bắc Kinh có thể ảnh hưởng đến các giao thương quan trọng giữa Bắc Kinh và họ, thì họ đi tìm những con đường vận tải khác để tránh phải bị sự kiểm soát của Bắc Kinh trong tương lai. Sự giao thương của họ với Ðông Nam Á tuy quan trọng nhưng không quan trọng bằng sự quan hệ của họ với Trung Quốc: một thị trường 1,2 tỷ người vẫn "ngon" hơn một thị trường 0,5 tỷ người.
Phản ứng Của Các Quốc Gia Ðông Nam Ạ
Hiện tại, ngoài Phi Luật Tân có một phản ứng cứng rắn đối với chính quyền Bắc Kinh, các quốc gia khác tại Ðông Nam Á (Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba và Brunei) vẫn tiếp lấy một thái độ chần chợ Tuy năm 1992, trong một bản công bố chung, ngoại trưởng các quốc gia đã nhìn nhận tầm quan trọng của biển Ðông Hải trên phương diện an ninh cho vùng. Thái Lan, Tân Gia Ba và Nam Dương vì không thấy quyền lợi của mình trong việc tranh chấp các đảo ở Ðông Hải chỉ ra một thông cáo nhắc nhở các phe nên điều đình để giải quyết vấn đệ
Thái Lan lo ngại đến một sự trả đũa ở biên giới Thái Lan, Miến Ðiện và Trung Hoa. Tân Gia Ba và Nam Dương lo ngại ảnh hưởng đến sự giao thương của ho Mã Lai lo ngại đến vấn đề nội bộ vì thiểu số người Hoa của họ và hy vọng rằng Trung Quốc sẽ "ngừng" ở đó trong công cuộc Nam tiến trong biển Ðông Hải và như thế không đụng chạm đến quyền lợi của ho Ðó là thái độ lùi bước và đương nhiên chấp nhận vai trò "kiểm soát" của Trung Quốc. Thái độ này có thể tai hại trong tương lai !
Và Việt Nam Thì Sao ?
Như đã nói trên, chính quyền cộng sản Hà Nội từ xưa đến giờ không coi việc bảo trọng lãnh thổ là quan trọng nhất là khi phải đụng chạm với những đảng Cộng sản khác. Thái độ bịt tai, bụm miệng năm 1974 là một thái độ hèn nhát. Phản ứng năm 1988 là một phản ứng nhượng bộ . Nhưng trước làn sóng tự do tại Ðông Âu, họ đã quay lại xin xỏ sự bảo vệ của Bắc Kinh nên đã coi việc các đảo Hoàng Sa như là một việc cống hiến.
Ðiều đình để đòi lại các đảo bị chiếm đóng phải là việc ưu tiên số một của nền ngoại giao Việt Nam nhưng chúng ta có thể chờ đợi gì được ở chánh quyền hiện tại khi mà quyền lợi cá nhân và quyền lợi đảng được đặt trước quyền lợi của đất nước.
Nguyễn Ngọc

Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, nhóm đảo mà Việt Nam Cộng hòa bảo vệ và thực hiện được chủ quyền là nhóm Nguyệt Thiềm hay Trăng Khuyết (Crescent group) và nhóm Bắc đảo hay An Vĩnh/Tuyên Đức (Amphitrite group). Dưới thời Việt Nam Cộng hòa đã có đài khí tượng do Pháp xây, trực thuộc ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến.
Năm 1956, Hải quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm Bắc đảo. Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản Tuyên ngôn Lãnh hải 4 điểm, trong đó có tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc bao gồm các đảo Đài Loan, Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam), đảo Macclesfield (Trung Sa), quần đảo Bành Hồ (Pescadores). Vào giai đoạn này, Trung Quốc vẫn là đồng minh hậu thuẫn cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc Chiến tranh Việt Nam chống lại Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ. Ngày 22 tháng 9 năm 1958, báo Nhân Dân đăng công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận. Năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam Cộng hòa. Trong thời gian 1964-1970, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong. Trong thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa. Năm 1970, Hoa Kỳ và Nhật Bản ký Hiệp ước trao trả Okinawa (Okinawa Reversion Treaty) trao trả quần đảo Điếu Ngư (Diaoyu) (tức Sento Shosho hay Senkaku Retto của Nhật Bản) về dưới chủ quyền của Nhật Bản với sự phản đối của Đài Loan và Trung Quốc; và cùng năm Đô đốc Elmo Zumwalt, cựu Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ họp báo tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Theo nhận định của Hải quân Việt Nam Cộng hòa thì đây là sự kiện trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và là nguy cơ cho Việt Nam Cộng hòa trong việc bảo vệ Hoàng Sa. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) Năm 1971, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chạm súng trên hải phận Hoàng Sa. Những năm cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, vì nhu cầu chiến trường, tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa được đưa vào đất liền, chỉ còn một trung đội địa phương quân trấn giữ nhóm Nguyệt Thiềm.
Năm 1973, với Hiệp định Paris, Hoa Kỳ và Đệ thất Hạm đội sau khi rút quân và thiết bị của Hoa Kỳ ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Như vậy Hoa Kỳ đã xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của Việt Nam Cộng hòa. Năm 1974 Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa quyết định thiết lập một phi trường trên đảo Hoàng Sa có khả năng chuyên chở vận tải cơ hạng nặng C-7 Caribou để chuyển quân nhanh ra nhóm Nguyệt Thiềm. Khi một phái đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị thiết lập phi trường nói trên thì khám phá ra sự hiện diện của Hải quân Trung Quốc, và giao tranh xảy ra sau đó.
 Hạm trưởng Ngụy Văn Thà (1943–1974) là HQ.Trung tá Việt Nam Cộng Hòa, Hạm trưởng Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10, tử trận trong hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974. Tiểu Sử Cố Trung Tá Ngụy Văn Thà sinh ngày 16 tháng 1 năm 1943 Trảng Bàng, Tây Ninh. Ông tốt nghiệp khóa 12 Trường Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tại Nha Trang, khóa Đệ Nhất Song-Ngư, ngành Chỉ-Huy, tháng 03 năm 1964 với cấp bậc Thiếu-Uý. Sau khi tốt nghiệp, ông thực tập trên Hải Vận Hạm LST-1166 / MSS-2 Washtenaw County thuộc Hạm đội 7 của Hoa Kỳ. Trong thời gian phục vụ trên một số chiến hạm của Hạm đội Hải Quân Việt nam Cộng Hòa, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ: - Hạm Phó Tuần Dương Hạm Ngô Quyền (HQ-17),
- Chỉ huy phó Giang đoàn 23 Vĩnh Long,
- Hạm trưởng Tuần-Duyên-Đĩnh Kèo Ngựa (HQ-604),
- Hạm trưởng Giang pháo hạm Tầm Sét (HQ-331), và
- Hạm trưởng Hộ tống hạm Nhựt Tảo (HQ-10) từ ngày 16 tháng 9 năm 1973.
Ông được ân thưởng 13 huy chương đủ loại, trong số đó có Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Tuần Dương Hạm Ngô Quyền (HQ-17) ảnh BTTM/QLVNCH Trận đánh cuối cùng
Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Hộ tống hạm Nhựt Tảo (HQ-10) do ông chỉ huy đang tuần tiễu tại vùng biển Đà Nẵng thì được lệnh hành quân trực chỉ Hoàng Sa, tiếp ứng hải đội VNCH đang hành quân. Trong thời điểm này, HQ-10 bị một máy chính và radar hải hành bất khiển dụng, tuy nhiên khi tham chiến đã chiến đấu dũng mãnh nhất trong tất các chiến hạm có mặt
Tất cả chiến hạm VNCH đồng loạt khai hỏa vào chiến hạm TQ lúc 10 giờ 22 phút sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974. Ngay từ giây phút đầu của trận chiến, hai Tảo Lôi Hạm (TLH) số 389 và 396 đồng tấn công Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt (HQ-10). HQ-10 lập tức dùng hải pháo bắn dữ dội và rất chính xác, bắn trúng đài chỉ huy 389 làm hạm trưởng tử thương, và liên tục bắn làm cháy phòng máy khiến 389 bị hư hại nặng, tay lái bất khiển dụng. Hải Pháo TLH 389 va 396 chuyển làn nhắm vào HQ-10 và phản pháo, bắn trúng pháo tháp, làm hạm trưởng và hạm phó Nguyễn Thành Trí bị thương nặng, tay lái bất khiển dụng và HQ-10 cũng bị trôi dạt như 389. Thấy chiến hạm bị hư hại nặng, ông ra lệnh cho thủy thủ đoàn dùng bè đào thoát, nhưng một số pháo thủ và ông tiếp tục ở lại bắn vào tàu TQ. Cả hai 389 và 396 đều bị HQ-10 bắn hư hai nặng, 389 dạt vào 1 bãi san-hô, và 396 bị HQ-10 bắn trúng hầm máy không còn khả năng chiến đấu. Tới 11 giờ 49 phút, khi các chiến hạm khác của VNCH đã rời vùng, hai Liệp Tiềm Đĩnh 281 và 282 vào vùng Hoàng Sa và tập trung hỏa lực bắn vào HQ-10. Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo chìm cùng hạm trưởng và một số thủy thủ, 2.5 hải-lý về hướng Nam bãi san hô Antelope, lúc 14 giờ 52 phút ngày 19 tháng 1 năm 1974.
TỬ SĨ HOÀNG SA
HQ/Th.Ta Ngụy Văn Thà (HQ10)
HQ/ÐU Nguyễn Thành Trí (HQ10) HQ/TrU Huỳnh Duy Thạch (HQ10) HS/CK Đinh Hoàng Mai (HQ10) HS/TP Lê Văn Tây (HQ10) Tr/S TX Lê Anh Dũng (HQ10) Trần Văn Xe (HQ10) TT/ÐT Thanh (HQ10) TT/TP Thi Văn Sinh (HQ10) TT/TP Mến (HQ10) HS/GL Ngô Văn Ơn (HQ10) Tr/S CK Nguyễn Tấn Sĩ (HQ10) Tr/S ÐT Trung (HQ10) Th/S VC Lễ (HQ10) Tr/S GL Vương Thương (HQ10) Tr/S QK Tuấn (HQ10) HQ/TrU Lê Văn Đơn (LĐNN) Nguyễn Văn Thạch (LĐNN) Trần Văn Bằng HQ/ TrU Nguyễn Phúc Xá (HQ4) HQ/TrU Ngô CHí Thành (HQ10) Trần Văn Bảy Hs Ðỗ Văn Long (LĐNN)... HQ/TrU Vũ Văn Bang (HQ10) HQ/TrU Nguyễn Văn Đông (HQ10) HQ/TrU Vũ Đình Huân (HQ10) Hs/TP Đức (HQ10) TrS/TP Trứ (HQ10) Hs/VC Trứ (HQ10) Th/s QNT Châu (HQ10) Ts/TP Nam (HQ10) Hs1 Nguyễn Thành Danh (HQ4) Hs/QK Nguyễn Văn Duyên (HQ16) Hs/VC Sáu (HQ10) Ts/ĐT Thọ (HQ10) Ch/Úy Bữu (HQ10) Ts/NN Đinh Hữu Từ (LĐNN) NN Nguyễn Văn Tiến (LĐNN) Nguyễn Văn Vượng (HQ4) Ts/ĐK Xuân (HQ16) Và các chiến sĩ Vô Danh khác Tổng kết tổn thất : 69 Sĩ Quan và Ðoàn Viên Hải Quân, trong đó 62 thuộc Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo, HQ 10
 

http://hqvnch.net/media/media2/hqhk.wma Click : http://hqvnch.net/media/media2/tiengsongvandon.wma Click : http://hqvnch.net/media/media2/trendausung.wma Click : http://hqvnch.net/media/media2/doanlunhac.wma Click : http://hqvnch.net/media/media2/bachdanggiang.wma


Bên đời hiu quạnh
Sáng tác: Trịnh Công Sơn Trình bày: Khánh Ly
Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì Lòng thật bình yên mà sao buồn thế Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ
Rồi một lần kia khăn gói đi xa Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà Lòng thật bình yên mà sao buồn thế Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ
Đường nào quạnh hiu tôi đã đi qua Đường về tình tôi có nắng rất la đà Đường thật lặng yên lòng không gì nhớ Giật mình nhìn quanh ồ phố xa lạ
Đường nào dìu tôi đi đến cơn say Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời Dù thật lệ rơi lòng không buồn mấy Giật mình tỉnh ra ồ nắng lên rồi
http://phoipha.org/nhacvangonline/2ctcvckkn/0KL_Bendoihiuquanh/01%20-%20Ben%20Doi%20Hiu%20Quanh.wma

Publié le 12/06/2007 à 21:31
Par tapinlu
19-06 * NGÀY QUÂN LỰC TƯỠNG NHỚ ĐẾN : Anh Hùng Hải Quân  HQ.Thiếu Tá Lê AnhTuấn Những đơn vị Hải Quân cuối cùng của QLVNCH vẫn còn tinh thần kỷ luật cao độ đã giúp đỡ dân chúng tận tình. Trong cuộc triệt thoái từ Vùng I, Vùng II chiến thuật và Sàigòn hay Phú Quốc, Không một giới chức hay một người dân nào là không ca ngợi sự hy sinh và tinh thần kỷ luật của các thủy thủ đoàn trên các chiến hạm. Hơn một trăm ngàn di tản một cách an toàn trên các chiến hạm Hải Quân. Ngày 5 tháng 5 năm 1975, hàng ngàn đồng bào đã cùng thủy thủ đoàn các chiến hạm làm lễ hạ kỳ lần cuối cùng trên một "lãnh thổ nối dài" của Việt Nam Cộng Hòa là các chiến hạm Hải Quân tại vịnh Subic Bay, Phi Luật Tân. Trong buổi lễ hạ kỳ đó, hàng ngàn đồng bào đã cùng khóc với các chiến sĩ Hải Quân. Ðó là lần đầu tiên người Việt Nam khóc cho hận mất nước, những tiếng khóc ấy vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay, hơn hai mươi ba năm sau, trong tâm khảm của tất cả dân Việt. Các đơn vị còn lại sau cùng của Hải Quân đã hiên ngang chấp nhận cái thách đố nghiệt ngã của cuộc chiến, đi vào đường chết để tìm sự sống. Cả đơn vị chiến đấu như một khối thuần nhất. Tình đồng đội lúc ấy thể hiện đầy đủ. Sự hy sinh nào cũng đau đớn, nhất là chọn lựa sư hy sinh chính đời sống bản thân mình để bảo toàn danh dự Quân Ðội, danh dự đơn vị cùng mạng sống của các chiến hữu thuộc quyền mình. Sự hy sinh đó mới thật là cao cả tột cùng, xứng đáng cho toàn thể chúng ta ghi nhớ.
Một tấm gương hy sinh dũng liệt của Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn
Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, sanh năm 1943, con của ông bà Lê Chân. Thiếu Tá Tuấn xuất thân Khóa 14 Sĩ Quan Hải Quân, đã từng phục vụ hầu hết các chiến hạm của Hạm Ðội, Duyên Ðoàn 27, Duyên Ðoàn 23, Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Hải Quân, và chức vụ cuối cùng là Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 43 Ngăn Chặn. LƯỠI GƯƠM SẮT KÊ VÀO HỌNG KẺ THÙ
Trong cuộc chiến lâu dài và đầy gian khổ của chúng ta vừa qua (và hiện vẫn còn tiếp tục), đã có biết bao nhiêu chiến hữu có những hành động hào hùng. Tiếc là chúng ta không có khả năng để ghi chép lại được. Tôi cảm thấy có nhiệm vụ phải viết về một người mà tôi hằng quen biết và yêu mến. Người ấy đã có nhiều đức tánh rất đáng ca ngợi, và kết thúc đời mình một cách dũng cảm. Ðó là HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn. Tuấn học Khóa 14 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Khi tôi làm Trưởng phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Hải Quân, và có nhiệm vụ phụ trách giảng dạy về ngành liên hệ của mình cho lớp Tham Mưu Trung Cấp tại Sàigòn, tôi có biết Tuấn. Tôi còn nhớ khi tôi hết giờ thuyết trình, Tuấn tìm đến gặp tôi và nói: "Qua phần trình bày của commandant, thì ngành CTCT thật là cần thiết, nhưng… theo tôi thấy, hình như Quân Ðội chúng ta đã không coi vấn đề này như chúng ta quan niệm đâu…" Lời nhận xét của Tuấn làm tôi chú ý đặc biệt. Ðặc biệt vì Tuấn có những nhận xét tinh tế và thẳng thắn, ngoài ra còn có lối trình bày khúc chiết và hấp dẫn. Từ đó tôi chú ý đến Tuấn rất nhiều. Và sau này Tuấn đã đồng ý về làm Phó Trưởng Phòng cho tôi. Mặc dù không ở trong ngành nhiều, Tuấn đã thay tôi điều hành công tác một cách khéo léo và sắc bén. Từ đó chúng tôi có với nhau một thứ tình sâu đậm. Lo lắng và để ý đến nhau rất nhiều. Suốt hai năm Tuấn phục vụ Bộ Tư Lệnh tại Sàigòn, hầu như đêm nào Tuấn cũng vào ngủ tại phòng làm việc. Phần vì tiện, phần vì để có thì giờ giải quyết các vấn đề cần thiết khi tôi vắng mặt, phần vì Tuấn muốn lợi dụng thời gian ở Sàigòn để tiếp tục học bên cử nhân Luật Khoa.Và Tuấn đã thành công, trong hai năm vừa làm vừa học, Tuấn đã lấy xong hai chứng chỉ Luật. Ðầu năm 1973, vì nhiều chuyện không được như ý, đặc biệt là có nhiều áp lực từ nhiều phía, tôi làm đơn rời chức vụ để đi học, rồi đi tàu. Tuấn, sau thời gian xử lý Trưởng Phòng TLC, cũng đã xin đi đơn vị chiến đấu. Trước khi làm đơn xin đi, Tuấn có tìm gặp tôi và cho biết ý định ấy, tôi có hỏi Tuấn: - Sao lại đi? Toa ở đây gần hai năm. Ðợi một thời gian nữa móc cái Trung Tá nhiệm chức cái đã, đi làm gì cho uổng. Tuấn cười, nói: - Commandant ở chức vụ cao hơn tôi, và đã trên hai năm, rồi cũng phải làm đơn xin đi, ở lại làm gì? - Cậu khác, tôi khác. - Ý Commandant muốn nói về ảnh hưởng của ông anh tôi? - Một phần như vậy. Tuấn cười, nói: - Tất nhiên là nếu tôi nuốn, chắc ông ấy cũng sẽ can thiệp, nhưng thật tình tôi không muốn vì nhiều lẽ: Thứ nhất là chưa cần phải phiền đến anh tôi. Thứ hai, mặc dù ở Sàigòn, lại đảm nhiệm chức vụ có cấp số cao, so với anh em khác tôi thấy hơi kỳ….
Sau lần gặp gỡ ấy, Tuấn xin đi đơn vị tác chiến. Lâu lâu trở lại Sàigòn công tác, và cũng để lấy bài trên trường Luật, Tuấn thường ghé thăm tôi. Tuấn thường nhắc đến những liên lạc đặc biệt giữa anh và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Có lần Tuấn nói: "Ông tướng Nam lâu lâu lại bay xuống làm mình ngán bỏ mẹ. Nhưng được cái ông ấy giản dị, lại rất hợp với tôi, còn độc thân, nên nhiều lúc vui lắm…" Tuấn kể lòng vòng nhiều chi tiết giữa cá nhân và công vụ, nhưng tất cả đều toát ra rằng nơi Tuấn đóng là một vị trí quan trọng. Tuấn đảm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 43 Ngăn Chặn, đóng chung căn cứ với Giang Ðoàn 64 Tuần Thám do Thiếu Tá Vũ - khóa 12 là Chỉ Huy Trưởng. Vì là một "địa điểm yết hầu rất quan trọng" ngăn chặn đường tiếp vận của địch từ vùng Mỏ Vẹt xuống, tiếp tế cho Vùng IV Chiến Thuật, nên địch hầu như lúc nào cũng gây áp lực nặng nề tại đây. Tuấn đã phải đương đầu với hiều cuộc pháo kích, tấn công thật nặng nề. Và sau đây là một cuộc tấn công được coi là ác liệt nhất, theo lời thuật lại của một số bằng hữu của Tuấn và cả các vị Chỉ Huy trực tiếp của Thiếu Tá Tuấn nữa.
Khoảng đầu năm 1975, tin tình báo cho hay địch có ý định dứt điểm căn cứ Tuyên Nhơn do Thiếu Tá Vũ và Thiếu Tá Tuấn chỉ huy hai Giang Ðoàn 64 Tuần Thám và 43 Ngăn Chặn tại đây. Do đó việc tuần tiểu các nhánh sông quanh vùng như kinh Tuyên Nhơn, sông Vàm Cỏ đoạn giữa Mộc Hóa và Tuyên Nhơn càng trở nên cấp thiết. Hàng ngày Tuấn đích thân xuống từng chiến đỉnh xem lại máy tàu, xem lại từng ổ súng và thường cười nói với các anh em đoàn viên: "Không phải tôi nói dọa đâu. Mình cỡi hổ rồi đấy. Phải thận trọng tối đa thì mới mong có ngày về phép kỳ tới". Và hằng đêm Tuấn vẫn thường thức trắng, vừa học bài vừa sẵn sàng theo dõi mọi hoạt động và sự canh phòng căn cứ. Một đêm, đâu như vào đầu tháng năm 1973, Vũ, vị sĩ quan thâm niên, vắng mặt vì công vụ, Tuấn đương nhiên phải trông coi cả hai Giang Ðoàn. Từ sáng, Ðại Tá Thông (đầu bạc), vị chỉ huy trực tiếp của Tuấn, đã duyệt lại tình hình với Tuấn và nhắc: "Các cậu phải thận trọng tối đa đó nghe". Rồi Phó Ðề Ðốc Ðặng Cao Thăng, với tư cách là Tư Lệnh Hạm Ðội Ðặc Nhiệm 21, cũng nhắc qua hệ thống âm thoại: "Cẩn thận nghe Tuấn…" Tuấn nghe lệnh chỉ "Dạ" rồi nhìn lên tấm bản đồ trong phòng Hành Quân. Các vị trí phản pháo đã có sẵn. Các điểm hỏa lực cũng đã được bố trí thật chu đáo. Có điều Tuấn lo là tình trạng căng thẳng này kéo dài quá lâu, sợ tinh thần anh em nản và lơ là. Vì thế giữa cái lo lắng cực độ, Tuấn làm ra vẻ cười đùa với các đoàn viên. Buổi chiều Tuấn hay uống bia. Ðôi khi xách chai Quân Tiếp Vụ đi ra ụ súng uống với Lính. Vào lúc hai giờ sáng, khi cuốn Công Pháp Quốc Tế đang đến chỗ khó, mệt, Tuấn gấp sách lại, đi tiểu, rồi đi một vòng quanh căn cứ. Cùng lúc ấy Tuấn kêu cho các chiến đỉnh đang đi tuần phải sẵn sàng theo kế hoạch đã ấn định. Tuấn dứng trên nóc lô cốt chính nhìn ra bốn phía. Những hàng đèn vàng, èo uột lấp lánh qua những hàng kẻm gai. Gió thổi mát. Tuấn nhìn qua sông. Mặt sông phẳng lặng. Bên kia bờ sông những lùm cây đen xẫm. Những con đôm đốm loé lên từng đợt. Không hiểu sao Tuấn thấy rờn rợn; Tuấn định thần lại thấy sao đêm nay tĩnh mịch quá. Thiếu hẳn tiếng vạc bay qua bầu trời. Thiếu tiếng chim đêm…. Tất cả như một chờ đợi kinh khiếp sắp xảy ra. Tuấn cho chiếu đèn pha ra ngoài rào. Ánh sáng lóe lên, Tuấn thấy bờ rào phía Bắc căn cứ bọn Cộng phỉ lô nhô, và từng tràng đạn bừng lên từ bốn phía. Ngay lúc ấy, hỏa lực của ta chống trả lại ngay, hỏa châu được bắn lên sáng rực bầu trời. Các ổ súng đều vững tay súng. Các chiến đỉnh đi tuần, được lệnh theo kế hoạch nằm im, và bây giờ xả máy về giải vây. Trên hệ thống âm thoại các chiến đỉnh báo cáo đều. Hệ thống báo cáo với thượng cấp cũng được tức thời sử dụng. Tuấn trong phút bùng lên của lửa đạn vẫn thật bình tĩnh báo cáo: "Thưa Thẩm Quyền, tôi bị tấn công mãnh liệt từ bốn phía, đang phản công, sẽ thông báo sau…". Sau đó, đích thân Tuấn đi từ ổ súng để đốc thúc và nhắc nhở: "Không bắn phí đạn. Ðợi chúng qua hàng rào thứ nhất, ta dùng mìn Claymore đã…" Bên ngoài nghe tiếng "xung phong!" Dưới ánh hỏa châu, từng hàng người đen thẫm lấp loáng trong bóng đêm đang lũ lượt tiến vào hàng rào thứ nhất. Tuấn nhìn thấy rõ, và nói: "Bấm nút mìn". Ầm… Lửa bùng lên quanh đồn, hất đi tất cả những thây người tung tóe. Có những xác vắt vẻo trên hàng kẻm gai. Ðợt thứ nhất qua, đợt thứ hai lại như thế. Nhưng địch cậy đông, chúng dùng kèn thúc quân, và từng đợt khác lại tiến lên. Lúc ấy các chiến đỉnh đã về đến nơi. Ðại liên 20 ly, 30 ly, 40ly… đủ loại từ mặt sông cày lên, đạn chéo quanh căn cứ. Trong đài chỉ huy, Tuấn châm một điếu thuốc Quân Tiếp Vụ và ra lệnh cho các cho các chiến đỉnh: "Cứ từ từ, bắn từng đợt thôi, đợi tụi nó nhào tới mới khai hỏa." Cho đến gần sáng thì địch dùng hỏa lực từ xa pháo tới ào ạt. Các chiến đỉnh tạm thời phải chạy xa căn cứ tránh đạn. Hỏa lực phòng thủ chỉ còn trông vào các họng súng trong căn cứ. Tuấn nói với các sĩ quan trong phòng Hành Quân: - Thế nào cũng còn một đợt nữa, hãy tiết kiệm đạn, cố giữ cho đến sáng. Quả như vậy, đợt pháo vừa chấm dứt hàng hàng lớp lớp quỉ đỏ lại nhào vô. Ðợt mìn chót được sử dụng và hàng rào kẻm gai chỉ còn lớp chót, dưới ánh hỏa châu quanh đồn la liệt những xác địch quân. Cho đến 7 giờ sáng chúng mới rút. Sương còn giăng mắc trên mặt sông và đọng ở những lùm cây. Tuấn cầm trên tay ly cà phê nóng, uống từng ngụm nhỏ rồi báo cáo cho thượng cấp: - Thưa thẩm quyền, chúng vừa rút. Chi tiết chúng tôi sẽ kiểm điểm và trình thẩm quyền sau. Vào khoảng 11 giờ trưa, chiếc trực thăng đưa phái đoàn của thượng cấp tới. Chiến trường còn la liệt xác địch cháy cong queo. Một số lớn vũ khí của địch bỏ lai trong đó có một khẩu súng đại bác không giựt loại mới nhất của Trung Cộng lần đầu tiên được ghi nhận tại chiến trường Vùng IV Chiến Thuật. Phó Ðề Ðốc Ðặng Cao Thăng, Ðại Tá Thông bước ra khỏi trực thăng, Tuấn đã đứng đó, ánh mắt sáng nhưng không dấu được nét mệt mỏi qua làn kính cận, nhưng dáng điệu vẫn bình tĩnh, tự tin. Qua thuyết trình, phái đoàn cho biết theo tin của của phòng nhì, địch đã tung vào cuộc tấn công với một lực lượng hùng hậu gồm có một Trung Ðoàn của Công Trường 5 (Sư Ðoàn), hai đơn vị súng nặng quyết san bằng cho được cứ điểm Tuyên Nhơn. Nhưng tất cả đã xảy ra ngoài dự liệu của chúng. So sánh những thiệt hại đôi bên với sự chênh lệch một trên tám, ta đã bẻ gãy hoàn toàn ý đồ của chúng. Sau chiến tích này, trong một dịp về công tác ở Bộ Tư Lệnh Tuấn có ghé thăm tôi và kể lại trận chiến, kẻ viết bài này có nói với Tuấn: - Theo dõi trận đánh qua Trung tâm Hành quân, toa phản ứng đẹp quá. Tuấn cười nói: - Tôi đi tiểu đêm, nên phản ứng đúng lúc. Cả hai chúng tôi cùng cười rồi Tuấn nói tiếp. Ông Nam (Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam) có gọi tôi và nói ông chạy cho tôi một chân tỉnh trưởng nào đó…. - Thế là đeo lon trước tôi. - Ðâu có, Commandant đeo thực thụ còn tôi may ra chỉ nhiệm chức, còn việc qua bên hành chánh tôi muốn thư thả để cho xong cái bằng Luật đã, kẻo họ lại bảo mình lấy lon đè nhau. Ðó là lần chót tôi gặp Tuấn. Khi bắt tay từ giã tôi có nói với Tuấn thế này: "Biểu diễn như thế được rồi, nên nghĩ đi ông" "Binh đường khác đi". Tuấn cười đáp "Ðể từ từ đã". Nhìn mái tóc Tuấn khôn, da mặt xanh tái theo như sách tướng là tướng xấu, nhưng đôi mắt vẫn tinh anh và sánh, tôi cũng yên tâm phần nào. Sau đó là những ngày đất nước chìm ngập trong cơn đổi thay. Gia đình Tuấn di tản được hết qua Hoa Kỳ. Người anh cả của Tuấn là một vị Tướng có nhiều liên hệ với Hải Quân, hình như đã có lần trách cứ: "Các Anh khi di tản đã quên thằng Tuấn…". Lời trách cứ ấy đã làm áy náy nhiều người. Vì có tin tàu Tuấn bị B40 bắn chìm hôm 30-4-1975, Tuấn tử nạn. Nhưng mới đây qua sự tiết lộ của Phó Ðề Ðốc Ðặng Cao Thăng, căn cứ trên lời tường thuật lại sủa một sĩ quan dưới quyền Tuấn, có mặt trên đoàn tàu của Tuấn, thì sự việc diễn ra khác hẳn, cái chết của Tuấn rất anh dũng như sau: Trong những ngày chót của miền Nam, địch bám sát quanh căn cứ Tuyên Nhơn như đỉa đói, chúng đào hầm quanh đồn hở ra chúng bắn xẻ. Chúng chận cứng kinh Tuyên Nhơn để trong ngoài không tiếp cứu được nhau. Trước tình thế ấy, Tuấn vẫn bình tĩnh đốc thúc anh em binh sĩ phòng thủ, đặc biệt là bảo vệ khu gia binh. Chiều 29-4-1975, khi Bộ Tư Lệnh Hải Quân ra lệnh: "Kể từ giờ phút này các anh được quyền tự do quyết định" thì Tuấn đã cho họp ban Tham Mưu để thảo luận khế hoạch di tản ra biển, rồi sẽ tính. Nửa đêm 29 đoàn chiến đỉnh rời căn cứ Tuyên Nhơn mang theo tất cả gia đình binh sĩ, trong căn cứ đã được gài mìn và vẫn để đèn nhằm đánh lạc hướng địch. Khi đoàn chiến đỉnh rời căn cứ địch bắn theo dữ dội, dưới chiến đỉnh vẫn bắn trả lại lấy lệ và tiếp tục tiến ra sông Vàm Cỏ. Ðến khúc quẹo cách vàm kinh Tuyên Nhơn 10 cây số lòng sông hẹp, cây cối rậm rạp Tuấn tin chắc bọn quỉ đỏ sẽ phục kích đoàn chiến đỉnh ở đây. Quả đúng vậy, hai chiến đỉnh đi đầu đã bị bắn và bốc cháy sáng cả một khúc sông rồi chìm lần. Ðoàn chiến đỉnh đành tạm giảm máy. Trên đài chỉ huy Tuấn để chiếc radio vặn nhỏ, theo dõi các diễn tiến của Sàigòn. Tuấn liên lạc với Bộ Chỉ Huy nhưng hệ thống truyền tin đã rối loạn. Tuấn cho lệnh đoàn tiếp tục tiến, lại bị bắn ra như mưa bằng đủ loại súng, trời sáng dần. Rồi lời kêu gọi của Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh: "Anh em ai ở đâu ở đó để bàn giao cho phía bên kia…" Trước tình thế đó, trên các chiến đỉnh thì chi chít những đàn bà, trẻ con liều ra thì chết hết…. Do đó, Tuấn ra lệnh cho tất cả chiến đỉnh thi hành lệnh của Sàigòn, ủi bãi vào bờ chiếc soái đỉnh của Tuấn cũng vậy, nhưng khi chiếc soái đỉnh vừa ủi bãi thì cũng là lúc Tuấn dùng súng colt bắn vào đầu tự sát. Tuấn gục ngay trên bàn máu chảy loang cả trên tấm bản đồ hành quân.
Ðã 23 năm qua, giờ thân xác của Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn đã tan biến vào lòng đất quê hương. Tôi ngồi lại để ghi những giòng này thay cho cái chào vĩnh biệt một quân nhân quả cảm, bất khuất của Hải Quân Việt Nam, tôi cũng muốn đặc biệt gởi đến tất cả anh em Sĩ quan Hải Quân Khóa 14, các anh cũng nên làm một cái gì để cho người anh hùng Lê Anh Tuấn đồng khóa của các anh được nở cụ cười trong lòng đất mẹ.
PHAN – QUÂN Hai vì sao lạc
Sáng tác: Anh Việt Thu Trình bày: Bảo Yến
Người về, một mùa thu gió heo may Về đâu có nhớ chăng những vì sao long lanh đưa tiễn người một đêm không trăng Nói sao nên lời lòng buồn như chiều rơi Như trong đêm khuya những buớc chân qua thềm Gợi niềm thương nhớ vô vàn
Người về, đường đi kết gió trăng sao Người đi có biết chăng trong chiều nay bơ vơ Nghe lá thu vàng rơi bâng khuâng Bước chân ai về chừng thời gian ngừng trôi Như quên đêm khuya để gió xuôi theo màu thầm làm ướt áo vai gầy
Người về chiều mưa hay nắng Sao để khói lam chiều như se chùng màu không gian Người về giòng sông thương nhớ để bến vắng con đò buồn mong người người hay chăng?
Người là vì sao nhỏ bé Ta mãi ước cho lòng làm bầu trời xanh xanh Người về lòng ta thương nhớ Ta khẽ hỏi đưa người hay thầm người đưa ta
Người về người về đâu nhớ ta chăng Người ơi mỗi lá thu rơi làm ta bâng khuâng Như áng mây chiều lam trong sương Bước đi âm thầm lòng buồn như chiều rơi Nghe chăng thu ơi để lá rơi chi hoài Gợi lòng thương nhớ ai nhiều...
http://nhacvangonline.info/phoipha/3kkndmlnr/BaoYen/08-Hai%20vi%20sao%20lac.wma
Click here  
Publié le 12/06/2007 à 10:08
Par tapinlu

Oh ! Mon amour
Paroles et Musique: Michaele, P.de Senneville, O.Toussaint 1975
Elle a des yeux qui voient la mer A travers la pluie qui descend Elle fait des rêves où elle se perd Entre les grands nuages blancs Elle ne sait plus le jour ni l'heure Elle a des larmes au fond du cœur Qui lui font peur
Oh ! mon amour écoute-moi Déjà la vie t'attends là-bas Non n'ai pas peur il faut me croire La vie est belle même sans mémoire Tu sais je te raconterai Avec le temps tu comprendras Elle n'entend pas ce que je dis Et sa main dans ma main s'endort Je voudrais être ce pays Où elle s'en va chercher encore Dans le miroir de son passé Ce rêve qui s'était brisé Un soir d'été
Oh ! mon amour écoute-moi Un autre monde t'attend là-bas Non n'ai pas peur il faut me croire La vie est belle et notre histoire Peut continuer quand tu voudras Et tout sera comme autrefois
Oh ! mon amour ouvre ton cœur Tu m'entendras Pardonne le mal que je t'ai fait Je ne te quitterai plus jamais Oui mais demain dans mes cheveux Je vois des soleils dans tes yeux
Oh ! mon amour Une autre vie t'attend là-bas Je t'aime tant il faut me croire Le monde est beau et notre histoire Peut continuer quand tu voudras Et tout sera.........
Publié le 11/06/2007 à 20:03
Par tapinlu
PHÓNG SỰ :
ĐÊM HỘI NGỘ SĨ QUAN HẢI QUÂN CÁC KHOÁ LƯU ĐÀY http
 |
|