|
Publié le 27/04/2009 à 00:00
Par thanhuu
Bản tổng hợp Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ. Phạm Bá Hoa “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ” là một trong hai trận chiến quan trọng tại hải ngoại (Trận Chiến Nhân Quyền), góp phần phát huy sức mạnh của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản, và góp phần hỗ trợ mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa chính trị trên quê hương Việt Nam. Xin hiểu nhóm chữ “Quốc Kỳ Việt Nam” hay “Cờ Vàng” trong bản tổng hợp này là “quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ”, để phân biệt với cờ của cộng sản Việt Nam. Bản tổng hợp gồm 7 phần: (1) Quốc Kỳ Việt Nam. (2) Kỳ đài. (3) Bia đá tưởng niệm chiến sĩ. (4) Tượng đài tưởng niệm Chiến Sĩ. (5) Bia và tượng đài tưởng niệm Thuyền Nhân. (6) Các địa phương công nhận Quốc Kỳ Việt Nam. (7) Hạ cờ cộng sản. Phần một. Quốc Kỳ Việt Nam. 1. Quốc Kỳ Việt Nam trên đỉnh Everest. Ngày 17 tháng 5 năm 2004, quốc kỳ Việt Nam chúng ta đã được cắm trên đỉnh Everest dãy Hy Mã Lạp Sơn. Đây là đỉnh núi cao nhất thế giới (8.848 thước), cũng là nơi mà nhiều người trên thế giới mong muốn thực hiện cuộc hành trình gian khổ để chinh phục đỉnh núi nổi tiếng này. Qua địa chỉ <luannguyen>, tóm lược bài viết trong tờ Thời Báo số 117 ngày 25/6/2004 phát hành ở Portland, Oregon: Kỹ sư Huỳnh Lương Vinh quen biết với ông Craig Van Hoy, 46 tuổi. Ông có vợ người Lào tên Malysone. Có thể do mối liên hệ với quê hương bên vợ mà ông Craig dễ thông cảm với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, cùng trong hoàn cảnh bị chế độ cộng sản độc tài cai trị. Nhận ra tình cảm đó, ông Huỳnh Lương Vinh tâm sự với ông Craig về những thành công ngoạn mục của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại Hoa Kỳ, về cuộc vận động các địa phương chánh thức công nhận quốc kỳ Việt Nam. Kỹ sư Vinh mong muốn ông Craig, với tư cách Trưởng Đoàn chinh phục đỉnh núi Everest, cắm lá quốc kỳ Việt Nam trên đỉnh núi. Ông Craig vui vẻ chấp nhận và ông nói thêm rằng: Ông cắm quốc kỳ này trên đỉnh Everest, không chỉ dành riêng cho ông Huỳnh Lương Vinh và Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn trên thế giới, mà ông còn dành danh dự này cho hơn 80 triệu dân trên đất nước Việt Nam nữa. Trong đoàn leo núi này, ngoài ông Craig Van Hoy, còn có 1 người Đài Loan và 4 người Hoa Kỳ. Ông Craig Van Hoy đã thực hiện lời ông đã hứa với kỹ sư Huỳnh Lương Vinh, và ông mang về cho ông Vinh tấm hình ông chụp lá quốc kỳ Việt Nam trên đỉnh Everest để chứng minh lời hứa đó. 2. Quốc kỳ Việt Nam tại Iraq. Từ địa chỉ e-mail của Tuyến Nguyễn ngày 1/10/2004 cho biết, đơn của Trung sĩ Quân Cảnh Bùi Thanh Thảo trong Lục Quân Hoa Kỳ đang chiến đấu tại Iraq, xin được cắm quốc kỳ Việt Nam tại đơn vị của Anh, đã được cấp trên của Anh chấp thuận. Anh Bùi Thanh Thảo đã cắm quốc kỳ Việt Nam chúng ta cùng với quốc kỳ Hoa Kỳ vào ngày 6/9/2004 ngay trước đơn vị mà anh đang phục vụ tại thủ đô Iraq. Trong ảnh kèm theo e-mail cho thấy, anh Thảo đứng giữa 2 quốc kỳ Việt Nam-Hoa Kỳ. Trong thư gởi cho nhật báo Người Việt ở California, có đoạn anh Thảo viết: Dù là một quân nhân đã phục vụ hơn 7 năm trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng tôi vẫn không quên mình là người Việt Nam. Một đoạn khác: Nhân danh cá nhân tôi và các người lính Mỹ gốc Việt đang tham dự vào công cuộc chiến đấu chống khủng bố trên thế giới, tôi sẽ không bao giờ quên truyền thống Việt Nam của tôi, và tôi sẽ theo bước các thế hệ ông cha, tôi tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng tự do và dân chủ. 3. Quốc kỳ Việt Nam tại tiểu bang S. Australia. Chiều ngày 12 tháng 8 năm 2005, một buổi tiếp tân trọng thể do ông Michael Atkinson, Bộ Trưởng Nội Vụ, Bộ Trưởng Đa Văn Hoá và Sắc Tộc tiểu bang Nam Úc, tổ chức tại phòng khánh tiết trong tòa nhà Quốc Hội tiểu bang, để “Vinh Danh Cộng Đồng Việt Nam 30 Năm Tị Nạn tại tiểu bang Nam Úc”. Buổi lễ do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Hằng trăm quan khách Việt Nam và Úc Đại Lợi, trong số đó có nhiều viên chức của cơ quan lập pháp lẫn hành pháp tiểu bang tham dự. Trong phòng khánh tiết, hai đại kỳ Australia và Việt Nam, được đặt vào vị trí trang trọng nhất. Quan khách Việt Nam có mặt rất xúc động khi đứng trước quốc kỳ mà mình đã từng chiến đấu bảo vệ. Giờ đây, trong hoàn cảnh chế độ tự do đã sụp đổ 30 năm trước, nhưng quốc kỳ vẫn tồn tại một cách vinh dự trong những hoàn cảnh thích hợp trên những quê hương thứ hai. Phần chánh của buổi tiếp tân, Thủ Hiến Mike Rann đã đọc một bài diễn văn thật ý nghĩa, xin trích dẫn một số đoạn: … Chúng ta không bao giờ được quên những người đã bỏ mình trong cuộc vượt thoát chế độ cộng sản Việt Nam trong thập niên 70. Chúng ta phải vinh danh Họ, và chúng tôi phải vinh danh quí vị, là những người đã sống sót để thuật lại câu chuyện như một chiến thắng vinh quang của mình, một câu chuyện về vô số người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản ác ôn áp bức từ năm 1975. Cuộc trốn chạy can trường của người Việt Nam, đã làm cho cả thế giới nói chung, và nước Úc nói riêng, phải kinh ngạc! … Quí vị phải đương đầu với bão tố và hải tặc, với niềm hy vọng trông thấy một dãi đất nhân hậu bên kia chân trời để bắt đầu cho cuộc sống mới. … Sự đóng góp của quí vị đã tạo ra của cải cho tiểu bang Nam Úc, không chỉ về phương diện kinh tế, mà còn cả về phương diện xã hội và văn hoá nữa. .. Tên của những người Úc gốc Việt trẻ tuổi học hành tận tụy, đã chiếm nhiều hàng tít lớn trên báo chí vào tháng Giêng hằng năm, khi mà kết quả các kỳ thi được công bố với số điểm tối ưu hoặc rất cao. Các em đó cũng học hành xuất sắc như thế ở bậc đại học. Thật ra, tuổi trẻ Việt Nam đã được đứng vững trên đôi vai phi thường của các bậc phụ huynh vĩ đại …” …Cộng Đồng người Việt cũng đã tiến hành những cuộc tranh đấu đòi hỏi những quyền căn bản cho mọi người dân đang sống tại Việt Nam. Đó là những quyền mà mỗi con người đương nhiên được hưởng, như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do đi lại, quyền không bị ngược đãi bằng bất cứ hình thức nào, ..v..v.. … Chánh phủ do tôi lãnh đạo, và cá nhân tôi, đứng về phía quí vị trong cuộc đấu tranh không ngưng nghỉ, nhằm mang lại tự do và những quyền căn bản cho mỗi con người Việt Nam trên quê hương của quí vị. Vì vậy, trong khi chúng ta tán dương những thành tựu của Cộng Đồng người Việt hôm nay, chúng ta cũng công nhận sự nghiệp đấu tranh cho người dân tại Việt Nam.” 4. Quốc kỳ Việt Nam tại Đức. Ngày 21 tháng 8 năm 2005, một thánh lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20, được tổ chức trên sân cỏ Marienfield thành phố Koln, Cộng Hòa Liên Bang Đức do Đức Giáo Hoàng chủ lễ. Trong buổi lễ này, ước lượng có khoảng 800.000 người tham dự, và cũng do ước lượng có đến hằng tỷ người trên thế giới theo dõi qua các phương tiện truyền thông. Điều nhấn mạnh ở đây là khán giả theo dõi buổi lễ trên màn ảnh TV đều trông thấy rất rõ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, cùng với mấy lá cờ nữa được giương cao và tung bay phất phới ngay sau chiếc ghế mà Đức Giáo Hoàng đang ngồi chủ tọa. Vậy là không phải chỉ có Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản trên thế giới đều biết được quốc kỳ Việt Nam chúng ta, đã xuất hiện chánh thức với những văn bản hoặc trong một số lễ hội của chánh quyền bản xứ nơi có tổ chức Cộng Đồng Việt Nam, ít nhất là từ đầu năm 2003 và vẫn tiếp tục, còn có hằng tỷ người trên thế giới trông thấy nữa. Sự nhức nhối của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, nhất là nhân viên các cơ quan ngoại giao của họ tại ngoại quốc nhức nhối như con bệnh ung thư ngày thêm trầm trọng. Cái đau của họ là họ thấu hiểu sự nhức nhối đó nhưng không có bất cứ phương cách nào ngăn chận được . 5. Quốc kỳ Việt Nam trong diễn hành văn hoá quốc tế. Đáp lời kêu gọi của Ủy Ban Tổ Chức Ngày Văn Hoá Quốc Tế tổ chức hằng năm tại New York, Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ bắt đầu tham gia Diễn Hành Ngày Văn Hoá Quốc Tế từ năm 2000, sau khi đánh bại sự khiếu nại của cộng sản giành quyền đại diện Việt Nam tại Cơ Quan Di Dân Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc. Đây là lần diễn hành năm thứ 22 trong khi Cộng Đồng Việt Nam tham dự lần thứ 8, tổ chức ngày 18 tháng 6 năm 2007. Phái đoàn của Cộng Đồng Việt Nam tham dự hơn 2.000 người từ 44 Cộng Đồng địa phương qui tụ đến đây, cũng là dịp biểu dương sức mạnh của Cộng Đồng tị nạn ngay trước mặt phái đoàn cộng sản Việt Nam do ông Nguyễn Minh Triết dẫn đầu đang có mặt nơi đây. Đội hình đoàn diễn hành với quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ và quốc kỳ Hoa Kỳ cùng với banner “International Immigrants Presents Vietnam” dẫn đầu. Tiếp đó là banner “Vietnamese American Community”, lần lượt theo sau là đại diện 44 Cộng Đồng, đoàn nữ giới với trang phục Hoàng Triều, đến đại kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, đoàn Không Quân, xe hoa của hoa hậu Bích Trâm, đoàn nam giới mặc quốc phục cổ truyền, đến màu sắc rất đẹp của đoàn nữ giới với trang phục ba miền Nam Trung Bắc, xe hoa với ảnh Phù Đổng Thiên Vương + bản đồ Việt Nam + lá quốc kỳ Việt Nam và xướng ngôn viên Tố Uyên giới thiệu, đến đoàn nữ giới với chiếc áo dài tha thướt và những chiếc nón lá duyên dáng, rồi đoàn thanh thiếu niên nam nữ với chiếc áo tứ thân và khăn đóng áo dài, đến xe hoa của hoa hậu Bích Liên, đoàn nữ giới với những chiếc áo dài thời trang, và sau cùng của đoàn diễn hành là đông đảo bà con đồng hương. Từ đầu đến cuối đoàn diễn hành của Cộng Đồng là một rừng cờ vàng ba sọc đỏ phất phới suốt 8 block phố trên đại lộ số 6. Đoàn diễn hành của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn đã tạo được tình cảm của Ban Tổ Chức Liên Hiệp Quốc và tất cả mọi người có mặt. Đặc biệt là những đơn vị Cảnh Sát bảo vệ trật tự, khi đi ngang đoàn Việt Nam đều hoan hô “Việt Nam, Việt Nam”. Đoàn diễn hành của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản đã thành công ngoạn mục. 6. Quốc kỳ Việt Nam trong diễn hành Chiến Sĩ Trận Vong 2007. Tại Washington DC, một cuộc diễn hành qui mô tổ chức ngày 28/5/2007 nhân Ngày Chiến Sĩ Trận Vong Hoa Kỳ (National Memorial Day). Tham dự có 164 đoàn cựu chiến binh thuộc các quân binh chủng Hoa Kỳ. Đặc biệt có đoàn mô-tô của Rolling Thunder hằng mấy chục chiếc mà đa số là cựu chiến binh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Trong số rất ít cựu chiến binh thời đệ nhị thế chiến tham dự, có một chiến binh 106 tuổi được Ban Tổ Chức vinh danh. Lúc 11 giờ trưa, Tổng Thống Bush đặt vòng hoa tại đài chiến sĩ vô danh trong nghĩa trang quốc gia Arlington. Đoàn bắt đầu diễn hành lúc 2 giờ trưa từ đường số 7 West, theo đại lộ Constitution, và chấm dứt tại đầu đường số 17. Đây là lần đầu tiên, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa vùng đông bắc Hoa Kỳ được mời tham dự. Dẫn đầu đoàn diễn hành Việt Nam là biểu ngữ lớn với dòng chữ “Republic of Vietnam Associations Coalition” do các bà các chị trong chiếc áo dài trắng với khăn quàng màu tím và nón lá bài thơ, những chiếc áo tứ thân với chiếc nón quai thao, cùng căng biểu ngữ chiếm trọn bề ngang đoàn diễn hành. Kế đến là toán thủ quốc kỳ quân kỳ cùng với các toán cựu quân nhân trong quân phục đại diện các quân trường, quân chủng, binh chủng, sau cùng là xe hoa với toán cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến trong tư thế lúc dựng lại quốc kỳ Việt Nam ngay sau khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Chen lẫn trong đoàn là những chiếc áo dài dịu dàng mềm mại với những màu sắc khác nhau của các toán thuộc gia đình cựu nữ sinh Gia Long, gia đình cựu nữ Quân Nhân, gia đình cựu sinh viên sĩ quan Thủ Đức, cựu sinh viên trường Võ Bị Đà Lạt, gia đình Không Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhẩy Dù, Thiết Giáp, Truyền Tin, Thiếu Sinh Quân, Quốc Gia Nghĩa Tử, Chiến Tranh Chính Trị, các Sư Đoàn Bộ Binh 1, 5, 7, 9, và nhóm Hậu Duệ trong chiếc áo dài xanh rất dễ thương cùng với Tập Thể Chiến Sĩ vùng đông bắc Hoa Kỳ, là những hình ảnh nổi bật trong đoàn diễn hành. Đoàn diễn hành của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn với hơn 100 người tiêu biểu các tổ chức khác nhau, từ nhiều địa phương khác nhau, mang theo những tấm bảng ghi các địa danh từng là chiến trường ác liệt mà hầu hết cựu chiến binh Hoa Kỳ đều biết, khi đi ngang khán đài danh dự, quan khách cùng đứng lên chào lá đại kỳ Việt Nam. Đây là một thành công nữa trong mục đích giương cao quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ trong vùng đông bắc Hoa Kỳ. 7. Quốc kỳ Việt Nam tại Paris. Theo e-mail của ông Nguyễn Bắc Ninh từ Paris. Do vận động của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại địa phưong, tòa thị chánh “Voisins Le Bretonneux” cách Paris 35 cây số, cho phép treo quốc kỳ Việt Nam trên một trong bốn cột cờ chánh của tòa thị chánh trong 3 ngày từ 8 giờ 30 sáng ngày 27/6/2008 đến 8 giờ 30 sáng ngày 30/6/2008. Tuy không được như Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ, Canada, Australia, nhưng bà con trong Cộng Đồng tại đó rất vui mừng vi được thấy quốc kỳ chúng ta lần đầu tiên chánh thức tung bay trên bầu trời Paris cùng với quốc kỳ Pháp suốt thời gian ngắn ngủi ấy. 8. Quốc kỳ Việt Nam trong Ngày Giới Trẻ Quốc Tế tại Sydney. “Ngày Giới Trẻ Quốc Tế lần thứ 23” tổ chức tại Sydney, Australia, từ ngày 15 đến 20 tháng 7 năm 2008. Trong tổng số giới trẻ tín đồ Thiên Chúa tham dự đại hội có 100.000 giới trẻ bản xứ, 125.000 người từ khắp nơi trên thế giới đến, trong số đó có 15.000 giới trẻ -gồm cả giới trẻ Mỹ gốc Việt- từ Hoa Kỳ đến, và khoảng 600 giới trẻ đến từ Việt Nam. Ngày 17/7/2008, trong lúc trên du thuyền gần Cầu Hải Cảng và Nhà Hát Con Sò, thanh niên Phạm Vũ Anh Dũng đã kể chuyện với Đức Giáo Hoàng về cuộc sống của gia đình anh trong Cộng Đồng tị nạn cộng sản, nhân đó anh dâng dãi quốc kỳ lên Đức Giáo Hoàng. Ngài liền ban phép lành và tự choàng lên cổ. Tấm hình (bên trên) lịch sử này được chiếu trên đài truyền hình Australia. Ngày 20/7/2008, trong Thánh Lể bế mạc Đại Hội, Cộng Đồng tị nạn đã thành công cao hơn dự tưởng, vì không một lá cờ đỏ nào của cộng sản Việt Nam xuất hiện trong khi rừng cờ vàng rực rỡ giữa rừng người dự lễ mà cơ quan truyền thông Australia ước lượng khoảng 500.000 người. Tuổi trẻ Việt Nam đến Sydney từ khắp nơi vào khoảng 3.000 người và Ban Tổ Chức sắp xếp ở chung nhau. Do dễ dàng tâm sự bên nhau nên được biết trước khi rời Việt Nam, mỗi người phải mang theo cờ của đảng cộng sản và được lệnh phải giương cao 400 lá cờ đỏ trong ngày thánh lễ bế mạc, nhưng các bạn này quyết định không thực hiện, một phần vì Ban Tổ Chức bảo cất nó trong cặp, phần khác vì biết tin ngày bế mạc có đến 5.000 người Việt Nam cùng giương cao cờ vàng ba sọc đỏ. Quả thật, ngày bế mạc cả rừng cờ vàng giữa rừng người đến nửa triệu, lúc ấy nhận thấy quyết định không giương cờ đỏ lá đúng, dù biết rằng sẽ gặp khó khăn khi về nước. Rất nhiều bạn trẻ chụp hình kỷ niệm, dù chụp từ góc cạnh nào cũng có cờ vàng ba sọc đỏ trong hình nhưng các bạn cho biết không sợ, cứ tới đâu hay đó. Các bạn cũng cho biết, có vài bạn bị phóng viên báo Thanh Niên kéo ra một góc kẹt, căng cờ đỏ lên để họ chụp hình về VN làm báo cáo. Tờ Sydney Morning Herald phát hành ngày 21/7/2008, trong bài viết ngắn “A Flag For Freedom” (Lá Cờ Cho Tự Do) được ông Trần Hưng Việt tại Brisbane, Queensland, Australia, dịch từ Anh ngữ như sau: “Cuộc chiến có thể đã chấm dứt, nhưng đối với nhiều người trong Cộng Đồng người Việt ỏ Sydney thì không. Quốc kỳ của Nam Việt Nam là biểu tượng được trông thấy rõ ràng nhất giữa rừng quốc kỳ và các biểu ngữ về tôn giáo trong buổi Thánh Lễ của Đức Giáo Hoàng, mặc dù đó là một biểu ngữ không có quốc gia và bị cấm ở nơi chốn nguyên thủy của nó. Đây là quốc kỳ của nước Việt Nam Tự Do. Một người hành hương trong nhóm người Việt đang đứng dưới lá đại kỳ màu vàng ba sọc đỏ: Hôm nay, chúng tôi mang lá cờ này để nhắc nhớ mọi người rằng, có những nhà cầm quyền vẫn đàn áp quyền tự do tôn giáo”. 9. Quốc kỳ Việt Nam trong trường Mt. Tahoma. Từ địa chỉ e-mail <taokhangchithe ....> kèm theo thư của cháu Nguyễn Anh Thùy, đang học tại trường Mt. Tahoma, Tacoma, tiểu bang Washington. Theo đó, năm 2008 trong ngày văn hoá tại trường, cháu thấy học sinh gốc quốc gia nào có cờ của quốc gia đó, riêng Việt Nam thì không là cháu suy nghĩ. Trong một lớp học, cháu thấy cô giáo có bộ sưu tập các quốc kỳ, trong đó có cờ đỏ sao vàng với kích thước khá nhỏ do một học sinh Việt Nam tặng. Từ đó cháu cùng nhóm học sinh Việt Nam quyết định ghi tên tham dự Ngày Văn Hóa của trường vào ngày 27/03/2009. Cháu Thùy nói: “... Và thật hãnh diện khi lá cờ Việt Nam tung bay sánh bước cùng cờ tiểu bang liên bang, chúng con bước đi trong niềm hạnh phúc và cháy bỏng trong tim để bạn bè và cô giáo thấy biết đây chính là lá cờ thật sự của nước Việt Nam chúng ta. Chúng con rất vui khi đem lá cờ tự do Việt Nam và những điệu múa dân gian cùng tà áo dài truyền thống của người con gái Việt đến những bạn trẻ Việt Nam sống nơi đây cũng như bạn bè khắp nơi biết được nét đẹp và văn hoá dod65c đáo của đất nước chúng ta. Và từ hôm ấy lá cờ vàng ba sọc đỏ được treo tại trường cùng lá cờ các quốc gia bạn”.
Phần hai. Những kỳ đài. 1. Kỳ đài tại San Jose, Hoa Kỳ. Ghi nhớ đến kỳ đài, tuy có muộn màng nhưng rất cần tuyên dương Liên Hội Người Việt tại thành phố San Jose, tiểu bang California. Giữa những năm 80, một công viên văn hoá Việt Nam được xây dựng tại thành phố này, và trong dự án kỳ đài có quốc kỳ Việt Nam sẽ phất phới trên đó. Hội Đồng Quản Trị Công Viên thành phố San Jose hỏi ý kiến Bộ Ngoại Giao về việc Cộng Đồng Việt Nam treo quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa trước kia trên kỳ đài trong công viên. Trong văn thư ngày 22/9/1986 của Bộ Ngoại Giao, theo đó “Bộ Ngoại Giao không thấy trở ngại nào, về việc quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa (cũ) treo trên kỳ đài của đài tưởng niệm những chiến sĩ Việt Nam và Hoa Kỳ, đã dũng cảm hi sinh cho dân chủ tự do trong cuộc chiến tại Việt Nam”. 2. Kỳ đài tại Houston, Hoa Kỳ. Lần lượt các Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston, từ năm 1994 đến năm 2005, với sự hỗ trợ tích cực của đồng hương trong Cộng Đồng, đã thực hiện được 12 kỳ đài tại các khu phố thương mại sầm uất của Houston và ven ngoại ô. Tại mỗi kỳ đài có 3 lá cờ ngang nhau: quốc kỳ Hoa Kỳ, quốc kỳ Việt Nam, và cờ tiểu bang Texas. Tất cả tuy chưa phải là qui mô như tên gọi, nhưng điều quan trọng là quốc kỳ Việt Nam chúng ta, cùng với quốc kỳ liên bang Hoa Kỳ và cờ tiểu bang Texas, tung bay trên các vùng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, và Tây Nam của thành phố. 3. Kỳ đài tại Pomona, Hoa Kỳ. Nguồn tin từ bác sĩ Võ Đình Hữu, Cộng Đồng Người Việt thành phố Pomona Valley, tiểu bang California, Hoa Kỳ, đã khánh thành kỳ đài ngày 30/4/2000. Kỳ đài được thành phố cấp giấy phép số 812 ngày 20/4/2000. Trên đỉnh hai cột cờ có chiều cao 45 feet (khoảng 15 thước), là quốc kỳ Việt Nam và quốc kỳ Hoa Kỳ tung bay trong gió. 4. Kỳ đài tại Seattle, Hoa Kỳ. - Ngày 25 tháng 4 năm 2004, một kỳ đài với 2 cột cờ cao 36 feet được khánh thành trong buổi lễ trang trọng tại khuôn viên đài phát thanh Sài Gòn SRBC ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Rất đông đồng hương tham dự. 5. Kỳ đài tại Greer, Hoa Kỳ. Nguồn tin từ anh Phạm Bá Hân. Với văn thư chánh thức ngày 12/12/2005, Disabled American Veterans Greer Chapter 39, đồng ý cho Việt Nam thực hiện các bia đá đen ghi tên các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh vì Dân chủ Tự Do. Các bia đá đen này đặt cạnh các bia đá đen ghi tên các tử sĩ Hoa Kỳ có sẳn nơi đây. Mỗi bia đá đen ghi danh được 57 tử sĩ với chi phí chung là 5.630 mỹ kim (hay là chi phí riêng cho mỗi tử sĩ là 98.78 mỹ kim). Hội Cựu Quân-Cán-Chánh tại South Carolina, đang vận động gây quỹ để thực hiện những tấm bia đá đen này, khắc tên từng tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, để các thế hệ mai sau nhớ mãi gương hi sinh cao quí của những bậc cha ông. Lễ khánh thành kỳ đài trong công viên Victor Memorial Veterans tại thành phố Greer, tiểu bang South Carolina, tổ chức lúc 11 giờ sáng ngày 29/4/2006, do Hội Cựu Quân-Cán-Chánh và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia thành phố Greenvill, phối hợp với Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tổ chức. Công trình này do Clayton Monuments thực hiện. Hai quốc kỳ Việt Nam và Hoa Kỳ trên đỉnh hai cột cờ, trong nhóm kỳ đài có sẳn trong công viên này. Phần ba. Bia đá tưởng niệm chiến sĩ. 1. Bia tưởng niệm tại Honolulu, Hoa Kỳ. Tài liệu từ Giáo Sư Nguyễn Văn Canh, “Ủy Ban Dựng Bia Đá & Vinh Danh” gọi tắt là “Ủy Ban Vinh Danh” được thành lập, do Luật Sư Đỗ Doãn Quế Chủ Tịch, cô Nina Nguyễn Ngọc Nhung, Phó Chủ Tịch Điều Hành, cựu Đại Tá Gene Castagnetti, Phó Chủ Tịch Đối Ngoại, và một số vị trách nhiệm những bộ phận khác nhau. Giáo Sư Nguyễn Văn Canh là Cố Vấn. Bia đá ghi danh tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa được phép đặt cạnh bia đá của Không Quân Hoa Kỳ, cùng hàng với khoảng 50 bia đá của Hoa Kỳ và các quốc gia khác, trong khuôn viên “Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương” (National Memorial Cemetery of the Pacific = NMCP) tại Honolulu, tiểu bang Hawaii. Nghĩa trang nằm trên miệng núi lửa Puowaina, rộng 112 mẫu. Puowaina có nghĩa là “Hi Sinh”. Ngoài bia đá nặng khoảng 2.000 lbs. trên đỉnh núi Kapa’a do Giám Đốc công ty sở hữu núi Kapa’a tặng. Ngày 30/4/2006, Bia Đá Vinh Danh Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã được khánh thành trong buổi lễ rất trang nghiêm, trọng thể, và cảm động. Phần trên của bia đá: Chính giữa là bản đồ Việt Nam. Bên trái là quốc kỳ Hoa Kỳ với dòng chữ “Duty - Honor - Country”. Bên phải là quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ với dòng chữ “Tổ Quốc Ghi Ân - Vị Quốc Vong Thân”. Phần dưới là một khung lớn với những dòng chữ bằng Anh ngữ “Vinh Danh Quân Lực Hoa Kỳ, Quân Lực & Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa, và các quốc gia Đồng Minh Australia, New Zealand, South Korea, Phillippines, Taiwan, và Thailand, đã chiến đấu chống cộng sản để bảo vệ dân chủ tự do và nhân quyền cho thế giới”. Trong e-mail lochuong65@yahoo.com.au viết về lễ khánh thành Bia Đá này, có bài thơ Vị Quốc Vong Thân, như sau: Vị Quốc Vong Thân Ất Mão niên. Quốc suy Tướng sĩ chết theo thành. Vong linh tuế nguyệt trầm hương tỏa. Thân thế thiên thu khắc hãn thanh”. 2. Bia tưởng niệm tại Fayetteville, Hoa Kỳ. Nguồn tin từ tác giả Nguyễn Văn Lập. “Hội Ngộ Mũ Đỏ” (Red Hat Reunion) được tổ chức tại thành phố Fayetteville, tiểu bang North Carolina, từ ngày 11-14 tháng5/2006. Khoảng 300 Mũ Đỏ Hoa Kỳ và Mũ Đỏ Việt Nam tham dự. Nhiều cơ quan truyền thông Hoa Kỳ và Việt Nam cũng có mặt. Trong số Mũ Đỏ Hoa Kỳ, có nhiều vị trước kia là cố vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam mà nay là Tướng Lãnh. Một đoạn trong lời phát biểu, Trung Tướng James B. Vaught -Cố Vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam năm 1971- nhấn mạnh: “… Tưởng rằng làm cố vấn giúp các bạn chiến đấu, nhưng thật sự thì chúng tôi học tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời của các bạn. Và buổi lễ tưởng niệm này để tưởng nhớ sự hy sinh của trên 20.000 Người Lính Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến, trong đó có nhiều Cố Vấn thuộc Team 162 đã nằm xuống vì tự do cho Việt Nam…” Lễ đặt Bia Đá Tưởng Niệm và khánh thành Khu Bảo Tàng dành cho Mũ Đỏ Việt Nam được thực hiện ngày 12/5/2006, rất trang trọng với đầy đủ lễ nghi quân cách của quân lực Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Trên Bia Đá có dòng chữ “Dedicated to the 20,000 + Vietnamese Airborne who died fighting for freedom and democracy in South Vietnam 1960-1975. Military Assistance Command Vietnam Advisory Team 162 The Red Hats”. Tấm bia này được khắc xuống nền sân trước của Bảo Tàng Viện. Trích lời phát biểu của Đại Tá Paul Devries, Trưởng Ban Tổ Chức trong lễ khánh thành “Khu Bảo Tàng” bên trong Bảo Tàng Viện: “… Phải gọi là lịch sử, vì đây là lần đầu tiên và duy nhất, một Binh Chủng thiện chiến của quân đội Đồng Minh (Việt Nam Cộng Hòa) được đặt Bia Tưởng Niệm và có một Khu Bảo Tàng vĩnh viễn trong Bảo Tàng Viện nổi tiếng của Lục Quân Hoa Kỳ …” Chủ Tịch Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam, ông Nguyễn Thành Phúc, đã cảm tạ Toán Cố Vấn Nhẩy Dù 162 thuộc MACV về nghĩa cử và hành động ghi nhớ sự hy sinh của chiến sĩ Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa. Phần bốn. Tượng đài tưởng niệm Chiến Sĩ & Thuyền Nhân. 1. Tượng đài tại Fairfield, Australia. Ngày 31/8/1991, lễ khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa & Úc Đại Lợi rất trọng thể, do Đề Đốc Peter Sinclair, Thủ Hiến tiểu bang New South Wales, Australia chủ tọa. Tượng đài đặt trong công viên Cabra-Vale, thành phố Fairfield, ngoại ô của Sydney, với quốc kỳ Việt - Úc cùng phất phới trên kỳ đài. 2. Tượng đài tại Perth, Australia. Ngày 7 tháng 12 năm 2002, Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn chúng ta tại Australia nói chung và miền Tây Australia nói riêng, đã thực hiện và khánh thành Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt - Úc đã hi sinh vì dân chủ tự do tại thành phố Perth, miền Tây Australia. Tại đó, quốc kỳ Việt Nam chúng ta đã chánh thức phất phới trên kỳ đài, dù rằng đại sứ cộng sản Việt Nam tại Australia đã phản đối mạnh mẽ, nhưng họ đã thất bại như đã thất bại với tượng đài năm 1991. 3. Tượng đài tại Westminster, Hoa Kỳ. Ngày 27/4/2003, Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam-Hoa Kỳ đã được long trọng khánh thành tại công viên tòa thị sảnh thành phố Westminster, tiểu bang California, nơi được xem là “thủ đô” của Cộng Đồng tị nạn chúng ta. Trong buổi lễ này, rất đông nhân vật chánh quyền địa phương, chánh quyền tiểu bang và liên bang Hoa Kỳ, nhiều quan khách ngoại quốc mà trước kia có quân đội tham chiến bên cạnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa, và hằng chục ngàn đồng hương Việt Nam tại địa phương, từ nhiều tiểu bang khác, cùng với đồng hương từ nhiều quốc gia xa xôi đến tham dự. 4. Tượng đài tại Dandenong, Australia. Ngày 30/4/2005, tượng đài được khánh thành trong buổi lễ thật trang trọng tại Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia, với sự tham dự rất đông bà con Việt Nam từ các tiểu bang qui tụ về đây. Trên bệ tượng đài là Người Lính Australia & Người Lính Việt gần như đâu lưng nhau trong tư thế sẳn sàng chiến đấu trên đường hành quân. 5. Tượng đài tại Houston, Hoa Kỳ. Ngày 11/6/2005, rất đông bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại thành phố Houston và vùng phụ cận, và một số nhân vật Hoa Kỳ địa phương -kể cả cựu chiến binh Hoa Kỳ- đã tham dự ngày khánh thành tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Hoa Kỳ trong buổi lễ rất trang trọng. Tượng chiến sĩ Việt Nam và Hoa Kỳ, súng trong tay, cùng nhìn về phía trước trong tư thế sẳn sàng tác chiến. Tượng đài xây dựng tại số 11360 đại lộ Bellaire, khu tây nam thành phố Houston, nơi qui tụ đông đảo đồng hương cư trú lẫn kinh doanh thương mãi. 6. Tượng đài tại Brisbane, Australia. Ngày 16/9/2005, tại miền Đông Australia, tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Australia được khánh thành rất trang trọng trong Công Viên Roma Street tại trung tâm thành phố Brisbane, tiểu bang Queensland, cách Sydney khoảng 1.000 cây số về phía bắc. Lễ khánh thành do bà Anna Bligh, Phó Thủ Hiến Queensland chủ tọa, với sự tham dự khoảng 700 người Việt và Úc. Theo tài liệu của anh Nguyễn Văn Sanh từ Brisbane cung cấp, Ủy Ban Xây Dựng thành lập từ tháng 4 năm 2001. Trách nhiệm thực hiện do Ban Điều Hành với hai vị đồng Trưởng Ban là cựu Đại Úy Huỳnh Bá Phụng và cựu Thiếu Tá Alan Cunningham. Tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa & Người Lính Australia, do điêu khắc gia Dean Rusling, nhà tạc tượng Frederick Whitehouse, và kiến trúc sư Lê Cương thực hiện. 7. Tượng đài tại Adelaide, Nam Australia. Tại thành phố Adelaide, sau hơn 3 năm phối hợp công tác của Hội Cựu Chiến Binh Úc tham chiến tại Việt Nam và Hội Cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, ngày 15/10/2006, tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Australia trong công viên Torrens Parade Ground trước Trung Tâm Quân Sự Tiểu Bang Nam Úc, được khánh thành trong buổi lễ rất trang nghiêm và cảm động, do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Khoảng 4.000 quan khách Việt Nam và Australia tham dự, trong số đó có nhiều chính khách của thành phố Adelaide, tiểu bang, và liên bang. Đặc biệt, có mặt của Trung Tướng Donald Dunstan, cựu Tư Lệnh quân đội Úc tại Việt Nam Cộng Hòa năm 1971-1972. Tượng chiến sĩ Việt-Úc cùng đứng bên nhau trên bệ đá hoa cương. Mặt Nam là mặt chánh, có dòng chữ “Vietnam War Memorial” mạ vàng. Mặt Đông khắc huy hiệu Hải Lục Không Quân Úc và huy hiệu Hải Lục Không Quân VNCH. Mặt Bắc ghi tên 58 chiến sĩ của Nam Úc đã hi sinh trên chiến trư
Publié le 21/04/2009 à 16:29
Par thanhuu
“HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN”
VÌ SAO TÔI VIẾT HỒI KÝ? Khi bắt tay vào viết hồi ký, ấy là lúc mọi khát vọng sáng tạo đã cạn, mọi ham mê, hoài bão đã tắt, và thần chết đã cầm lưỡi hái hiện trước cửa sổ... ” Câu mở đầu đó, nếu tôi không nhầm, là của George Sand mà tôi đã đọc, đã thương cảm và đã tự nhủ rằng rồi đây chính mình cũng sẽ phải để lại cho đời ít dòng nói thật khi bước vào tuổi 70, nếu như cái chết lãng nhách không đến bất chợt! Biết đâu đấy, rồi đây lịch sử sẽ có thêm được một số chi tiết trong “tội ác diệt văn hóa” của nhà cầm quyền Việt Nam trong một thời gian dài trên nửa thế kỷ nhờ những chứng liệu được ghi trong hồi ký của một kẻ từng làm thứ văn nghệ gọi là “vì Đảng vì dân” trong suốt đời mình. Hãy nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật ở miền Bắc Việt Nam mà xem. Một lỗ hổng lớn! Đúng vậy! Hậu thế sẽ thắc mắc: làm sao mà từ năm 1945 đến đầu thế kỷ 21, nhân tài đất Việt ở miền Bắc Việt Nam —một thứ Đàng Ngoài của lịch sử lặp lại — ít ỏi đến thế? Tác phẩm của họ đâu rồi, ngoài lèo tèo mấy bài thơ của Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán...và chẳng có một tiểu thuyết, một đoạn văn nào đáng được trích giảng trong các trường từ tiểu, trung đến đại học? Vậy mà suốt thời kỳ đất nước nằm dưới “sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt” và “duy nhất đúng đắn” của những tên “xuất thân thành phần cơ bản”, trình độ học thức ở mức “đánh vần được chữ quốc ngữ”, các văn nghệ sĩ công chức ở nơi này vẫn được nhà cầm quyền trao tặng “Giải thưởng Nhà Nước”, “Giải thưởng Hồ Chí Minh” và đủ thứ bằng khen giấy khen, được trang trọng lồng kính treo kín những bức tường phòng khách! Thử hỏi những tác phẩm được khen nức khen nở ấy giờ ra sao? Té ra tất cả đã bị lịch sử xếp xó. Hơn thế nữa, những tác giả được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa khen hàng loạt nọ, trong thực tế, còn là những kẻ bán rẻ lương tâm đã lợi dụng các loại hình văn nghệ để ca ngợi những điều bất nhân, bất nghĩa bị cả nhân loại phỉ nhổ: khuyến khích con đấu cha, vợ tố chồng; hô hào kích động người cùng một nước chém giết lẫn nhau; ra sức ngợi ca những tên sát nhân khét tiếng như Stalin, Mao Trạch Đông… thậm chí, còn quỳ gối khấu đầu tạ ơn những tên đao phủ và cái tổ chức tội ác là “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, dạy những đứa trẻ bập bẹ biết nói: “tiếng đầu lòng con gọi Stalin!” Nhục nhã thay cho những kẻ cam tâm bợ đít, luồn trôn kẻ giết cha mình! Cho tới cuối thế kỷ 20 vẫn còn những kẻ u mê cứ tưởng các “tác phẩm” tuyên truyền cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cho hận thù dân tộc, cho đấu tranh giai cấp của chúng là giá trị lắm! Cứ xem chúng tâng bốc nhau, nịnh bợ nhau, bôi xấu nhau, kiện cáo nhau, để được nhận cái… vết nhơ một thời làm lính văn nghệ của Đảng thì thấy. Không thể nín nhịn mãi, nhân dịp người ta tổ chức mừng sinh nhật 70 tuổi của tôi để ghi công những năm làm nô bộc của tôi, tôi đã công khai phủ nhận tuốt tuột những gì tôi gọi là “tranh cổ động bằng âm thanh” trên Tivi Sài Gòn. Tôi kiên quyết không cho phát lại những gì tôi được nhà cầm quyền ngợi khen suốt quá trình sáng tác. Để nhắc đến những tác phẩm của tôi, tôi chỉ đồng ý lên một chương trình do chính tôi soạn thảo và đặt tên. Nó gồm những tiếng nói của trái tim bị cấm đoán, bị lên án, thậm chí bị trù dập suốt nửa thế kỷ. Sau hết, dựa vào thời cơ “Đổi Mới”, nhờ những bạn bè đồng tình với tôi và còn giữ được một số quyền hành cuối cùng trước khi về hưu, chương trình Nửa Trái Tim Tôi của Tô Hải đã ra mắt trọn một tiếng đồng hồ với toàn những “tác phẩm bỏ tủ lạnh”, với những lời tuyên bố gây “sốc” mạnh trong giới làm nhạc ăn lương. Những đồng nghiệp thực sự có tài và có tâm sự giống tôi thì hài lòng. Số này, khi trả lời phỏng vấn, cũng chỉ dám nhận một cách khiêm tốn con số ít ỏi những gì mình làm ra xứng đáng được gọi là tác phẩm. Còn số khác, những “nhạc sĩ” bám chặt thành tích 500, 1000 bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác, động viên con em ra chiến trường hiện còn tiếp tục lải nhải kể công với Đảng để xin “tí tiền còm” nhân danh giải này giải nọ thì tự ái, nổi khùng, gọi tôi là “tên phản động”. Trả lời những câu hỏi của báo chí hoặc truyền thanh truyền hình, tôi luôn nhắc lại nguyên lý bất diệt của nghệ thuật: “Chỉ những gì từ trái tim mới đến được trái tim”! Nhưng trái tim của tôi, hỡi ôi, gần một thế kỷ qua lại không đập vì...tôi! Nó bị trói buộc, bị cưỡng bức phải đập vì những cái xa lạ với tôi: vì Đảng, vì hai cuộc chiến, vì những tín điều nhập khẩu từ các nước cộng sản Nga, Tầu. May thay, thời thế rồi cũng đổi thay. Liên Xô, “quê hương của cách mạng vô sản toàn thế giới”, “ngọn đuốc soi đường cho nhân loại” sụp đổ cái rụp. Thần tượng Marx, Lénine, Stalin gần 70 năm được tôn thờ hơn cả Chúa Trời bị đập tan! Đọc hồi ký, di bút của các văn nghệ sĩ vĩ đại của mọi thời đại như Beethoven, Modigliani, Rubinstein, Stravinsky, Litz... hay của các nhà chính trị như De Gaulle, Khrutchev, Nixon ... càng thấy cái cao thượng của họ bao nhiêu càng thấy cái bẩn thỉu, thấp hèn của các nhà “chính chọe” (politicaillerie) bấy nhiêu. Biết bao tên tuổi lớn đã chịu sự hắt hủi, lên án, thậm chí săn đuổi, cách ly của một thể chế, của tập đoàn nắm quyền lực, kể cả bị lên án là “phản bội” đã để lại cho chúng ta các tác phẩm ghi lại những gì họ suy ngẫm qua những trải nghiệm trong cuộc đời, những buồn đau, khổ cực, những chịu đựng ghê gớm cả về vật chất lẫn tinh thần để tồn tại, để tìm tòi và sáng tạo. Trong khi đó, hồi ký của các “lãnh tụ cách mạng” chỉ là những cuốn sách viết ra cốt tự đề cao mình một lần cuối, để giải thích (chống chế thì đúng hơn) cho những hành động sai lầm, đổ tội cho người khác về những thất bại mang tính lịch sử mà kẻ viết hồi ký chính là tội phạm. Vậy thì, tôi, Tô Hải, một cái tên được nhiều người biết ở cái thời “âm nhạc phục vụ công nông binh”, ở cái thời mà âm nhạc, nếu không làm đúng yêu cầu của Đảng sẽ lập tức bị bọn “quan văn nghệ” lên án là “mất lập trường”, là “cá nhân tiểu tư sản”, thậm chí là “âm nhạc phản động”, có gì để mà hồi với ký? Bánh xe lịch sử quay với tốc độ kinh hoàng đã cuốn phăng những “tác phẩm”, và cả những tác giả của chúng từng đoạt giải thưởng này huân chương nọ — lại than ôi, có cả tôi trong đó! Lẽ công bằng chậm chạp cho đến nay đã phục hồi một cách rụt rè (không cần một quyết định hành chính nào hết) những tác phẩm và những tác giả một thời bị đoạ đầy, bị cấm đoán. Cuộc Đổi Mới — thực tế là trở lại như cũ — với các quan niệm về cái đẹp đã cho những “tên tuổi lớn” một thời trong mọi lãnh vực quân sự, chính trị, văn học, nghệ thuật những cái tát tỉnh người! Trong “cơn đau cuối đời”, một số cựu uỷ viên trung ương đảng không còn chỗ ngồi ghé trong các ban chấp hành mới, mấy ông tướng bị cho ra rìa, ngồi chơi xơi nước hoặc bị khai trừ khỏi đảng vì bất tuân thượng lệnh, đã tỉnh ngộ. Kinh nghiệm một đời theo Đảng đã cho họ cái để viết nên những trang “sám hối” có phần nào giá trị. Họ phải trả giá cho sự dám nhìn lại cuộc đời bằng con mắt khách quan và tỉnh táo bằng sự trừng trị tương đối nhẹ nhàng so với người đối kháng khác: bị giam lỏng tại nhà, bị cắt điện thoại, tịch thu computer... Trong khi đó — tôi xin nhắc lại — mấy anh văn nghệ sĩ mơ ngủ vẫn xúm đen xúm đỏ chen lấn nhau để giành bằng được mấy cái giải thưởng cho những tác phẩm mà con cháu ngày nay chẳng còn coi là cái giống gì. Ấy là chưa kể những kẻ chẳng bao giờ góp mặt trong nền văn nghệ, kể cả văn nghệ “phục vụ cách mạng”, nhân dịp này dịp khác cũng được nhà nước vô sản hào phóng ban thưởng về “sáng tác”! Một bức tranh cười ra nước mắt. Riêng tôi, khi chẳng còn lao động nghệ thuật được nữa (đúng hơn là không còn muốn lao động nghệ thuật nữa) bỗng dưng lại được cái Nhà Nước công nông binh tặng cho cái “Huân Chương Lao Động Hạng Nhất”. Và khi không còn sáng tác nữa (đúng ra là không muốn sáng tác nữa) lại được người ta treo lên cổ cái mề-đay “Giải thưởng Nhà Nước”! Sướng chưa? Tội nghiệp cho mấy anh Văn Chung, Nguyễn Đình Phúc, Lê Yên, Vũ Trọng Hối, Trần Ngọc Xương... chẳng còn sống ở trên đời để mà hưởng cái “Giải thưởng Nhà Nước” nọ. Nói thêm chút cho vui: Cái giải thưởng này quy ra tiền cũng được gần bằng một phần mười giải thưởng tặng cho hoa hậu đấy. Mà để làm hoa hậu thì cần quái gì phải có học. Bi kịch hay hài kịch đây? Dù sao cái giải thưởng đáng giá hai năm lương hưu của tôi cũng là món tiền thêm vào cho hai năm tôi ngồi viết những trang tiếc nuối cuộc đời mà các bạn đang cầm trong tay. Không có nó tôi đành ôm cả núi ân hận mà về với đất. Vì không có nó thì lấy gì ăn để mà viết? Cho nên tôi cũng thấy cần ghi lại ở đây “lời tri ân” đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi viết nên những dòng hồi ký này. Thế là, với sức tàn còn lại, tôi bắt đầu... Những hình ảnh đầu tiên đến với tôi rõ nét nhất chính là những thời gian, không gian, sự kiện và những con người đã mang lại cho tôi những cảm xúc, những niềm vui và nỗi buồn. Trong đầu tôi tràn ngập hồi ức đòi được thoát ra. Vì thế trong khi viết, tôi luôn phải cố gắng sao cho khỏi lạc “chủ đề tư tưởng” (cách nói méo mó trong ngôn từ văn nghệ cộng sản). Và trước hết, tôi phải đè bẹp được sự “hèn nhát” trong tôi là cái đã bén rễ sâu chặt do thời gian quá dài sống trong lồng kín, cách ly bầu trời tự do. Tôi sẽ viết để bạn bè, con cháu hiểu và thông cảm nỗi đau của những người cả cuộc đời phải sống và làm việc với cái đầu và trái tim của tên nô lệ. Tôi tình nguyện làm một trong những người vạch trần những bộ mặt chính trị dỏm, văn nghệ dỏm, những tên cơ hội, đã cản trở, giết chết tác phẩm, đẩy những tài năng vào hố sâu quên lãng. Đáng buồn là những chuyện được giấu kín đó, tôi đều được biết, thậm chí còn được tham dự các kế hoạch hại người (được gọi là kiểm điểm, học tập, thu hoạch... ) ngay từ khi chúng mới được phác hoạ, trong suốt quá trình tôi ở cương vị cấp uỷ, lãnh đạo chỉ đạo nghệ thuật. Để bảo vệ chỗ đứng của mình, tôi đã không dám cãi lại những lời chửi rủa bố tôi là đồ “phản động”, mẹ tôi là “Việt gian”, họ hàng nhà tôi là “tay sai đế quốc”! Vậy thì làm sao tôi dám bảo vệ cho một Đoàn Phú Tứ là không phản bội, một Phạm Duy là không phải “dinh tê” chỉ vì không chịu được gian khổ”? Tôi đã chọn con đường cúi đầu nín lặng mặc dù tôi biết rõ nguyên nhân vì sao ông cậu Đoàn Phú Tứ của tôi phải về Thành, biết rõ không ai không sợ chết mà lại dám một mình vác đàn, nhịn đói vượt U Bò, Ba Rền vào chiến trường Bình Trị Thiên ác liệt nhất để viết nên Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung như Phạm Duy. Tôi đã là thế đấy. Những âm mưu hạ tiện đó, tôi không phải không biết. Trái lại, tôi hiểu ra ngay từ lúc chúng mới được bàn bạc trong “nội bộ”. Lòng tôi chống lại thủ đoạn hại người, nhưng miệng tôi lại không dám nói ra. Nỗi bất bình bị dồn nén ám ảnh tôi suốt mấy chục năm trời. Dần dà, nó biến tôi thành một núi mâu thuẫn. Mặc dầu tôi tự nguyện dồn nén, miệng núi lửa kia thỉnh thoảng lại bục ra. Những phản ứng không kìm được xảy ra ngày một nhiều và được các công bộc mẫn cán của Đảng ghi lại bằng giấy trắng mực đen trong lý lịch đảng viên của tôi, kèm theo nhận xét “không có ý thức bảo vệ Đảng”, “hay phát ngôn vô trách nhiệm”. Tôi mang tội “không có ý thức bảo vệ Đảng” chẳng qua vì tôi không chịu bảo vệ Đảng và những đảng viên có chức có quyền làm những điều sai trái. Ngay cả với trưởng ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ ( ) quyền sinh quyền sát là thế mà tôi cũng có lần nói thẳng mặt: “Tại sao khi những người nhân danh Đảng làm bậy, chúng tôi phê phán họ thì lại bị ghép vào tội chống Đảng, chống chủ nghĩa cộng sản? Tại sao lẽ phải bao giờ cũng thuộc về họ, mặc dầu họ không có một xu kiến thức để đối thoại với chúng tôi?” Đó là một trong những “cú liều” đem lại cho tôi nhiều thiệt thòi, cay đắng. Với những “cú liều” này, bạn bè bảo: “Tô Hải là thằng “có bản lãnh”. Những người cùng nghĩ như tôi nhưng biết giữ mồm giữ miệng thì khoái lắm, vì đã có Tô Hải nói thay! Số còn chức còn quyền nhưng không đến nỗi tồi tệ quá thì cố tìm cách “hãm phanh” tôi lại để các “anh trên” đỡ vì đau đầu mà phạng lung tung. Còn tôi, ở cái tuổi ngoài 70, chẳng còn gì để mất, lại được sự cổ vũ của số lớn bạn bè, tôi cứ “nổ” khi có điều kiện. Cũng có người cho rằng tôi “dại” có cỡ, có kẻ nhắc là “cẩn thận kẻo vào tù!” Nhưng tôi đã quyết: 55 năm miệng bị lắp khoá kéo, nay đã già, đã về hưu, có chia xẻ với bạn đọc những hồi ức của đời mình thì cũng chẳng còn phải e ngại các lời ong tiếng ve rằng mình vì tư lợi, muốn kiếm chác cái gì. Còn về Đảng ư ? Tôi đã cóc cần nó từ khuya rồi và hết sức vinh dự được trở lại hàng ngũ nhân dân đang bị một nhóm người bắt sống cuộc sống trại lính, ăn gì, mặc gì, xem gì, đọc gì, thậm chí chết kiểu gì cũng đều do họ quy định và cho phép! Tôi đã nói và sẽ nói, nói tất, nói với bạn bè, với người thân, với con cháu, chắt, chút, chít những gì mà bộ não ông già 70 còn ghi nhớ được về cái thời tưởng mình là một cánh đại bàng bay bổng giữa trời. Nhưng, than ôi! Gần hết cuộc đời, tôi vẫn chỉ là “con đại bàng... cánh cụt”, chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông. Hi vọng rằng sau khi đọc hồi ký này người đọc sẽ thương cảm cho tôi, cho các bạn tôi, những người ngây thơ, tội nghiệp, cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức. Biết đâu chẳng có ngày đất nước này hoàn toàn “đổi mới” thật sự, hồi ký này sẽ được in ra để làm tài liệu lưu trữ về một thời cay đắng và tủi nhục nhất trong lịch sử Việt Nam. Và, may ra, lạy trời, những “đại bàng cánh cụt” chúng tôi sẽ được nhắc tới, như những chứng nhân lịch sử. Nhưng, “vừa là tội đồ vừa là tòng phạm” làm sao những con đại bàng cánh cụt kia có thể bay cao, bay xa? Thôi thì xin làm con sói của Alfred de Vigny, con bói cá của Musset tru lên tiếng rú cuối cùng, phanh ngực, xé lòng, hiến cho lịch sử một mẩu trái tim, một mẩu trí óc, một chút hơi tàn của thân xác. Với niềm tin vô bờ bến rằng ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã đến rất gần, dù có chậm hơn ở các nước bậc cha ông, anh cả, anh hai đến vài ba thập kỷ, niềm tin ấy vẫn cháy bỏng trong tôi thúc giục tôi vứt bỏ mọi sợ hãi, mọi hèn kém để ngồi vào computer. Tôi bắt đầu... ĐÔI ĐIỀU PHI LỘ VIẾT... SAU CÙNG Tập Hồi Ký này tôi viết xong từ năm 2000, nhưng do... hèn, tôi đã không dám cho nó ra mắt bạn đọc. Vâng, do... hèn, chứ chẳng phải do cái gì khác, tôi đã giấu nó đi, lại còn cẩn thận ghi thêm một dòng ở ngoài bìa “Để xuất bản vào năm 2010”. Như một lời di chúc dặn vợ con, khi tôi đã... chết! Tới năm 2003, mang bản thảo ra đọc lại, thấy ngòi bút của mình sao vẫn rụt rè, vẫn lấp lửng mới biết mình vẫn chưa hết sợ sức mạnh tàn bạo của nền “chuyên chính vô sản” mà mình từng nếm trải. Nhất là sợ rồi đây vợ con mình phải chịu đựng những đòn thù bẩn thỉu của bầy dã thú đội lốt người, nếu chẳng may những gì mình viết ra rơi vào tay chúng. Tôi thấy cần phải sửa lại cuốn sách — từ cách viết, từ cái nhìn chưa đủ tinh tường về những sự kiện lịch sử — và viết thêm về những con người cần được nhắc tới, mỗi người là một mảnh gương nhỏ, nhưng gộp lại người đọc có thể thấy hình ảnh một thời đại. Và tôi viết thêm chương TÔI ĐÃ HẾT HÈN! Nhưng đã đến chưa, cái thời cơ có thể đưa cuốn sách mà tôi ấp ủ bấy lâu ra trình diện người đọc? Vẫn chưa phải lúc chăng? Ngẫm ra, tuy viết là “Tôi đã hết hèn”, nhưng trong thực tế cái hèn vẫn còn đó, nó vẫn bám chằng chằng, như một bộ phận của cơ thể, cái sự mình khẳng định với mình rằng đã hết hèn mới chỉ là sự mạnh dạn với bản thân khi cầm bút mà thôi! Còn đấu tranh trực diện với cái sức mạnh tăm tối đang cai trị đất nước, kìm hãm sự phát triển của cả một dân tộc là chuyện khác, không phải là điều ai cũng dám làm! Đặc biệt, ba bốn năm gần đây tôi may mắn có điều kiện làm quen với Internet, nhờ đó được tiếp cận với rất nhiều người mà tôi vô cùng cảm phục. Dù đang sống ở trong nước, họ không hề sợ hãi trước đàn áp, ngục tù. Đó là những Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu. Bùi Minh Quốc. Đó là những Hoàng Tiến, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Thanh Giang, Vũ Cao Quận... Đó là những nhà sư, những linh mục thà chết không chịu đứng chung hàng với lũ tu sĩ “quốc doanh”, và nhiều, rất nhiều người khác nữa! Cũng không thể không nói đến ảnh hưởng của hàng chục website cổ võ dân chủ trên khắp thế giới, cũng như những gì bạn bè tôi, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên phải bỏ nước, bỏ cả vợ con ra đi để được viết lên Sự Thật, mở mắt cho bao người còn đang sống hèn như tôi. Không có những cái đó thì nhân dân còn tiếp tục bị lừa dối bởi lũ bồi bút cho đến nay vẫn ra rả ca tụng một chủ nghĩa đã lỗi thời với cả nhân loại. Tôi cũng mong sao mỗi người trong số các văn nghệ sĩ sắp giã từ cõi đời nhầy nhụa này hãy để lại một “bản di chúc” nói lên Sự Thật, dù chỉ là 1/1000 Sự Thật, để tạ tội với đồng bào, về những gì mình đã vì miếng cơm manh áo, vì yếu hèn mà phải cúi đầu làm thân trâu ngựa. Được như Ba Người Khác của Tô Hoài cũng đã là tốt, làm được thế thì người viết cũng có thể được nhân dân “xá tội” cho phần nào. Người đọc đang chờ xem “di cảo” của một Chế Lan Viên, một Nguyễn Đình Thi — hai nhân vật đứng đầu bầy nô lệ cầm bút. Đáng ngạc nhiên là theo Nguyễn Đình Chính (con trai Nguyễn Đình Thi) thì cuốn hồi ký của Nguyễn Đình Thi sẽ chỉ được phép công bố vào năm... 2014?! Sao lại lâu đến thế? Nguyễn Đình Chính vẫn còn sợ, còn tính toán thiệt hơn, còn bắt linh hồn người cha ở thế giới bên kia tiếp tục đóng kịch mãi sao? Hay chính tác giả cuốn hồi ký doạ sẽ in năm 2014 vẫn còn chưa tin là chủ nghĩa cộng sản đã đến ngày tuyệt diệt? Tôi sẽ phải đưa vào chương sẽ viết những nhận thức mới, tình cảm mới, những sự kiện bổ sung dưới ánh sáng mới, một chương gần như tóm tắt tất cả những gì tôi đã viết vào lúc chưa có được sự tiếp xúc và tiếp sức của phong trào đòi tự do, dân chủ, đòi quyền con người đang ào ào dâng lên mỗi giờ, mỗi ngày trong cái xã hội độc tài đảng trị đáng nguyền rủa. Viết xong chương bổ sung cần thiết, tôi sẽ công bố cuốn hồi ký của đời mình trên mạng Internet toàn cầu để mọi người nếu đã biết rồi sẽ biết thêm về mặt trái với những góc khuất của một xã hội tồi tệ được sơn son thếp vàng bởi một lũ bồi bút hèn hạ, trong đó, than ôi, có cả bàn tay của kẻ viết những dòng này. Tại sao lại phải công bố trên Internet? Bởi vì không thể trông chờ sự xuất hiện của một nhà xuất bản tư nhân nhờ “ơn trên” nào đó sẽ ra đời trong một cuộc đổi mới giả hiệu, và tập hồi ký này sẽ được in. Trong cái quái thai “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn độc tài với tự do tư tưởng, với nhân quyền tối thiểu, chuyện đó quyết không thể xảy ra. Thật tình, tôi những ước mong lời nhắn gửi của tôi sẽ đến tay đồng bào, bè bạn, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi, những thế hệ sau tôi, kể cả “kẻ thù” của tôi nữa, trong dạng một cuốn sách bằng giấy trắng mực đen hơn là một cuốn sách trên màn hình máy tính. Mạng thông tin toàn cầu cho tới nay vẫn còn là một cái gì xa lạ với tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam, kể cả nhiều người gọi là có học nhưng đã về già, không còn sức để đọc mấy trăm trang trên computer! Cuối cùng, xin người đọc, nhất là các bậc thức giả, hãy lượng thứ cho những thiếu sót, những nhầm lẫn ở chỗ này chỗ khác về tên tuổi, địa danh, ngày, tháng... mà một cây bút “trẻ” ở tuổi 80, tài vốn hèn, sức đã kiệt, có thể mắc phải.
Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 2007 TÔ HẢI
Publié le 18/04/2009 à 19:04
Par thanhuu
Ô Quan Chưởng - Tranh của Họa Sĩ Bùi Xuân Phái

  
Bấm vào tên người trình bày để nghe HƯỚNG VỀ HÀ NỘI
Hòa tấu: Thanh Trang (Covina, CA -USA) Tiếng hát: Tâm Hảo (Richmond, VA -USA)

 Hồ Hoàn Kiếm 
Bài hát “Hướng về Hà Nội” của Hoàng Dương Mấy hôm nay đang có người yêu cầu tôi gửi bài hát “Mắt buồn Hà Nội” của tôi để đăng vào số tới của báo Cỏ Thơm. Trong buổi trình diễn những ca khúc của tôi với Ngô Thụy Miên ở Washington D.C. vào đầu tháng 10 tới đây thì Hoàng Tiếp sẽ hát bài này và tôi cũng đã gửi bài đi rồi. Kể từ khi tôi yêu nhạc cho đến giờ này, chả có bao giờ viết nên một bài hát tôi tự đánh giá là “tạm nghe đuợc” mà tôi lại không nghĩ đến hàng hà sa số những bài hát cùng nội dung hay thể loại như thế của những bậc tiền bối, của lớp đàn anh của mình! Điều đó có cái lợi hiển nhiên đối với cá nhân tôi về mặt sáng tác là khi dự tính làm một cái gì thì bao giờ tôi cũng nhìn trước ngó sau, nếu nhắm là kết quả ở dạng “phác thảo” mà không đến nối “xoàng” so với những cái mà thế hệ đàn anh, đàn chú bác của mình người ta đã từng làm thì tôi mới làm tiếp, còn bằng không thì tôi nhanh nhẹn dẹp bỏ ngay từ trong “trứng nước”! Bởi thế mà mấy hôm nay khi loay hoay để gửi bài “Mắt buồn Hà Nội” qua bên miền Đông thì tôi không thể quên đuợc một kiệt tác nói về Hà Nội là bài “Hướng về Hà Nội” của Nhạc sĩ Hoàng Dương. Tôi nghe bài hát ấy lần đầu tiên năm 1954, trong thời kỳ thiên hạ ùn ùn từ Bắc “di cư” vào Nam! Năm ấy tôi mới có mười hai tuổi nhưng nghe người ta hát trên Đài Phát Thanh thì tôi đã biết thích nó rồi! Sau đấy, năm tôi mười bốn mười lăm, bắt đầu tập đánh đàn ghi-ta cho ra đầu ra đũa thì ở nhà tôi đã có hai bài hát của ông Hòang Dương là bài “Tiếc Thu” và bài “Hướng về Hà Nội”. Hình bìa của “Tiếc Thu”, ấn bản của “Tinh Hoa Miền Nam”, tôi còn nhớ là do Phi Hùng vẽ với sắc xanh chỗ đậm chỗ nhạt theo dạng in “ti –pô” chứ chưa đuợc theo “óp-sét” lối về sau! Hình vẽ có hàng lau thưa, có chiếc cầu với bóng một người đang qua cầu! (Chả là trong bài có câu “Theo bóng người đi bên cầu” !) Còn bài “Hướng về Hà Nội”, cũng do Tinh Hoa Miền Nam xuất bản thì lại do Duy Liêm vẽ, sắc nâu, chỗ đậm chỗ nhạt, với hình vẽ một thiếu nữ có chít khăn “mỏ quạ” ! Bên trong bài hát, phía trên cùng có câu: "Riêng tặng Hoàng Trọng, bạn thân yêu, gửi đây niềm thương nhớ một mùa chia phôi...". Thời đó, đọc cái câu đề tặng đó thì tôi cứ đinh ninh là ông Hòang Duơng có họ có hàng với ông Hoàng Trọng. Sau này có dịp hỏi thăm cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền thì ông bảo là không phải! Rằng Hoàng Dương họ Ngô, con của nhà văn “Trúc Khê” Ngô Văn Triện. Ông Hoàng Dương kém tuổi ông Hoàng Trọng và đôi bên là bạn văn nghệ. Bản nhạc “Nhạc sầu tương tư” nổi tiếng khi xưa của ông Hoàng Trọng là do ông Hoàng Dương làm lời. Ông Hoàng Dương sáng tác không nhiều! Đâu chỉ có bốn năm bài gì đấy là đuợc phổ biến, mà trong số đó thì hai bài nổi tiếng nhất là bài “Tiếc Thu” theo tiết điệu Tango và bài “Hướng về Hà Nội” theo tiết điệu “Slow”; cả hai đều có âm hưởng buồn buồn qua dạng “Mineur”! Tôi đọc một bài báo ở đâu đó có kể lại giai thoại về bài “Tiếc Thu”. Tác giả của nó kể rắng một ngày đi đâu đấy với vài người bạn ở ngoại vi của Hà Nội thì gặp cơn mưa lớn. Trong lúc trú mưa thì mấy anh em bèn cùng nhau nỉ non hát bài “Giọt mưa Thu” của Đặng Thế Phong! Hình ảnh ngày mưa cùng âm hưởng bài hát của Đặng Thế Phong đọng lại trong lòng tác giả suốt chín năm trời, rồi từ đó mới ra nên bài “Tiếc Thu”! Cảm xúc con người ta không mạnh mẽ và sâu lắng cỡ đó thì làm sao có đuợc giai điệu đẹp đẽ như nới bài “Tiếc Thu” ? Tôi đọc cái đọan tác giả bài hát tâm sự với người viết bài báo là Trần Hữu Ngư mà thấy vang vọng trong tôi một điều gì đấy rất gần gụi và quen thuộc đối với lòng mình! Thường thì có mấy nhà thơ hay “nhà nhạc” nào khi viềt xong một bài thơ hoặc một hát có giá trị mà có đủ bản lĩnh cùng sự tự tin để xác định rằng cái mình làm ra thì ở một góc độ nào đấy cũng là xuất phát từ một cái gì rất đẹp đẽ của người khác? Thói thường thì người ta sáng tác một cái gì xong và “cái gì” đó may ra có tí giá trị là y như rằng người ta tự coi như mình từ trên trời rơi xuống, chả có "rau mơ rễ má" gì với một ai khác, và cái vừa làm ra là do nơi cái “tài” đặc biệt của riêng mình chứ chả có dính líu gần xa gì đến một ai khác! Ông Hoàng Dương, như đã viết ở trên, sáng tác không nhiều, hoặc giả ông có sáng tác nhiều nhưng ít thấy phổ biến, hoặc có phổ biến mà cá nhân tôi không hay biết gì, nhưng việc gì phải làm ra cho nhiều mới đuợc cơ chứ? Hai ông Đoàn Chuẩn và Từ Linh có bao nhiêu bài? Đặng Thế Phong có mấy bài? Các ông Nguyễn Văn Khánh Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Thiện Tơ, Văn Cao có bao nhiêu bài? Tôi nhẩm tính tính là thời nay từ trong ra đến ngoài nước ta có không thể dưới ba trăm nghìn nhạc sĩ! Giả sử như mỗi nhạc sĩ làm sao cho có đuợc hai bài thuộc loại để đời cỡ như bài “Tiếc Thu” và “Hướng về Hà Nội” thì có phải là ta đã có không dưới sáu trăm nghìn bài hát nghe suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày một năm mà không hề ngao ngán chán chường?
Thanh Trang Nam Cali, cuối Hạ sang Thu 2008

 Văn Miếu Quốc Tử Giám Hoàng Dương - Nguyễn Đình Toàn Nhạc sĩ của chúng ta có rất nhiều họ Hoàng: Hoàng Dương, Hoàng Giác, Hoàng Trọng, Hoàng Nguyên.... Ba người trước gần như xuất hiện cùng một lượt, riêng Hoàng Nguyên muộn hơn một chút, nhưng cũng vẫn trong thập niên 45-55, thời kỳ rực rỡ của nền tân nhạc Việt Nam. Nhớ lại, trong một chương trình Đố Vui Để Học ở Sài Gòn trước 75, thầy Cao Thanh Tùng có hỏi các thí sinh một câu liên quan đến nhân vật lịch sử Cao Thắng, sau khi nghe trả lời, ông đã nói thêm: “Họ Cao vốn nhiều người có tài”. Như thế bên cạnh họ Cao chúng ta có thể kể thêm họ Hoàng nữa. Hoàng Dương, cho tới hiện nay chỉ có hai ca khúc được phổ biến đó là các bài Tiếc Thu và Hướng Về Hà Nội, nếu không kể đến mấy bài của Hoàng Trọng do ông viết lời ca như Nhạc Sầu Tương Tư, Vui Cảnh Mùa Hè.... Tuy cả hai bài Tiếc Thu, Hướng Về Hà Nội và mấy ca khúc của Hoàng Trọng do ông viết lời đều là những bài hát hay cả, nhưng tên tuổi Hoàng Dương vẫn được nhớ tới nhiều nhất với Hướng Về Hà Nội. Dĩ nhiên, một tác phẩm tồn tại được, trước hết, chính là do giá trị nghệ thuật của nó. Thế nhưng hoàn cảnh lịch sử cũng đóng một vai trò quan trọng đối với bài hát của Hoàng Dương. Đó là những ngày tháng Hà Nội sắp mất. Người ta đang sửa soạn ký với nhau một hiệp định chia đôi Việt Nam ở một nơi nào đó gọi là Genève. Hà Nội trong những ngày tháng ấy giống như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Xanh xao. Vàng vọt. Người ta bỏ đi. Người ta chạy trốn. Người “bên ngoài” (hậu phương) đã về trộn với người “bên trong” (Hà Nội). Người ta hân hoan. Người ta giấu giếm. Người ta sợ hãi. Úp úp. Mở mở. Hà Nội bị xé đôi bằng ngay nỗi vui mừng và kinh hoàng thấm nhập cùng một lúc vào lòng người Hà Nội trước khi nó thuộc về cái phần đất nước bị cắt đôi. Hà Nội đẹp. Hà Nội buồn. Hà Nội lãng mạn hay thực tế cũng sẽ mất như những đám sương mù tháng bẩy đang xóa bỏ nó. Người ta phải nói lời giã từ Hà Nội. Gọi hồn Hà Nội Hoàng Dương đã chọn ở lại Hà Nội. Bài hát của ông có cả cái xa và cái gần Hà Nội, có cái ngọt ngào của một bản tình ca, cái não nùng của một cuộc chia lìa. Cho người ở lại dấu nó trong lòng. Cho người ra đi hát như một lời gọi vói. Bài Hướng Về Hà Nội đã được rất nhiều ca sĩ trình bầy. Nhưng người hát và người nghe có thể có những tâm trạng khác nhau. Những người hát từng sống ở Hà Nội vào đúng cái thời bài hát được viết ra hẳn khác với những người hát chỉ biết Hà Nội trong tưởng tượng hay nhìn thấy Hà Nội thật bây giờ. Người nghe cũng vậy. Đối với những thính giả Hà Nội cũ thì người hát Hướng Về Hà Nội ra được nhiều chất Hà Nội khi ấy nhất là Duy Trác. Nghe Lê Dung, một trong những ca sĩ tài hoa của Hà Nội, được đào tạo tại Hà Nội, trình bầy bài hát này, người ta thấy một Hà Nội khác, không phải cái Hà Nội trong bài hát của Hoàng Dương. Khác chứ không phải hay, dở. Bởi vì nó tạo ra một vẻ đẹp khác. Mới có chừng vài chục năm qua, nhưng hầu hết các băng, đĩa thâu thanh bài Hướng Về Hà Nội lời ca đều sai. Bài thâu thanh của Lê Dung ở ngay Hà Nội, nơi Hoàng Dương hiện còn đang sống, lại càng sai. Chỉ nói tới những cái sai có làm thay đổi hẳn ý nghĩa của câu hát, chẳng hạn như câu “Thanh bình tiếng ‘guốc’ reo vui” thường lại được đổi thành “Thanh bình tiếng ‘hát’ reo vui” Có những tiếng động làm nên một phần của thành phố. Và trong trường hợp bài hát của Hoàng Dương không thể đổi “tiếng guốc” thành “tiếng hát” được. Sau đây là lời của bài hát, do Duy Trác hát, dựa theo ấn bản lần đầu: “Hướng Về Hà Nội” Hà Nội ơi ! Hướng về thành phố xa xôi Ánh đèn giăng mắc muôn nơi Áo màu tung gió chơi vơi Hà Nội ơi ! Phố phường giãi ánh trăng mơ Liễu mềm nhủ gió ngây thơ Thấu chăng lòng khách bơ vơ Hà Nội ơi! Những ngày vui đã ra đi Biết người còn nhớ nhung chi Hết rồi giây phút phân ly Hà Nội ơi! Dáng huyền tha thướt đê mê, Tóc thề thả gió lê thê Biết đâu ngày ấy anh về Một ngày mùa chinh chiến ấy Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay Một ngày tả tơi hoa lá, Ngóng trông về xa Luyến thương hình bóng qua Hà Nội ơi! Nước hồ là ánh gương soi, Nắng hè tô thắm lên môi Thanh bình tiếng guốc reo vui Hà Nội ơi! Kiếp đời muôn hướng buông trôi Nhớ về người những đêm rơi Nhắn theo ngàn cánh chim trời II Hà Nội ơi! Hướng về thành phố xa xưa, Mắt buồn dâng những đêm mưa, Não nùng mây gió đong đưa Hà Nội ơi! Nỗi lòng gởi gấm cho nhau, Nhớ hoài chỉ biết thương đau, Đắm say chờ những kiếp sau. Hà Nội ơi! những ngày thơ ấu trôi qua, Mái trường phượng vĩ dâng hoa Dáng chiều ủ bóng tiên nga. Hà Nội ơi! Mắt huyền ngây ngất đê mê, Tóc thề thả gió lê thê, Cứ tin ngày ấy anh về Một ngày tàn hương chinh chiến, Lửa khói lắng chìm Tìm về nơi bờ bến Một ngày hồng tươi hoa lá Hát câu tình ca Nói lên lời thiết tha Hà Nội ơi! Biết người còn có trông mong, Hướng về ai nữa hay không Những ngày xa vắng bên sông. Hà Nội ơi! Những chiều sương gió dâng khơi Có người lặng ngắm mây trôi, Biết bao là nhớ tơi bời ... Hà Nội hiện nay đã thay đổi, đã không còn chút gì giống với cái Hà Nội trong nhạc Hoàng Dương nữa. Có gì bền vững với thời gian? Một tiếng guốc khua thì có nghĩa gì nhỉ? Vậy tại sao người ta vẫn cứ buồn khi nghe lại ca khúc ấy? Nguyễn Đình Toàn 
Phố Cổ Hà Nội 
Tài liệu tham khảo:
Publié le 18/04/2009 à 15:40
Par thanhuu
|  Ô Quan Chưởng - Tranh của Họa Sĩ Bùi Xuân Phái 
  
Bấm vào tên người trình bày để nghe HƯỚNG VỀ HÀ NỘI
Hòa tấu: Thanh Trang (Covina, CA -USA) Tiếng hát: Tâm Hảo (Richmond, VA -USA)

 Hồ Hoàn Kiếm 
Bài hát “Hướng về Hà Nội” của Hoàng Dương
Mấy hôm nay đang có người yêu cầu tôi gửi bài hát “Mắt buồn Hà Nội” của tôi để đăng vào số tới của báo Cỏ Thơm. Trong buổi trình diễn những ca khúc của tôi với Ngô Thụy Miên ở Washington D.C. vào đầu tháng 10 tới đây thì Hoàng Tiếp sẽ hát bài này và tôi cũng đã gửi bài đi rồi.
Kể từ khi tôi yêu nhạc cho đến giờ này, chả có bao giờ viết nên một bài hát tôi tự đánh giá là “tạm nghe đuợc” mà tôi lại không nghĩ đến hàng hà sa số những bài hát cùng nội dung hay thể loại như thế của những bậc tiền bối, của lớp đàn anh của mình! Điều đó có cái lợi hiển nhiên đối với cá nhân tôi về mặt sáng tác là khi dự tính làm một cái gì thì bao giờ tôi cũng nhìn trước ngó sau, nếu nhắm là kết quả ở dạng “phác thảo” mà không đến nối “xoàng” so với những cái mà thế hệ đàn anh, đàn chú bác của mình người ta đã từng làm thì tôi mới làm tiếp, còn bằng không thì tôi nhanh nhẹn dẹp bỏ ngay từ trong “trứng nước”! Bởi thế mà mấy hôm nay khi loay hoay để gửi bài “Mắt buồn Hà Nội” qua bên miền Đông thì tôi không thể quên đuợc một kiệt tác nói về Hà Nội là bài “Hướng về Hà Nội” của Nhạc sĩ Hoàng Dương. Tôi nghe bài hát ấy lần đầu tiên năm 1954, trong thời kỳ thiên hạ ùn ùn từ Bắc “di cư” vào Nam! Năm ấy tôi mới có mười hai tuổi nhưng nghe người ta hát trên Đài Phát Thanh thì tôi đã biết thích nó rồi! Sau đấy, năm tôi mười bốn mười lăm, bắt đầu tập đánh đàn ghi-ta cho ra đầu ra đũa thì ở nhà tôi đã có hai bài hát của ông Hòang Dương là bài “Tiếc Thu” và bài “Hướng về Hà Nội”. Hình bìa của “Tiếc Thu”, ấn bản của “Tinh Hoa Miền Nam”, tôi còn nhớ là do Phi Hùng vẽ với sắc xanh chỗ đậm chỗ nhạt theo dạng in “ti –pô” chứ chưa đuợc theo “óp-sét” lối về sau! Hình vẽ có hàng lau thưa, có chiếc cầu với bóng một người đang qua cầu! (Chả là trong bài có câu “Theo bóng người đi bên cầu” !) Còn bài “Hướng về Hà Nội”, cũng do Tinh Hoa Miền Nam xuất bản thì lại do Duy Liêm vẽ, sắc nâu, chỗ đậm chỗ nhạt, với hình vẽ một thiếu nữ có chít khăn “mỏ quạ” ! Bên trong bài hát, phía trên cùng có câu: "Riêng tặng Hoàng Trọng, bạn thân yêu, gửi đây niềm thương nhớ một mùa chia phôi...". Thời đó, đọc cái câu đề tặng đó thì tôi cứ đinh ninh là ông Hòang Duơng có họ có hàng với ông Hoàng Trọng. Sau này có dịp hỏi thăm cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền thì ông bảo là không phải! Rằng Hoàng Dương họ Ngô, con của nhà văn “Trúc Khê” Ngô Văn Triện. Ông Hoàng Dương kém tuổi ông Hoàng Trọng và đôi bên là bạn văn nghệ. Bản nhạc “Nhạc sầu tương tư” nổi tiếng khi xưa của ông Hoàng Trọng là do ông Hoàng Dương làm lời. Ông Hoàng Dương sáng tác không nhiều! Đâu chỉ có bốn năm bài gì đấy là đuợc phổ biến, mà trong số đó thì hai bài nổi tiếng nhất là bài “Tiếc Thu” theo tiết điệu Tango và bài “Hướng về Hà Nội” theo tiết điệu “Slow”; cả hai đều có âm hưởng buồn buồn qua dạng “Mineur”! Tôi đọc một bài báo ở đâu đó có kể lại giai thoại về bài “Tiếc Thu”. Tác giả của nó kể rắng một ngày đi đâu đấy với vài người bạn ở ngoại vi của Hà Nội thì gặp cơn mưa lớn. Trong lúc trú mưa thì mấy anh em bèn cùng nhau nỉ non hát bài “Giọt mưa Thu” của Đặng Thế Phong! Hình ảnh ngày mưa cùng âm hưởng bài hát của Đặng Thế Phong đọng lại trong lòng tác giả suốt chín năm trời, rồi từ đó mới ra nên bài “Tiếc Thu”! Cảm xúc con người ta không mạnh mẽ và sâu lắng cỡ đó thì làm sao có đuợc giai điệu đẹp đẽ như nới bài “Tiếc Thu” ? Tôi đọc cái đọan tác giả bài hát tâm sự với người viết bài báo là Trần Hữu Ngư mà thấy vang vọng trong tôi một điều gì đấy rất gần gụi và quen thuộc đối với lòng mình! Thường thì có mấy nhà thơ hay “nhà nhạc” nào khi viềt xong một bài thơ hoặc một hát có giá trị mà có đủ bản lĩnh cùng sự tự tin để xác định rằng cái mình làm ra thì ở một góc độ nào đấy cũng là xuất phát từ một cái gì rất đẹp đẽ của người khác? Thói thường thì người ta sáng tác một cái gì xong và “cái gì” đó may ra có tí giá trị là y như rằng người ta tự coi như mình từ trên trời rơi xuống, chả có "rau mơ rễ má" gì với một ai khác, và cái vừa làm ra là do nơi cái “tài” đặc biệt của riêng mình chứ chả có dính líu gần xa gì đến một ai khác! Ông Hoàng Dương, như đã viết ở trên, sáng tác không nhiều, hoặc giả ông có sáng tác nhiều nhưng ít thấy phổ biến, hoặc có phổ biến mà cá nhân tôi không hay biết gì, nhưng việc gì phải làm ra cho nhiều mới đuợc cơ chứ? Hai ông Đoàn Chuẩn và Từ Linh có bao nhiêu bài? Đặng Thế Phong có mấy bài? Các ông Nguyễn Văn Khánh Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Thiện Tơ, Văn Cao có bao nhiêu bài? Tôi nhẩm tính tính là thời nay từ trong ra đến ngoài nước ta có không thể dưới ba trăm nghìn nhạc sĩ! Giả sử như mỗi nhạc sĩ làm sao cho có đuợc hai bài thuộc loại để đời cỡ như bài “Tiếc Thu” và “Hướng về Hà Nội” thì có phải là ta đã có không dưới sáu trăm nghìn bài hát nghe suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày một năm mà không hề ngao ngán chán chường? Thanh Trang Nam Cali, cuối Hạ sang Thu 2008

 Văn Miếu Quốc Tử Giám
Hoàng Dương - Nguyễn Đình Toàn Nhạc sĩ của chúng ta có rất nhiều họ Hoàng: Hoàng Dương, Hoàng Giác, Hoàng Trọng, Hoàng Nguyên.... Ba người trước gần như xuất hiện cùng một lượt, riêng Hoàng Nguyên muộn hơn một chút, nhưng cũng vẫn trong thập niên 45-55, thời kỳ rực rỡ của nền tân nhạc Việt Nam. Nhớ lại, trong một chương trình Đố Vui Để Học ở Sài Gòn trước 75, thầy Cao Thanh Tùng có hỏi các thí sinh một câu liên quan đến nhân vật lịch sử Cao Thắng, sau khi nghe trả lời, ông đã nói thêm: “Họ Cao vốn nhiều người có tài”. Như thế bên cạnh họ Cao chúng ta có thể kể thêm họ Hoàng nữa. Hoàng Dương, cho tới hiện nay chỉ có hai ca khúc được phổ biến đó là các bài Tiếc Thu và Hướng Về Hà Nội, nếu không kể đến mấy bài của Hoàng Trọng do ông viết lời ca như Nhạc Sầu Tương Tư, Vui Cảnh Mùa Hè.... Tuy cả hai bài Tiếc Thu, Hướng Về Hà Nội và mấy ca khúc của Hoàng Trọng do ông viết lời đều là những bài hát hay cả, nhưng tên tuổi Hoàng Dương vẫn được nhớ tới nhiều nhất với Hướng Về Hà Nội. Dĩ nhiên, một tác phẩm tồn tại được, trước hết, chính là do giá trị nghệ thuật của nó. Thế nhưng hoàn cảnh lịch sử cũng đóng một vai trò quan trọng đối với bài hát của Hoàng Dương. Đó là những ngày tháng Hà Nội sắp mất. Người ta đang sửa soạn ký với nhau một hiệp định chia đôi Việt Nam ở một nơi nào đó gọi là Genève. Hà Nội trong những ngày tháng ấy giống như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Xanh xao. Vàng vọt. Người ta bỏ đi. Người ta chạy trốn. Người “bên ngoài” (hậu phương) đã về trộn với người “bên trong” (Hà Nội). Người ta hân hoan. Người ta giấu giếm. Người ta sợ hãi. Úp úp. Mở mở. Hà Nội bị xé đôi bằng ngay nỗi vui mừng và kinh hoàng thấm nhập cùng một lúc vào lòng người Hà Nội trước khi nó thuộc về cái phần đất nước bị cắt đôi. Hà Nội đẹp. Hà Nội buồn. Hà Nội lãng mạn hay thực tế cũng sẽ mất như những đám sương mù tháng bẩy đang xóa bỏ nó. Người ta phải nói lời giã từ Hà Nội. Gọi hồn Hà Nội Hoàng Dương đã chọn ở lại Hà Nội. Bài hát của ông có cả cái xa và cái gần Hà Nội, có cái ngọt ngào của một bản tình ca, cái não nùng của một cuộc chia lìa. Cho người ở lại dấu nó trong lòng. Cho người ra đi hát như một lời gọi vói. Bài Hướng Về Hà Nội đã được rất nhiều ca sĩ trình bầy. Nhưng người hát và người nghe có thể có những tâm trạng khác nhau. Những người hát từng sống ở Hà Nội vào đúng cái thời bài hát được viết ra hẳn khác với những người hát chỉ biết Hà Nội trong tưởng tượng hay nhìn thấy Hà Nội thật bây giờ. Người nghe cũng vậy. Đối với những thính giả Hà Nội cũ thì người hát Hướng Về Hà Nội ra được nhiều chất Hà Nội khi ấy nhất là Duy Trác. Nghe Lê Dung, một trong những ca sĩ tài hoa của Hà Nội, được đào tạo tại Hà Nội, trình bầy bài hát này, người ta thấy một Hà Nội khác, không phải cái Hà Nội trong bài hát của Hoàng Dương. Khác chứ không phải hay, dở. Bởi vì nó tạo ra một vẻ đẹp khác. Mới có chừng vài chục năm qua, nhưng hầu hết các băng, đĩa thâu thanh bài Hướng Về Hà Nội lời ca đều sai. Bài thâu thanh của Lê Dung ở ngay Hà Nội, nơi Hoàng Dương hiện còn đang sống, lại càng sai. Chỉ nói tới những cái sai có làm thay đổi hẳn ý nghĩa của câu hát, chẳng hạn như câu “Thanh bình tiếng ‘guốc’ reo vui” thường lại được đổi thành “Thanh bình tiếng ‘hát’ reo vui” Có những tiếng động làm nên một phần của thành phố. Và trong trường hợp bài hát của Hoàng Dương không thể đổi “tiếng guốc” thành “tiếng hát” được. Sau đây là lời của bài hát, do Duy Trác hát, dựa theo ấn bản lần đầu: “Hướng Về Hà Nội”
Hà Nội ơi ! Hướng về thành phố xa xôi Ánh đèn giăng mắc muôn nơi Áo màu tung gió chơi vơi Hà Nội ơi ! Phố phường giãi ánh trăng mơ Liễu mềm nhủ gió ngây thơ Thấu chăng lòng khách bơ vơ Hà Nội ơi! Những ngày vui đã ra đi Biết người còn nhớ nhung chi Hết rồi giây phút phân ly Hà Nội ơi! Dáng huyền tha thướt đê mê, Tóc thề thả gió lê thê Biết đâu ngày ấy anh về Một ngày mùa chinh chiến ấy Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay Một ngày tả tơi hoa lá, Ngóng trông về xa Luyến thương hình bóng qua Hà Nội ơi! Nước hồ là ánh gương soi, Nắng hè tô thắm lên môi Thanh bình tiếng guốc reo vui Hà Nội ơi! Kiếp đời muôn hướng buông trôi Nhớ về người những đêm rơi Nhắn theo ngàn cánh chim trời II Hà Nội ơi! Hướng về thành phố xa xưa, Mắt buồn dâng những đêm mưa, Não nùng mây gió đong đưa Hà Nội ơi! Nỗi lòng gởi gấm cho nhau, Nhớ hoài chỉ biết thương đau, Đắm say chờ những kiếp sau. Hà Nội ơi! những ngày thơ ấu trôi qua, Mái trường phượng vĩ dâng hoa Dáng chiều ủ bóng tiên nga. Hà Nội ơi! Mắt huyền ngây ngất đê mê, Tóc thề thả gió lê thê, Cứ tin ngày ấy anh về Một ngày tàn hương chinh chiến, Lửa khói lắng chìm Tìm về nơi bờ bến Một ngày hồng tươi hoa lá Hát câu tình ca Nói lên lời thiết tha Hà Nội ơi! Biết người còn có trông mong, Hướng về ai nữa hay không Những ngày xa vắng bên sông. Hà Nội ơi! Những chiều sương gió dâng khơi Có người lặng ngắm mây trôi, Biết bao là nhớ tơi bời ...
Hà Nội hiện nay đã thay đổi, đã không còn chút gì giống với cái Hà Nội trong nhạc Hoàng Dương nữa. Có gì bền vững với thời gian? Một tiếng guốc khua thì có nghĩa gì nhỉ? Vậy tại sao người ta vẫn cứ buồn khi nghe lại ca khúc ấy?
Nguyễn Đình Toàn

 Phố Cổ Hà Nội 
Tài liệu tham khảo:
Website http://khanhly.net/phoxua/ CAO THOM

|
|
Publié le 16/04/2009 à 22:49
Par thanhuu

ĐỒI THÔNG Mây tím giăng ngang đồi sương lạnh Chiều buông trong nhớ thoảng mơ hồ Ai đi xa vắng ngoài cô quạnh Bước nhẹ , xin đừng vỡ giấc mơ Ngàn thông vi vút lưng đồi gió Êm vắng thu vàng ngập lá rơi Chớm lạnh heo may khơi nỗi nhớ Tình xưa phong kín chẳng nên lời Gió vẫn tìm hương mơn tóc rối Nắng hờ soi nhạt lối mòn xưa Bạc lòng năm tháng còn mong đợi Chợt đếm chơi vơi mấy tuổi thừa Thu đã về đây người phương nao Tình thu vàng võ mấy trăng sao Núi biếc sương lam hồn vắng lạnh Mưa khóc tình Ngâu lệ dạt dào . UYÊN LÂM Boston - USA


ĐIỀU KHÔNG THỂ KHÁC Thời gian trôi đi Tuổi hoa niên vụt mất Xa rồi khung trời cũ Sân trường hoa phượng tiếng ve vang Năm tháng cứ dần trôi Em không còn trẻ nữa Đôi mắt bàn tay mái tóc khác xưa rồi Tóc mây xưa óng chuốt mượt mà Nay vương trắng màu tháng năm phai nhạt Duy có một điều không thể khác Là tình yêu em riêng dành cho anh Từ ngày thơ ấu Vẫn toả sáng rạng ngời như tinh đẩu Tuổi hoa niên và mãi đến bao giờ Dẫu đôi lần anh đã thờ ơ Anh vô ý hay dại khờ quay mặt Em vẫn yêu anh Như cây xanh không xa lìa mặt đất Như mạch suối nguồn tuông chảy mãi Giữa đá núi rừng xanh Như sóng nhấp nhô , bàng bạc biển lành Như ánh trăng ngàn năm Soi mặt hồ nhật nguyệt Em vẫn yêu anh , tình yêu diễm tuyệt Điều đó không bao giờ đổi khác Như suốt cuộc đời này Em vẫn mãi yêu anh UYÊN - LÂM BOSTON 
 |