iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 27/10/2006
Par tonthatphusi



cerises-Nopo.jpg

NHỮNG NĂM THÁNG VỀ SAU



Nghĩ đến ngày mai ra đi  tòng quân lòng tôi chùng lại ...Tôi sẽ phải xa Ðà Nẵng,  thành phố thân yêu ,nơi tôi được sinh ra và lớn lên trong tình yêu của mẹ cha, bạn bè, thầy cô, trường lớp, của những mối tình  vu vơ , những ngày đầu biết yêu , một  thời mới lớn ,  một thuở  vấn vương theo các tà áo trắng bay bay đã để lại cho tôi bao ngẩn ngơ . Tôi  xé  tờ giấy học trò  từ  quyển vỡ Toán, viết bài thơ tình diệu vợi  để  gởi theo gió theo mây :
 
Áo trắng , trời ơi ! tôi ngẩn ngơ
Bên hiên trường vắng bóng học trò
Tan trường em vẫn còn lưu luyến
Em đợi chờ ai hay đợi tôi
 
Tên em tôi khẽ gọi cùng gió
Đưa lá vàng bay đến nẽo xa
Tóc mềm là những dây hoa dại
Quấn lấy hồn tôi rất thật thà
 
Áo trắng thướt tha trong nắng mới
Nắng buổi bình minh nắng ban đầu
Thơ tình em viết sao mỏng quá
Thả vèo trong gió biết về đâu
 
Thời con gái em thèm chua ngọt
Trái me xanh rớt trên môi mềm
Tình em cho tôi là thế đó
Tình ơ hờ vì tình chỉ là thơ 
 
Thôi giã từ bãi biển Mỹ Khê, Non Nước, Sơn Trà, Thanh Bình, Cầu Vồng, sân vận động Chi Lăng  ... giã từ phượng vỹ, ve sầu, me chua, khế ngọt .Tôi. sẽ đi  , xin trả lại cho ai một thời hoa mộng của tuổi dại khờ , một thời Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Tôi đi vào giấc mộng hải hồ và từ dó cuộc đời trôi theo sóng nước cho đến một ngày tai hoạ giáng xuống đất nước thân yêu...
Ngày 29 tháng 04 -1975, tôi công tác trên  chiến hạm LSM, loại tàu chuyên chở , đổ bộ,  từ đảo Guam  trở về Việt Nam . Tàu chúng tôi được lệnh ủi bãi để đón người di tản . Sau khi đưa đoàn người  đến cửa Vũng Tàu, tôi phân vân không biết nên đi hay ở lại vì vợ con tôi còn kẹt ở Sài Gòn. Giữa cái đi và cái ở , tình cảm gia đình đã chiến thắng trong tôi.  Thế là  tôi xuống một chiếc tàu nhỏ của Mỹ và yêu cầu cho tôi vào bờ,  giã từ vĩnh viễn cuộc đời hải nghiệp mà tôi trân quý, để rồi mang bao đắng cay vào tận nhà tù Cộng sản.


Nhớ ơi nhớ ! tuổi học trò Đà Nẵng
Thương những giờ trốn học đi lang thang
Chè ngã năm , năm đồng một ly cối
Đậu đỏ nước dừa ngọt lịm  quê hương
 
Nhịn quà sáng chểm chệ vào kéo ghế
Diệp Hải Dung kem hai màu xanh đỏ
Gió hạ về rung rinh  chùm hoa gạo
Ngẩn ngơ nhìn  vạt áo trắng bay qua
 
Rạp LIDO chiếu film Bonjour tristesse
Françoise Sagan thần tượng tuổi đương thì
Ta yêu em tình yêu vừa mới chớm
Đã vội ngậm ngùi Buồn ơi ! chào mi
 
Đường Bạch Đằng bờ sông Hàn tuyệt dịu
Quả me chua quyến rũ đôi má đào
Ghế đá công viên học trò con gái
Mái tóc bồng bềnh sóng nước lao xao
 
Đường Độc lập trang nghiêm nhà thờ lớn
Tượng Chúa buồn mưa nắng đến thăm luôn
Nhớ em anh ngước nhìn cây Thánh Giá
Sách vở nhạt nhoà gió lạnh từng cơn
 
Mỹ Thị những ngày cuối tuần cắm trại
Cùng nhau dựng lều che nắng  ban mai
Gió đồi thông vi vu cánh diều giấy
Con gái đùa hơn cả lũ con trai
 
Rong chơi hết chổ này đến chổ nọ
Lên yên xe  Đà Nẵng mình mộng mơ
Tôi chở tuổi học trò sau xe đạp
Hai bên xe phượng vĩ với ve sầu
 
Ừ phải đấy ngày xưa mình lẩn thẩn
Thầm yêu một lần ba bốn mỹ nhân
Từ Phan châu Trinh qua Phan thanh Giãn
Về Sao Mai hò hẹn Cổ viện Chàm
 
Nhớ ơi nhớ ! tuổi học trò Đà Nẵng
Kỷ niệm này là kỷ niệm trăm năm
Nếu có kiếp sau thì ta vẫn
Làm cậu học trò Đà Nẵng xưa

ttps


Nhớ  buổi sáng của ngày cuối tháng 05-75, tôi đi lang thang đầu đường Lê Văn Duyệt giữa Sài Gòn đổi chủ . Thành phố biến dạng thật nhanh , người dân đem  các vật dụng trong nhà  ra bày bán đầy dẩy  hai bên lề đường. Người ta gọi Saigon  bây giờ là thành phố của nhân dân, của cách mạng và giai cấp công nhân , nông dân đứng lên  làm chủ đất nước. Những anh đạp xích lô, những chị buôn thúng bán bưng thừa cơ hội tự nhận mình là cách mạng nằm vùng  lên mặt, hù doạ mọi người. Tôi lầm lũi đi,  xác thì còn đây nhưng hồn bay bỗng nơi nào. Chợt một người  từ căn nhà đi ra gọi :
- Sĩ. Anh Sĩ. Ði đâu đó? 
Tôi quay lại, trong ngỡ ngàng tôi nhận ra thầy Nguyễn Ðăng Ngọc, thầy Hiệu Trưởng cũ thời tôi còn học trường Phan châu Trinh. Hai thầy trò nắm chặc tay nhau vừa mừng vừa tủi! Thầy gọi tôi vào nhà. Ngồi nơi cái phòng khách đơn sơ, quyển từ điển Phap-Viết để trên bàn, hai thầy trò tâm sự, kể cho nhau nghe những mãnh đời đi qua và hiện tại. Xa Thầy mười lăm năm , bây giờ gặp thầy trong một hoàn cảnh bi đát của đất nước , tan thương của dân tộc , thầy bóp nhẹ vai tôi hỏi: 
Sao em không đi ?
Tôi buột miệng hỏi  :
Thưa thầy, sao thầy còn ở lại đây ? 
Hai thầy trò nhìn nhau cùng một ý nghĩ, cùng một chua xót buồn đau .
Hôm ấy , 01-06-1975 ,tôi trình diện đi học tập cải tạo...

 Sau khi chiếm miền Nam (30-04-1975 ),  Cộng sản lừa gạt Quân, Cán, Chính của chế độ cũ còn kẹt lại , kêu gọi khăn gói  đi học tập cải tạo theo diện  10 ngày hay  một tháng rồi về . Cả miền Nam mắc bẩy của chúng. Cùng với bao nhiêu người đồng cảnh ngộ ,tôi đi trình diện học tập trong diện 1 tháng  và được đưa về Suối Máu Biên Hoà . Thế rồi một tháng qua , một năm qua ...trong lao động nhọc nhằn, trong những đêm ngày khai báo liên miên,  ngày về không phải là một tháng mà là vô định...

 Mùa Thu  năm 76, tôi bị đưa ra Bắc. Lần nầy tôi được trở về với biển, với người tình muôn thuở của tôi. Chúng tôi được trói tay từng hai người một và nhốt trong một hầm tàu.  Tàu ra khơi ... Bắc tiến .. .Tôi. bị đày ải từ Hà Nam Ninh đến Cao Bằng, Lạng Sơn, trong rừng thiên nước độc với  những ngày  cháy nắng , những đêm lạnh xé da trong manh áo tù không đủ ấm. Và thời gian trong tù cứ vậy mà trôi qua... Ai cũng nôn nóng lo âu chờ mong ngày được thả,  qua bao đau khổ vì đói vì lạnh, vì phải lao động trong các hầm mỏ than dọc biên giới Việt Trung . Sợ nhất là mỗi đêm khuya phải thức dậy làm tờ tự khai, tự thú điên cả cái đầu. Đời sống vỡ mộng, người tù mõi mòn lo âu cho thân phận mình, cho gia đình, cho cha mẹ,  anh chị em, vợ con và những người thân.
Càng v̀ê sau người tù càng hiểu ra đừng có mong ngày về.  Bọn nó nói “phải luôn luôn yên tâm cải tạo, học tập chính trị tốt, lao động chân tay giỏi,  bao giờ nhân dân thấy các anh đã trở thành con người mới của chế độ Xã hội Chủ nghĩa thì các anh được nhân dân khoan hồng cho về " . Ngày về không biết được, nghĩa là ở tù không có án tù.  Phần tôi,  sau 6 năm di chuyển từ trại nầy qua trại khác, ngày về mịt mờ xa thẳm, mỗi ngày phải đốn tre, chặt gỗ xây thêm nhà ở,  làm chuồng nuôi vài ba con heo nhỏ xíu, gieo hột rau muống , phá rừng làm rẫy để trồng khoai mì, cải thiện đời sống cho có một chút ít dinh dưỡng trong những tấm thân gầy còm. Các hầm cầu  được giữ phân lại để làm phân xanh tưới rau .
Tù không có kêu án, tôi cảm thấy có cái gì khác lạ,  tôi hoàn toàn không suy đoán được tương lai. Một lần trong khi đào giếng để lấy nước, tôi chỉ bên kia hàng rào kẽm gai đầy mìn và nói với người bạn tù:  “Cứ xem ngọn đồi kia là  nơi chôn chúng ta khi kiệt sức lìa đời, bây giờ phải lê lết cho qua ngày tháng, phải tìm những niềm vui nho nhỏ mà ta có thể có được để vui sống, dù sống không niềm tin, không hy vọng , tội gì mà buồn vì buồn cũng vô ích, không giải quyết được gì  !”    Nghe tôi nói  thế, người bạn tù bật khóc, tôi an ủi và trấn an tinh thần người bạn tù  của tôi và  từ đó hai đứa  trở thành bạn thân  . Về sau nhiều người rất ngạc nhiên  thấy  chúng tôi vẫn tỉnh bơ, vui vẽ cười đùa như không phải ở tù  , xem đây như nơi tạm trú,  nơi dừng bước giang hồ, nơi tạm nghỉ sau một khoảng đời  .
Mặc cho ngày tháng đi qua, chúng tôi gầy gò vì thiếu ăn, vì lao động cực khổ, sức khoẻ càng ngày càng vơi , chúng tôi vẫn xem những bửa ăn kham khổ là những bửa yến tiệc cao lương mỹ vị, những ngày làm việc nhọc nhằn là những buổi tập thể dục cho thân hình được khoẻ mạnh. Trong lúc lao động trong rừng sâu, bắt được con nhái bé nhỏ, dấu đem về trại, tối đến nướng lên thơm ngậy, xé làm hai, tổ chức một bửa tiệc thưởng trăng , hai đứa bí mật dự dạ hội trong đêm , bên một gốc cây già, gió mát dịu, ánh trăng huyền ảo mông lung len lõi qua hàng thông rừng như an ủi vỗ về, nghe thoang thoảng đâu đây tiếng cười của con thơ, ánh mắt của vợ nhà... Sau đó tôi có thêm vài  bạn khác  xin gia nhập hội bạn tù , chúng tôi tổ chức được những buổi văn nghệ bỏ túi cấp tốc, bốn năm tù nhân hẹn nhau tại đám cỏ, sau toilettes... mở đại nhạc hội, hát nhạc vàng cho nhau nghe. Tôi  nhớ đến bài hát mà thầy Hoàng bích Sơn đã dạy cho chúng tôi trong những giờ học nhạc dưới mái trường Phan châu Trinh: “Ðường về quê tôi, con đường xa xôi, qua mấy con đò, quanh mấy ngọn đồi cao”..  , tôi  hát cho các đệ tử của tôi nghe, lòng dạt dào mơ về quê xưa, nơi có con đò, có hàng dừa xanh, có tình tôi vừa mới lớn . Rôi cùng kể chuyện tiếu lâm ve”^` bác Hồ ” , hát nho nho:”? Hôm qua em mơ gặp bác Hồ, râu bác dài, bác đạp xích  lô “, kể chuyện Quỳnh Giao, chuyện Thần Diêu Dại Hiệp  .Nhiều  lúc cao hứng ngâm thơ và ca vọng cổ . Cứ như thế mọi nhọc nhằn lo âu biến mất, dù thời gian văn nghệ mỗi đêm chỉ được khoảng 25 phút, thời gian ấn định để được phép đi tiêu. Chúng tôi đã cố tìm được HẠNH PHÚC ở trong tù, Hạnh phúc đó thật đơn giản, thật dễ thương  để quên đi cái đau khổ luôn luôn chực chờ . Có những  khi đi khiêng đất, hai đứa hai đầu, gánh nặng quầng cả hai vai nhưng vẫn đánh cờ tướng không bàn, pháo 2 bình 5, mã 7 tấn 6, xa 1 tấn 1 v . v....  Chơi mãi thành quen, tất cả đều trở thành cao thủ .
Vào một đêm đang bị nhồi sọ trong những bài học chính trị : lao động là vinh quang, đế quốc Mỹ là kẻ thù số một, đảng Cộng sản là cái nôi của nhân loại, là đỉnh cao trí tuệ của loài người , chúng  tôi ngồi giả bộ chăm chú nghe nhưng  thật ra chúng tôi đang đánh cờ. Chợt một anh bạn tù buột miệng la :” Chiếu “,  anh Quản Giáo đang hùng hồn giảng bài súng AK bắn nhào B52 của đế quốc Mỹ, khựng lại hỏi “Cái gì thế ? " Chúng tôi đáp: “Quản Giáo giảng bài hay quá! “ -Tại sao gọi là CHIẾU  ? Chúng tôi giải thich:”' Chiếu là tiếng khen tặng của người miền Nam , cũng như các từ  hồ hởi, phấn khởi của người miền Bắc . Anh Quản Giáo hồ hởi, phấn khởi cười xoà trong cái hãnh diện là mình giảng hay !!! Chúng tôi còn  tổ chức những cuộc đấu kiến, đấu dế, bắt những  con đấu thua bỏ vào hộp diêm cho chúng cải tạo  .Chúng tôi tìm đủ mọi cách ,cố  tạo ra những trò giải trí nho nhỏ để quên ngày tháng tù đày ..Thỉnh thoảng một vài người trốn tù trong đêm, gặp phải mìn nổ tan xác hay bị bắt lại để được nhốt riêng nơi hầm tối hay bị xử bắn về tội phản cách mạng. Và dĩ nhiên không thiếu những người tù chết vì bệnh, không có thuốc chửa, xác được bó tròn trong chiếc chiếu khiêng ra ra chôn tận bìa rừng. Những thảm cảnh ghê rợn đó không làm cho chúng tôi  sờn lòng, đời người ai cũng một lần chết, cái chết đến với chúng tôi một cách dững dưng. Chúng tôi cố gắng sống trong cái hạnh phúc nhỏ nhoi đã  tìm được. Và chúng tôi cám ơn ơn trên  đã cho chúng tôi nhiều nghị lực sống qua những năm tháng tù đày...
Ra khỏi tù giữa năm 81, tôi sống  trong một nhà tù rộng rãi hơn .Tôi có  cùng chung số phận cơ cực, bị đàn áp của mọi người vây quanh trong  cái xã hội đổi mới quái đản . Nhưng cay nghiệt hơn , dưới mắt bọn Cộng sản, tôi là thành phần thấp kém , chưa có quyền công dân,  cuộc sống vẫn bị quản chế, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần để khai báo hoạt động trong tuần.
Tôi đã sống những ngày đi công tác thuỷ lợi, lao động ngoài công trường, làm việc như trâu bò để mỗi ngày khi chiều xuống được lảnh hai kg  bo bo đem về nhờ ơn Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt .Một lần , trong  lúc được nghỉ ngơi, cởi trần mặc quần xà lỏn nằm phơi nắng, phơi gió hây hây, trăm sự gác qua một bên, chỉ một mình ta với đất  trời bao la ,  tôi chuyện trò với   một anh bộ đội giải ngũ về làm dân với bao năm gian khổ hy sinh diệt Mỹ Nguỵ  cứu nước ,có huy chương Dũng sĩ diệt Mỹ của bác Hồ. Anh bộ đội được đưa về làm cán bộ trong công trường thuỷ lợi nầy với ba tháng lương chưa mua nỗi chiếc xe đạp cho con, trong lúc các đồng chí của anh tiếp thu các dinh thự của Mỹ Nguỵ , sống một đời sống xa hoa phè phởn. Tôi hỏi anh  lý do tại sao anh ở đây ? Anh trả loi:”+` Tớ vì lý do cha mẹ là điền chủ, tuy bị đấu tố tịch thu tất cả tài sản nhưng vẫn còn cái gốc là điền chủ , tuy  tớ được vào Ðảng nhưng còn phải phấn đấu nhiều hon”+ . Từ đó anh hay theo tôi để hỏi về cuộc sống của dân Miền Nam . Tôi hân hoan lên lớp với người bộ đội bị nhồi sọ này , và cảm thấy như mình đã làm được một việc thiện  .
Một buổi chiều, tôi đạp xe đạp đi dạo trên đường Hồng thập Tự, bất ngờ tôi gặp thầy Tòng. Còn nỗi vui mừng,  niềm hạnh phúc nào hơn khi gặp lại thầy cũ  . Thầy vẫn nụ cười muôn thuở, nước da ngâm đen như thuở nào, mái tóc bồng bềnh, lãng tử. Hai thầy trò đạp xe đạp song song, chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay, chuyện ngày mai  ,tâm  sự suốt một đoạn đường dài . Tội mời thầy vào một tiệm ăn nhỏ, hai tô phở nóng như tình thầy trò bỗng dưng gặp lại, hai ly cà phê sữa đá mát rượi như mái trường Phan châu Trinh thân yêu ngày xưa. Tôi   hình dung lại những ngày tháng trước, xa quá rồi...  Kỷ niệm lại về quanh tôi, quanh thầy, hình ảnh người thầy tươi vui sống động, người thầy mặc quần tây dài ống loa đầu tiên trong cái mode tân thời của Ðà Nẵng, người thầy ham mê đá bóng,   mà một thời Ðực 1, , Ðực 2, Tam Lang, Rạng  là thần tượng sân cỏ của thầy .
Tôi nhớ  có  một lần tôi và bạn bè vui chơi ở Thanh Bồ, không có tiền ăn cà rem, chợt gặp thầy đi ngang qua, tôi lập mưu xì lốp xe đạp, rồi chạy lại thầy xin tiền vá xe, thầy vui vẽ móc bóp cho mấy đồng. Lần sau thằng bạn cùng lớp dùng mưu kế đó để kiếm tiền ăn quà, thầy biết được la rầy cho một trận, thằng bạn mặt đỏ như say rượu, bẽn lẽn  cúi đầu. Tuy vậy, thầy cũng thương tình cho mấy đồng với lời rầy la” lần sau không được lập mưu như vậy nữa, xấu lắm, em biết không?  “  Tình thầy trò lấy gì đong cho hết, biết lấy gì gỡ cho ra. Thầy Tòng! Em ngồi đây viết về thầy thấy lòng vui theo ánh nắng  chan hoà, vài nụ hoa vừa chớm nở, tiếng chim ríu rít trong mảnh vườn nhà em, hạnh phúc lan tràn trong ánh mắt, trên môi miệng, trong trái tim không chịu già theo với tuổi đời phôi pha những ngày cuối đông lạnh lẽo tiếp nối những ngày đầu xuân ấm áp của đất trời Paris, em nhớ về thấy với hạnh phúc đó.
Ngày mai lại đi, tôi đã nhận lời lái một chiếc ghe  chở người vượt biên, chiều nay đi trên con đường Trương minh Giảng để nhìn lần cuối khu phố đã một thời thân quen với tôi, đi ngang qua khu Ðại Học VẠN HẠNH, tôi chợt nhìn một dáng ai quen quen trong hành lang Ðại Học, hình như người đó cũng nhìn ra tôi, kẻ chạy vào, người chạy ra, tay bắt mặt mừng sau một phút ngập ngừng, bỡ ngỡ... Sĩ  ,Thầy Phạm  văn Ấm.     Hai tiếng gọi, hai nỗi lòng như nhập một. Thầy bảo: Chúng mình vào quán cà phê bên cạnh nói chuyện. Tôi bao, tôi bao anh. 
 - Anh uống gì nào?
Uống gì, tôi thầm nghỉ. Thưa thầy, em đã uống ánh mắt trìu mến của thầy, tấm lòng hiền hậu của thầy. 
Tôi nghẹn ngào chẳng biết nói gì hơn! 
-Cà phê, nghe Sĩ
Thầy vẫn như từ thuở nào, dáng người nho nhỏ, nghiêm nghị. Cái nghiêm nghị giống như thầy Ngọc, nghiêm nghị của một nhà mô phạm, tiếng thầy vẫn sang sảng, rõ ràng như những lúc thầy dạy Anh Văn. Chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay, chuyện hiện tại, chuyện tương lai, hai thầy trò, hai mái đầu chụm lại, nói gì đây, bao nhiêu lời để hỏi, bao nhiêu câu để trả lời, hai thầy trò tưởng mình đang sống trong mơ. 
 “ Từ ngày gặp anh nơi Viện Ðại Học Huế rồi anh đi đâu mất, sao vậy anh? Anh đang học được mà! Tôi đã hỏi Bác Sĩ Quyến, anh Quyến nói anh đã bỏ học để vào Hải Quân, anh không muốn làm Bác sĩ à  !” Tôi bật cười, thấy thầy đang vui, tôi tếu: 
Em đã là Bác sĩ rồi, học làm gì!
Thầy ngac nhiên, tôi giải thích:
Em có thằng em trai, nó lấy vợ, đẻ con, con nó phải gọi em bằng bác, em tên Sĩ, vậy không phải là Bác Sĩ sao?
Thầy cười xoà: “Anh lúc nào cũng vậy, chỉ biết chọc người khác cười  ". Thầy kể tôi nghe: “Thầy vẫn dạy Anh Văn Ðại học Sư phạm Huế, sau nầy tôi vào Sài Gòn dạy Anh Văn tại Ðai học Vạn Hạnh đến bây giờ ”.Thằy nhắc lại: “Ngày xưa anh nghịch nhất trường, anh biết không? Anh đã phá tôi thế nào ”.Ngày xưa, cái ngày xa lắc đó, lớp tôi có chị Thuý Oanh đẹp, giõi Anh văn, được thầy Ấm cưng. Anh văn tôi chẳng thua gì chị Thuý Oanh, thế mà mỗi lần làm bài tập hay vấn đáp, lúc nào tôi cũng thua chị Thuý Oanh nửa điểm, nhất là những bài thi lục cá nguyệt tôi không thể nào vượt qua được chị Thuý Oanh, lúc nào cũng bị thua trong gang tấc. Tôi giận quá, một hôm trong buổi tan trường về, tôi khoá hai xe đạp của thầy Ấm  và chị Thuý Oanh. Lúc ra về, một nam một nữ, hai xe dính chặt lại không cách nào mở ra được. Thầy nhăn mặt, chị Thuý Oanh khóc, cuối cùng phải nhờ bác Cai trường cưa cái khoá. Không biết thằng bạn nào thày lay mét với thầy thủ phạm là tôi .Thầy  Ngọc gọi tôi lên văn phòng ngày hôm sau, thế rồi là phải kỹ luật ...Thầy ơi,  sau này em đã hối hận chuyện này , lòng thầy rất bao dung , thầy vẫn thương em cho đến ngày hôm nay gặp lai, thầy trò thân ái kể cho nghe lại chuyện ngày xưa thương mến đó.   Thầy vẫn ở nội trú trong Viện Ðại Học Vạn Hạnh, thầy không nói chuyện gia đình của thầy và tôi cũng e ngại không dám hỏi, thầy hỏi địa chỉ nhà tôi để đến thăm, tôi nói nhỏ: 
 “Em ở gần đây nhưng ngày mai em vượt biên " .   Thầy cầm chặt tay tôi chúc thượng lộ bình an, thầy nói vài ngày nữa, thầy sẽ đi ngang nhà tôi để dò la tin tức. Xin từ giã người thầy kính yêu, biết đâu đây là gần gặp gỡ cuối cùng. Tôi thấy mắt mình như có hạt bụi bám vào và 2 mắt thầy buồn buồn nhìn vào cõi xa xăm. Hạnh Phúc đâu đây như ôm chặc lấy tình Thầy trò  .̣
Tôi ra đi mùa Thu năm 81,  bỏ lại đàng sau Sài Gòn ấp ủ hình ảnh của Việt Nam nước tôi.  Đến điểm hẹn tại Bà Rịa,  tôi và gia đình  được Công an chở bằng chiếc xe Honda dame đến bãi , để từ ghe nhỏ ra ghe lớn hơn. Chủ ghe nói với tôi, ghe dài 12 mét chở tối đa 65 người, khi lên ghe lớn, đúng ghe dài 12 mét  , ngang 4 mét, nhưng số người tôi thầm  đếm hơn 100 , đứng trên phòng lái nhìn xuống thấy toàn là đầu người với chiếc ghe mong manh trong đêm tối, người Công an lái chiếc ghe đi, hai bên có hai ghe nhỏ hộ tống. Ra đến cửa Vũng Tàu, trời vẫn còn tối, anh ta giao tay lái cho tôi và một gói nhỏ đựng dụng cụ hải hành. 
“Bắt đầu từ bây giờ anh lái, chúng tôi hết nhiệm vu”.   Anh ta nói xong nhảy xuống ghe nhỏ và quay trở về.
Tài công phụ đâu? Tôi lên tiếng hỏi:
 Chủ ghe trả lời:
“Vào phút chót nó không đi”.    Thế là mình tôi trách nhiệm suốt hải trình, chủ ghe lo phần máy. Tôi mở gói đựng dụng cụ hải hành ra: một đèn pin, một ống dòm, một la bàn và một hải đồ. Tôi yên chí nhưng nhìn kỹ lại không phải là hải đồ mà là một bản đồ Sài Gòn Chợ Lớn. Tôi hỏi chủ ghe và được trả lời: “ Bọn nó đưa nhầm bản đồ rồi " .-Không sao!
Không khí trong lành của biển, ngọn gió ban mai thổi mát lòng, tôi cảm thấy vui, trong đêm tối theo  chòm sao Bắc Ðẩu lung linh, tiếng sóng rào rạt rủ tôi về với trời đất bao la, với bờ bến mộng ngày xưa. Tôi đưa chiếc ghe  đi xuôi theo dòng nước, thuỷ triều bắt đầu rút xuống, hạnh phúc trong tôi dâng lên. Rạng đông, mặt trời to tròn bắt đầu mĩm cười với người thuỷ thủ trở về với biển khơi , tôi   qua được mạng lưới tuần duyên của Công an biên phòng. Ghe  vào  hải phận quốc tế, thản nhiên trên đường đào thoát, không lo âu, để trí óc mình sáng suốt đi đúng lộ trình, tự nhũ, mình có cái gì phải lo, bị bắt thì tù lại, ở tù cũng có ngày ra tù, ra tù lại vượt biên, chỉ vậy thôi. Như kẻ ham chơi, thuyền vượt sóng  ra khơi như đi du lịch, Tự do ơi! Tự do!
Tôi thầm hát khẻ : Ra Khơi biết mặt trùng Dương , biết trời mênh mông , biết ta hải hồ ... 
Trước mặt tôi chân trời rộng, tôi ra đi tìm đất sống, dù chết cũng vui, còn hơn những người tù chết trong tay Cộng sản. Tôi không biết cảm ơn ai, cho tôi cảm ơn tất cả, kể cả những người Cộng sản đã đày đoạ tôi suốt gần 7 năm dài, tôi đã thật sự đi tìm TỰ DO, điều mà tôi quyết tâm từ ngày vừa mới ra tù. 
 Sau bốn ngày lênh đênh, trời yên biển lặng, hải trình tôi đi không lệch một độ. Cái la bàn không xài được, lúc nầy còn cái vốn liếng hàng hải thiên văn đem ra dùng. Tôi đưa ghe  vào giữa hải trình của các thương thuyền xuôi ngược, mong là không gặp tàu Liên Sô hay Trung Cộng .Sau bốn ngày cầm tay lái tôi. bắt đầu thấm mệt . Chiều nay gió đổi hướng từ Tây Nam sang Ðông Bắc, những đám mây bạc cuối chân trời đã bắt đầu đổi màu xám, mọi người đã nằm im không còn nghe tiếng  đọc kinh cầu nguyện. Con tàu lặng thinh , chỉ còn gió và sóng biển lao xao. Tôi thầm nghĩ, đêm nay có bão và con thuyền sẽ đi về đâu? Trời đã bắt đầu tối, một chút ánh trăng còn sót lại của những ngày gần cuối tháng , đủ soi đường cho con tàu tôi đi . Ghe cứ lầm lũi theo chiều gió, gió càng lúc càng mạnh, sóng đã phủ mũi ghe, tôi ghì tay lái và bắt đầu cảm thấy chơi vơi  . Sức người, sức ghe như thế nầy làm sao chống chỏi với trời biển....
Chợt từ xa, xa tít trong bóng đêm có chút ánh sáng, niềm hy vọng len lỏi trong tôi, ánh đèn đài chỉ huy đã hiện rõ. Tôi chạy hết tốc lực về phía con tàu, dùng đèn pin để xin cấp cứu, ánh đèn yếu quá nên không nhận được. Một khoảng thời gian qua, tôi đã nhận được tín hiệu con tàu, một chiếc tàu buôn của Pháp xử dụng truyền tin bằng ánh đèn, cho tôi biết đã nhìn thấy rõ chúng tôi và cần gì, có hiểu được tín hiệu qua ánh đèn hay không? Còn nỗi mừng nào hơn. Tôi trả lời bằng ánh đèn pin yếu ớt ” Tôi hiểu, tôi hiểu, tôi xin cấp cứu vì ghe nước vào nhiều đang lâm nguy, chúng tôi là những người tị nạn khởi hành từ Việt Nam” . Chiếc thương thuyền Cargo của Pháp đã từ từ hiện rõ  trước tôi, bảo chúng tôi đợi để xin lệnh trên. Cuối cùng tôi được phép cặp vào hông tàu, những ánh đèn pha sáng rực chỗ ghe tôi và nhiệm sở cấp cứu được thực hiện . Chúng tôi lên tàu được bình yên tất cả. Chiếc ghe vượt biên bị đánh chìm . Tôi là người lên  tàu lớn cuối cùng với cái la bàn kỷ niệm. Những tiếng hoan hô vang dậy, mọi người ôm lay tôi, công kênh tôi lên , tôi sung sướng vô cùng, niềm hạnh phúc vô biên, tôi đã đưa 108 thuyền nhân đến bến bờ tự do. Ðêm hôm đó, bão cấp 5, qua cánh cửa kính của căn phòng ấm cúng bỗng tôi rùng mình, hơn 10 năm hải nghiệp, lang thang khắp biển Ðông nầy, lần đầu tiên tôi biết sợ người tình Biển yêu dấu của tôi nỗi giận. Niềm tin và hy vọng đã cho tôi một ý chí tranh đấu không mỏi mệt  cho một tương lai .
 Ðến trại tỵ nạn Hồng Kông, tàu Pháp vớt nên không vào trại Cấm, chúng tôi được cư ngụ tại một khách sạn ở Kao Luong, mỗi ngày được đi dạo phố vài giờ, chờ phỏng vấn để định cư một nước thứ ba. Tôi lại tiếp tục sống với Hạnh Phúc  của tôi,  mỗi chiều tôi lên đồi nằm ngủ, mơ màng theo tiếng gió vi vu, trời nóng, xuống biển tắm, bắt những con dã tràng xe cát mà nhớ biển Ðông, nhớ Huế, nhớ Ðà Nẵng, nhớ Nha Trang cùng các bạn bè thân yêu từ thuở nào. Chiều về ăn cơn thật no, đầy đủ chất bổ  dưỡng , đêm đêm đốt lửa nhắc chuyện Sài- Gòn, tâm hồn vô cùng thảnh thơi, . Thời gian ở đây như ngưng lại trong cái huyền ảo của cuộc đời, cuộc sống trở về với thiên nhiên vô tư như trẻ thơ.  Tôi cảm thấy tôi là người sung sướng nhất trên cõi đời nầy, tôi nâng niu hạnh phúc trong vòng tay, Hạnh phúc … Hạnh phúc.
  Ðến Pháp giữa thủ đô Paris đồ sộ, tôi đi lang thang tìm việc. Qua đây vào mùa Ðông giá lạnh, tuyết giăng đầy, tuyết rơi trên tóc, rơi trên vai. Di hoài đi huỷ tìm chưa được việc, tôi vẫn thấy mình là kẻ may mắn, sung sướng vì đang sống trong thế giới TỰ DO mà nhiều người thèm muốn . Tôi nghĩ dến bạn  bè bà con đang khắc khoải trong gông cùm Cộng Sản, nhiều  người đã chết, đã bị cướp bóc hảm hiếp giữa biển Ðông. Tôi tự trấn an từ từ rồi sẽ có việc, mình cứ tà tà hưởng tiền trợ cấp.  Các con đã được vào trường nhập học với bạn bè là tốt rồi. Cho dến một hôm tôi  tình cờ đi ngang qua một Võ đường Thái Cực Ðạo.  Đứng nhìn các em trong bộ võ phục cổ truyền đang luyện tập, tôi chợt nghĩ tại sao mình không thử thời vận . Tội  tìm đến vị Giám Ðốc xin làm Huấn luyện Viên võ thuật. sau khi nộp hồ sơ, bằng cấp và trắc nghiệm, tôi được thu nhận. Vậy là tôi đã có việc làm.  Tuy là nghề tay trái nhưng tôi thấy bằng lòng và vui vẽ, hàng ngày chơi đùa và luyện tập với các môn sinh,đủ màu da: đen, trắng, vàng... Thế là lòng tràn niềm vui phơi phới, cuộc sống nơi xứ lạ quê người  bắt đầu thích hợp với chúng tôi.   Các con tôi đã vững vàng theo kịp được chương trình học ở một xứ sở văn minh.  Tôi nhìn các con, lòng vui mừng  đã  được niềm mơ ước từ lâu. 
Như thế đó, đời tôi hơn 10 năm đi biển thuở ban đầu, trong chiến tranh đau khổ.   Tuy phải chịu một vài thiệt thòi nào đó trong đời sống gia đình nhưng tôi cảm thấy mình tràn đầy hạnh phúc,  được du lịch khắp đó đây, thả hồn theo sóng nước...  Những đêm trăng sáng  đầy trời , tôi hay ngước nhìn tìm một vì sao , vì sao BALANCE  hộ mạng của tôi trong  giãi  Thiên Hà   và  chợt  nhớ  về người Mẹ thương yêu  đã một đời lam lủ chắt chiu nuôi con  cho đến ngày khôn lớn :


MẸ ƠI BIỂN GỌI
 
Con ốc nhỏ thu mình chôn dưới cát
Mà trong lòng chứa cả một đại dương
Nghe vi vu từ ngàn xưa vất vưởng
Rồi thì thầm từ hồn ốc mênh mông


Mẹ sinh con bên bờ cong chữ  S
Bài hát ru theo chiếc võng à ơi !
Lời mẹ êm thiết tha tình biển gọi
Võng tròng trành theo nhịp tàu đong đưa


Buổi chia tay tuổi học trò ra biển
Ngày xuống tàu hồn bỗng thấy lao xao
Ôm mẹ yêu, vòng tay đầy mộng ảo
Tiễn con đi quanh mẹ gió rì rào


Con dã tràng xe từng viên cát nhỏ
Giương cái càng che khuất nửa vầng trăng
Ánh trăng vàng rơi tràn trên biển vắng
Ngọt như dòng sữa mẹ đã nuôi con


Chiều xuống thấp mây rơi trên đỉnh núi
Cánh chim bay lãng đãng bóng hoàng hôn
Mẹ ơi mẹ giữa trùng khơi dậy sóng
Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình
dạt dào
*
* Lòng Mẹ - Y Vân
ttps


Tôi không ngờ, cuộc đời có những cái bất ngờ mà mình không thể ngờ được, tôi đã gặp lại Cô Liếng dạy Pháp Văn ngày xưa. Các bạn ơi ,  ai đã học với Cô Liếng ắt  vẫn còn nhớ Cô là một cô giáo hiền, linh hoạt vui tính mà còn là một người mẹ của chúng mình. Cô không bao giờ  la rầy học trò, chỉ nhỏ nhẹ khuyên răng khi tụi mình phạm lỗi hay lười biếng học hành .  Với Cô tụi mình không phải chỉ  là học trò của cô, mà còn như những đứa con trong lòng cô. Ngày tôi gặp lại Cô, Cô đã già lắm rồi, hai mẹ con nhận ra nhau trong mùi hương thơm dịu dưới chân tượng Phật.  Cô lấy tay xoa đầu tôi,  xoa đầu đứa học trò ngỗ nghịch ngày xưa. Cô chỉ nói đuoc:” Cô không ngờ ! “ Rồi Cô khóc.  Có lẽ qua hình ảnh của tôi, Cô đã sống lại thời làm cô giáo ngày xưa , cũng giống như tôi bây giờ, đang ngồi viết những dòng chữ nầy gởi đến Thầy Cô và các Bạn,  tôi đang sống lại một thuở vàng son lưu luyến đẹp nhất trong đời: Tuổi Học Trò, Thời Dạy Học. Tôi Chia tay Cô Liễng trong lời hẹn gặp lại . Tôi cho Cô biết ngày mai tôi phải  đi công tác,  Ngày tôi  đi, mưa bay bay như bụi, vương mái tóc tôi, mái tóc ngày hôm qua Cô Liễng,  bàn tay mẹ dịu dàng xoa trên đầu con, lòng tôi man mát buồn và mong cho mau kết thúc chuyến công tác để về tâm sự cùng Cô. Nhưng  hai tháng sau tôi về, Cô đã bỏ tôi ra đi vĩnh viễn. Còn nỗi buồn nào hơn  !  Tôi gặp lại cô  có một lần là lần cuối rồi xa ngàn đời.  Cô ơi! Người Thầy dạy Pháp Văn đầu đời của con, mỗi mùa Phật Ðản đến, con sẽ về chùa Khánh Anh Paris  để thắp hương tưởng niệm Cô. Di ảnh và tro cốt của Cô Liễng được thờ tại đây. Các bạn thân mến, ai có dịp ghé qua Paris ,xin tìm về thăm Cô, thắp nén hương lòng để dâng lên Người Thầy thương mến.
daisys.gif

CLICK  HERE
Suite

NHUNG NAM THANG VE SAU - 2 -



Aucun commentaire