Viết về thi ca rất rộng, như mây nước mênh mông và thơ mộng, thi nhân Tôn Thất Phú Sĩ là niên trưởng của tôi, vang bóng một thời của trường Phan Châu Trinh Đà nẵng. Anh học giỏi làm thơ hay và nghịch cũng nỗi tiếng. Anh và tôi cách xa nhau nhiều niên học, nhưng gần nhau trong cảm nhận tình thơ. Nhận thơ anh rất nhiều, nhưng chưa có dịp viết về những nét đặc thù trong thơ anh. Tôi thích đọc thơ nhưng không làm thơ, đó là yếu điểm của chính mình không chia sẻ hết nỗi lòng của thi nhân. Tôn Thất Phú Sĩ đã sáng tác hơn 100 bài thơ với nhiều thể loại khác nhau, ca tụng tình yêu của mẹ hiền, tình yêu Quê Hương, tuổi học trò.
Lúc anh chào đời thân phụ anh công tác ở Nhật, điện về cho mẹ anh lấy tên núi Fuji –San đặt tên anh là Phú Sĩ. Quê nội anh ở làng Chuồng Huế, ông nội từng là quan Đại thần, quê mẹ Quảng Nam nên đời anh nối liền với hai giòng sông Hương và sông Hàn Đà Nẵng.
Tôn Thất Phú Sĩ giã từ Đại học Y Khoa Huế (1961-1964), gia nhập khoá 15/SQ/Hải Quân, chọn biển cả sống mộng „hải hồ“ với mây, nước, sóng biển xa khơi. Anh phục vụ trong ngành HQVNCH từ (1964-1975). Thơ anh không ướt lệ nhưng lãng mạn, nhẹ nhàng hấp dẫn, đọc thơ anh để hoà mình vào cõi thơ, khung trời nắng ấm, nhìn em đi trong chiếc áo dài trắng thư sinh, tha thướt trên đường đầy phượng đỏ lá xanh, tiếng ve sầu với muôn ngàn cánh bướm tung bay trong gió mát đợi chờ. biển Thanh Bình, Mỹ Khê, Tiên Sa là những kỷ niệm vơi đầy của những chàng Hải Quân trẻ ghé bến, để rồi sóng tình làm ngơ ngẫn giấc mơ !
Thế hệ anh đã gia nhập cuộc chiến, phải chiến đấu để bảo vệ lý tưởng tự do, bom đạn tàn phá quê hương, tràn ngập sắt máu tình huynh đệ tương tàn, hận thù giai cấp và cuối cùng là trại tù mở cửa, những năm dài khổ đau tuyệt vọng. Những sĩ quan Hải quân trẻ như cá mắc cạn, những ngày thơ mộng nắng chiều biển lặng không bao giờ còn nữa. Tất cả bị tập trung đưa lên núi rừng sống kiếp tù đày, đời mất hết niềm tin, chỉ còn lại tình yêu của mẹ, suối lệ ngàn khơi :
Từ thuở ngỡ ngàng đi chập chững
Mẹ làm điểm tựa bước chân son
Vừa đi vừa ngả trong tình mẹ
Lớn thật nhanh cây mạnh xanh chồi
Buổi chiều nắng ngủ trên cành phượng
Tan học chờ con trước cổng trường
Bóng mẹ chập chờn bên cửa lớp
Rộn ràng quen thuộc dáng thân thương
Con lớn khôn theo mùa chinh chiến
Non sông giục giã đó mẹ ơi
Mẹ đâu còn biết ngày vui nữa
Lòng mẹ buồn, suối lệ ngàn khơi
Tình mẹ gắn liền với tổ quốc quê hương, viết về mẹ là trở về với quá khứ những ngày ấu thơ, sống trong vòng tay mẹ hiền. Tình mẹ bao la như biển, mẹ chia sẻ từng nỗi vui buồn cuộc sống bằng nước mắt mồ hôi, khổ lụy nhọc nhằn, lo cho con những ngày tươi mát và ấm êm cuộc đời. Nói chung những người mẹ Việt Nam muôn đời tận tụy vì con, vì chồng, vì nước..
Mẹ sinh con nằm bên bờ biển mặn
Mẹ ru con trong chiếc võng đù đưa
Lời mẹ ru thiết tha như biển gọi
Võng tròng trành như con tàu đong đưa
Con xa mẹ từ tuổi học trò ra biển
Ngày xuống tàu mẹ chẳng nói năng chi
Mùi nước biển mặn như mùi nước mắt
Mẹ tiễn con lòng biển gọi thầm thì
Con dã tràng xe từng viên cát nhỏ
Giương cái càng che khuất nửa vầng trăng
Ánh trăng vàng rơi tràn trên biển vắng
Ngọt như dòng sữa mẹ đã nuôi con
Đêm về trên biển, dưới ánh trăng vàng soi bóng đã làm anh nhớ mẹ hiền tần tảo nuôi con, qua ruộng đồng đồi núi thênh thang, tri ân mẹ đó là nỗi lòng con cháu Việt Nam không đánh mất cội nguồn như Lão Tử viết trong Đạo Đức Kinh „hữu danh vạn vật chi mẫu“ . Hầu như văn, thi sĩ trong sáng tác nào cũng nói về mẹ, mỗi người có cảm xúc riêng khi viết về mẹ trong muôn ngàn kỷ niệm :
Me dìu bay lang thang
Bay qua đồi qua suối
Bay qua ruộng qua nương
Uống một vài giọt sương
Mênh mang tình yêu mẹ
Cắn một vài hạt lúa
Mặn mà tình yêu cha
Man mác tình quê hương
Bơi trong dòng hạnh phúc
Vui một trời bình yên
Đời thi nhân gắn bó với hai giòng sông, đã cho anh nhiều cảm quan, rung động như nước chảy mây bay, nhịp điệu thơ trữ tình diệu vợi.. để rồi anh ngậm ngùi xao xuyến với đôỉ thay của thời gian :
Huế ơi Huế ! Dòng Hương từ vạn cổ
Ai đặt tên mang nguyên vẹn hình hài
Từ thuở nào em là nguồn cãm hứng
Là nàng thơ là muôn vạn lời ca
Cửa biển Thuận An , Châu về hợp phố
Mặn ngọt ngậm ngùi con nước đổi thay
Đại dương mênh mông lòng thuyền e ngại
Bởi đời thuyền mãi mãi một dòng sông
Mái đẩy câu hò từ thượng nguồn vọng lại
Mà hạ nguồn nghe xao xuyến trong lòng
Tuổi thơ ta lỡ một lần ngu dại
Bỏ Huế rồi ta bỏ cả dòng sông
Nước sông trôi về biển theo bốn mùa đổi thay, như Tản Đà đã viết „nước đi ra biển lại mưa về nguồn„ . Đời TTPS cũng như những dòng nước biển, anh đã đến với biển trong màu xanh và tuổi mộng :
Biển ơi ! cho ta màu áo
Trắng như lòng mới vào đời
Đêm về lang thang bãi cát
Mà hồn bay bổng ngoài khơi
Một chòm sao rơi trên tóc
Một mảnh trăng soi giữa dòng
Chừ ta là con ốc nhỏ
Mượn hồn sóng vỗ đại dương
Biển ơi ! sao ta cứ gọi
Tàu đi biền biệt không về
Ta với tàu chỉ là bọt biển
Tàn mộng rồi sau kiếp đam mê
Biển ơi ! cho ta giòng máu
Giang hồ từ thuở me sinh
Ta đi biển xanh màu nước
Ta về biển trắng bạc tình
Trùng dương cho ta gởi lại
Người tình yêu dấu ta thương
Con tàu ngày đêm xuôi ngược
Mình ta côi cút dặm đường
Tuổi đời, tình yêu là những mộng ước đợi chờ, rung động của con tim .
Hàng phượng trường em đã trổ bông
Vấn vương anh nhặt cánh phượng hồng
Mùa hạ đi qua rồi trở lại
Phượng hồng vẫn đỏ thắm trong anh
Thơ TTPS tượng trưng cho tình non nước, cho ruộng đồng bao la bát ngát , cho thành phố Đà Nẵng thân yêu, dưới đêm trăng vàng nhẹ nhàng soi bóng, buổi trưa hè nắng gắt đổ trên mái tóc thề của em trong gió lộng. Đường Lê Lợi ngập đầy hoa phượng đỏ, đường Thống Nhất với những hàng cây kiềng kiềng rợp bóng . TTPS đã trở về Đà Nẵng với những vần thơ trọn vẹn, là suối nguồn hạnh phúc, tình yêu giữa dòng đời và biển cả
Anh về Đà Nẵng tìm em
Con đường Lê Lợi êm đềm ngày xưa
Giờ còn một chút nắng trưa
Hằn in kỷ niệm ngày xưa chúng mình
Mây bay về núi Sơn Chà
Tiếng chim tu hú Tiên- Sha vọng về
Nhớ em ngày đó tóc thề
Yêu thêm Đà Nẵng lòng nghe nặng buồn
Tôi đem nỗi nhớ cất trong vườn
Rực rỡ mùa hè hoa ngát hương
Thế mà bỗng chốc bầu không khí
Một nửa phai tàn nửa héo hon
*
Phượng rơi trên lối đi về
Ve sầu rền rĩ nắng hè vừa lên
Chia tay sách vở ưu phiền
Một chân trời rộng vào miền viễn khơi
Tay ta nắm chặt tay người
Cổng trường khép kín ngàn khơi gọi mời
Hè ơi ! thương nhớ bồi hồi
Trái tim ở giữa khung trời thênh thang
Nghe sao rạo rực lên đàng
Dòng xanh lưu bút lấp tràn tương tư
Với tâm hồn mang nặng tình quê của TTPS bàng bạc trên hoa đồng cỏ nội, từ miền Trung nắng cháy, cho đến Mỹ Tho miền Nam trù phú phì nhiêu, những đàn cò trắng bay trong ráng chiều, tiếng sáo diều vi vu bên lũy tre xanh, những câu hò tiếng hát ru con, nụ cười hồn nhiên của cô thôn nữ, trên con đò đưa khách sang sông. Tất cả hình ảnh đẹp của quê hương chỉ còn lại trong lòng người viễn xứ. TTPS là nạn nhân của biến cố lịch sử, sau 30.4 1975 phải học tập cải tạo, được về anh đã đưa gia đình ra khơi vượt đại dương tìm lẽ sống, chiếc ghe nhỏ cập bến Hongkong và đã chọn Paris từ năm 1981 làm quê hương thứ hai. Bên giòng sông Seine luôn gợi cho TTPS tưởng nhớ những giòng sông quê mẹ:
Em sinh ra ven bờ sông Vàm cỏ
Hàng dừa buông lơi suối tóc thơm lành
Hương lúa nồng nàng môi người thiếu nữ
Tiếng sáo diều cao vút luỹ tre xanh
Mỹ Tho ... Mỹ Tho ... quê hương em đó
Có tình anh thương em theo sóng vỗ
Con đò ngang đưa lữ khách sang sông
Mưa nắng hai mùa tha thiết yêu em
Rồi một ngày chiến chinh tràn khói lữa
Mỹ Tho ơi ! một lần xin từ giã
Giòng sông Seine tương tư giòng sông Cửu
Mang nỗi niềm thương nhớ đến phương xa
Ta dìu nhau tìm về nơi xứ lạ
Tình anh cho em nỗi nhớ quê nhà
Quê hương anh chỉ có một giòng sông
Anh khôn lớn theo giòng đời trôi nổi
Hành trang ra đi cuả TTSP cũng như bao nhiêu thuyền nhân khác là hai bàn tay trắng, sợ bị bắt ở tù và sợ biển khơi dậy sóng, biển lúc đẹp thì bình yên nhưng lúc phong ba đã vùi chôn thân phận hàng trăm ngàn người xấu số trên đường vượt thoát tìm tự do . TTPS đã nói lên nỗi lòng người đi, bước chân qua bao bờ bến lạ, từ ngày nương cánh gió trùng dương giạt trôi đời mưa nắng ..
Từ thuở ra đi hai bàn tay trắng
Đeo trên lưng một khối nặng ưu phiền
Quen tiếng nói tiếng chào trăm ngả
Và tiếng mời hò hẹn gọi thênh thang
Phố người ta sao cái gì cũng lạ
Ly cà phê đắng ngắt bờ môi
Những cành cây tuyết phủ đầy cuốn lá
Như kẻ xa nhà mái tóc bạc phơ
Theo dòng người dưng luôn luôn vội vã
Trắng đen vàng anh đi giữa cô đơn
Thèm tiếng nói mẹ sinh từ thơ ấu
Thèm tô mì Quảng mẹ nấu buổi hoàng hôn
Chúng ta lớn lên và sống trong hoàn cảnh của đất nước chiến tranh, đã trải qua quá nhiều biến động. Không phải đợi đến lúc xế chiều chúng ta mới nhận thức được những mất mát lớn lao của tuổi trẻ trong thời ấy, những mong manh, những ngơ ngác, những mất mát đớn đau theo dòng đời. TTPS đã ngoài lục tuần nhưng thơ anh còn rất trẻ, trong sáng và trữ tình…
Một ngọn nến chập chờn tầm gió thổi
Tuổi sáu mươi đời chưa hết lung linh
Thôi xin được bình yên làn sóng nhỏ
Một chiều thu thuyền lặng lẽ ra khơi
.......
Gác mái chèo buông xuôi
Thân phận lưu vong, tuổi xuân đi qua tóc đã bạc màu thời gian, TTPS đã gác mái chèo về hưu năm 2003, ước vọng ngày về như nước chảy xa nguồn, vẫn mịt mù trong ngậm ngùi ảo vọng !
Tuổi xuân nào có đợi
Tình yêu đâu có chờ
Thu về với màu cỏ úa lá vàng rơi, đông lạnh trời Paris tuyết phủ, bên góc trời riêng cõi hồn người viễn xứ vấn vương những nỗi buồn vô vọng, cho hạt bụi mờ bỏ lại đằng sau
Cuối đời giấc ngủ không còn mộng
Trời vẫn xanh xanh mãi trong hồn
Bỏ lại đằng sau tình dịệu vợi
Hạt bụi mờ trong cõi hư không”
Đà Nẵng Quảng Nam quê tôi và TTPS đã lớn lên từ đó, thơ anh là một vòm trời thương nhớ. Đọc thơ anh thấy đời bớt muộn phiền, thơ anh trọn vẹn tình người tha thiết với quê hương, tìm về sông biển bao la hòa mình vào cuộc sống bao dung ấp ủ yêu thương. Hy vọng thi tập đầu tay của TTPS sớm trình làng cho độc giả thưởng thức những ý tình độc đáo thơ không sáo ngữ, nhưng tuyệt diệu thiết tha . Xin nhường lại cho độc giả, một khám phá mới lạ, tươi mát trong vườn thơ muôn vạn sắt màu ....
Nguyễn Quý Đại
