|
Publié le 29/02/2008 à 23:16
Par viensoinga
Publié le 29/02/2008 à 23:10
Par viensoinga
Publié le 22/02/2008 à 11:59
Par viensoinga
DƯ ÂM NGÀY THÁNG CŨ
Valentine 14/2/2008 Liên Hương Mùa xuân ấm no đang có trong Liên do sự cần cù, nhẫn nại và ý chí phấn đấu vươn lên từ ngày nàng bị 'ngã ngựa', nàng an phận với ước mơ nhỏ bé vì không còn vội vã chạy đua với thời gian như những ngày vừa đặt chân đến vùng đất tạm dung này. Ðáng lý ra nàng phải tận hưởng tuổi đời còn lại của mình để bù lại thời gian nghiệt ngả đã qua. Lìa nơi chôn nhau cắt rốn, Liên bỏ lại sau lưng khung trời kỷ niệm, mang theo vết thương lòng thời con gái "nổi trôi theo vận nước" đã âm thầm chôn kín tận đáy lòng mà thời gian nó đi đâu mất có chờ đợi ai. Ðêm nay, mưa Xuân rì rào ngoài khung cửa kính, giá lạnh bên ngoài như hòa nhịp cùng nổi nhớ chập chùng và Dư Âm Ngày Tháng Cũ hiện về như hờn trách đáng thương! Long và gia đình vừa theo làn sóng di cư từ Bắc vào lập nghiệp tại một xã gần tỉnh lỵ . Liên từ quê lên tỉnh ở trọ nhà bà con đi học. Nhà chàng và nàng chỉ cách nhau tấm vách lá, ngoài tình hàng xóm, họ còn là bạn học cùng trường, nên họ thường trao đổi nhau về bài vở. Lúc rảnh rang, nàng thường vui chơi với các bạn cùng lứa, trong số đó có Long, anh thường giúp nàng những việc cực nhọc và ngược lại nàng cũng phụ trông em của chàng, pha sửa hoặc ru bé ngủ để anh chạy ra chợ xem bà mẹ có gì dặn bảo, vì bác gái bán ngoài chợ mỗi buổi sớm mai. Phong tục tập quán ngày xưa quá khắc khe với con gái , nên Liên lần đầu tiên rời xa mẹ lên tỉnh còn quê mùa và nhúc nhát! Vào một buổi chiều nắng hạn nàng đi gánh nước ngọt xóm trên về uống, cùng đi chung với bọn trẻ trong xóm, có Long. Không biết sao, tụi trẻ ngẩu hứng cá với nhau, ai gánh nước về tới mức đến trước thì được thưởng trái ô môi, ai về sau hết thì phải đưa gò má cho tụi nó hôn, thấy tụi trẻ không có ý xấu, nên Liên đồng ý vì nàng ỷ lại mình chẳng lẽ không hơn được một nhóc con trong đám trẻ sao? Nhà Liên dùng 'cần vọt' để kéo nước, cọc chôn sâu dưới đất , bắt ngang cây tre vào cọc, đuôi có cột một vật nặng, đầu có móc một dây xích dài lòng thòng, kéo dây xuống giếng nhận chìm gàu vài cái cho nước vào đầy, dùng sức kéo mạnh cho gàu bật lên, rồi nương theo dây xích , thuận tay bắt gàu nước đổ vào bể gần miệng giếng chứa nước lại để xài. Vùng này thì phải gánh từ xa về, Liên chạy được một khoảng, đau vai quá phải để nhẹ gánh xuống, nàng bắt ngang đòn gánh qua đôi thùng, ngồi thở hổn hển, thấy Long đã tới mức đến và tụi trẻ cũng vừa tới nơi, tụi nó chạy ngược lại la lên 'chị Liên thua rồi ', bắt đầu chúng nó ào lên hôn nàng tới tấp rồi lo gánh nước về nhà. Bấy giờ còn lại Long và nàng, anh đến gần thấy đôi má Liên đỏ ửng, liền bụm nước trong thùng ra rửa mặt cho nàng, Liên vén tay áo lên lau mặt, Long vừa nói vừa cười "chịu thua rồi phải không", tới phiên tôi nhé, mời cô đứng lên cho tôi hôn tự nhiên, tụi trẻ đi về rồi, không có ai thấy đâu mà xấu hổ. Long đặt nụ hôn lên má nàng thật lâu trong khi nàng run lên bần bật, anh ghì sát nàng vào lòng, truyền cho nàng hơi ấm, gió đồng nhè nhẹ đưa người nàng lâng lâng... Cũng vì nụ hôn giữa đồng trống hiu quanh đó mà mối tình đầu của hai đứa bắt đầu chớm nở, lúc vắng người, Long thường hôn lên môi, lên tóc nàng! Một hôm, em Long khóc không chịu nín, anh nhờ Liên bế bé vào lòng ru cho nó ngủ, bé cứ dí miệng vào ngực làm nút áo nàng vuột ra.Thấy nàng ngượng nghịu, anh ngồi xuống bên cạnh nói "Sau này anh cưới em thì sẽ biết cảm giác đó ", rồi chàng đặt lên ngực nàng một nụ hôn và cài nút áo lại cho nàng. Mối tình thầm kín này càng ngày càng khắn khít và tiến nhanh hơn, nhanh đến nổi Long coi như "đã hứa hôn" nên thường gìn giữ và bảo vệ nàng. Một hôm thấy Liên làm nặng nhọc, Long nóng lòng nói với em họ nàng : "Có gì chú để tôi giúp cho, đừng bảo Liên làm tội nghiệp" Sự nhiệt tình của Long không được em họ nàng hài lòng, trái lại làm cho hai người mất lòng nhau. Từ đó có tiếng ra tiếng vào với mẹ nàng :"Cháu không giữ nổi vì chị Liên đã biết yêu". Mẹ nàng gọi về tra hỏi và nàng phải nói thật là có yêu và hứa hôn với Long. Mẹ nàng nổi tiếng là khó nhất trong làng, vấn đề này là không tha thứ được nên Liên bị đòn nặng, bị cấm không cho đi học ở tỉnh nữa! Nàng buồn khổ vì mấy lằn roi đau nhức, phần nhớ thương người yêu mà không làm sao báo tin được. Cứ mỗi buổi chiều nàng lén ra bụi tre sau vườn đứng ngó về hướng nhà Long mà khóc thúc thít ... Ai cho tôi tình yêu Của ngày thơ ngày mộng Tôi xin dâng vòng tay mở rộng Và đón người đi vào tim tôi Bằng môi trên bồ môi ... Hết ngày này sang ngày nọ, nàng trông ngóng tin Long bạo gan đi tìm nàng, để nàng báo tin cho chàng biết sự việc, hãy cố gắng chờ đợi và tin tưởng ở nàng, nhưng cả hai đều mất liên lạc. Một ngày nọ chị nàng ở Sài Gòn về đưa nàng đi, cho học nội trú trường bà phước ở trên đó. Khi xe chạy ngang xóm cũ, nàng cứ nhìn vào ngõ hẻm, xem có bóng dáng chàng đâu đó, để vẫy tay chào tạm biệt, nhưng tất cả đều vô vọng và mối tình đầu của hai người ngăn cách từ đây, không một lời giải thích và chàng cũng không biết tại sao Liên bỏ ra đi, Long có biết đâu nàng rất đau khổ vì phải xa chàng! Ðưa nàng vào nội trú mà mẹ không cho ai thăm viếng trừ chị nàng, thỉnh thoảng ở Pháp về thăm , còn mẹ thì phải lo cho các em và ruộng vườn, chưa một lần mẹ đến thăm nàng "mẹ giận con tới như thế sao" ? Như con chim non bị nhốt vào lồng nơi đô thị, hoàn toàn xa lạ đối với nàng và kỷ luật chốn tu hành của bà phước không có một thứ tình tự trai gái nào lọt được vào đây. Liên như ngây dại giữa ngoại cảnh mới không ai quen biết, đang thất tình, nhớ người yêu mà mẹ lại đưa nàng vào 'nhà trắng'. Nàng tự nuốt thầm cay đắng không để giọt lệ trào lên khóe mắt, và chôn kín nổi lòng không dám hé môi với ai . Ðể tự an ủi, nàng thường quỳ dưới chân Ðức Mẹ khấn nguyện, cho lòng thành của nàng bay đến chàng lời nhắn nhủ 'chung thủy và chờ đợi '. Nếu Long biết được cảnh này của Liên thì cũng đành bó tay! Thời gian lặng lẽ trôi, mùa thi cữ vừa đứt, cái "đại hạn" của tuổi thơ biết yêu sớm mà mẹ Liên ban cho nàng đi học nội trú giống như ma soeur "đi tu" đã qua, Liên trở lại quê nhà thì chiến tranh lan rộng, trai tráng phải thi hành nghĩa vụ, nàng biết tin Long ra trường và đã nhập ngũ , đứng tần ngần trên cầu, Liên nhìn giòng nước lững lờ, mang theo những mảng lục bình riêng lẻ lênh đênh trôi về nơi vô định ... Ôi! cơ hội sum họp tan tành theo mây khói , thêm một lần con tim Liên rướm máu! Từ đó đời trai sương gió, phận gái truân chuyên nổi trôi theo ngày tháng công vụ như định mệnh đã an bày ... Anh từ xa vẫn có bao giờ Nhớ thương bao ngày tháng cũ Có thấy tâm hồn mình chợt Bâng khuâng khi thu về Để trời làm mưa gió Em từ xa vẫn mang đầy xót xa Những dấu yêu ngày cũ Vẫn mãi cứ mong chờ một ngày Tình ta thôi chia lìa ... (trời còn mưa mãi) Tin nàng học từ "nhà trắng" về, đã có nhiều người dạm hỏi, Liên trả lời "tôi đã đính hôn". Nàng chờ đợi mãi, nhưng chàng vẫn biệt vô âm tín. Một hôm nàng đánh bạo đến gặp mẹ Long ngoài chợ, bà mẹ nói chàng đã có vợ, chào bác gái nàng bước ra và lòng thầm trách "anh đã phụ em ". Rồi sau đó, đám cưới nàng thật linh đình, cuộc tình sau này của nàng do duyên kiếp định đoạt, không do nàng lựa chọn, cũng không xuất phát từ trái tim như thuở ban đầu, và đau đớn thay, chỉ vì phó mặc cho đời, cái quý giá đời con gái nàng gìn giữ cho Long từ ngày nội trú trong trường đạo, nàng đã trao lầm chỗ! Từ nổi khổ này đến nổi đau nọ, tạo nên dấu ấn trong tim mà nước mắt nàng không bao giờ ngừng chảy khi nhớ đến mối tình đầu. Mùa Valentine 14-2 đã trôi qua một tuần mà dư âm vẫn còn rạt rào trong tình đôi lứa nơi xứ văn minh giàu có này. Liên cảm thương cho những mối tình thời chinh chiến trên đất mẹ nghèo khổ! Giữa mùa mưa bão giá buốt cô đơn, chợt nhớ về dĩ vãng xa xưa, tình đầu sao cứ vuơng vấn mãi suốt đời, muốn bỏ đi thì tim đau như dao cắt, muốn quên thì ray rứt khôn nguôi (1). Trên nửa thế kỷ, biết bao nhiêu điều đã trôi qua, vật đổi sao dời, quê nhà đã đổi chủ, nhiều thế hệ đã ra đời và một đời người sắp sửa ra đi, biết được tin Long cũng như nàng đang có mặt tại vùng đất hứa, nàng mượn bài viết này thay lời nói về sự việc đã xảy ra thời xa xưa ấy mà nàng chưa một lần gặp lại Long để tỏ bày, nàng muốn nói với chàng, tình ta dù ngang trái, dù nay tóc đã bạc màu sương gió, nàng vẫn nhớ Dư Âm Ngày Tháng Cũ và tin cho chàng biết "em vẫn còn yêu anh". Liên Hương
Ghi Chú :(1) Cảm động mối tình đầu dang dở, một người tên Long tặng Liên Hương hai bài thơ dưới đây:
Trầu Cau (Tặng ai chưa quên mối tình đầu)
Ngày xưa tuổi học trò áo trắng Tương lai nào ai biết ra sao ? Tình buồn như lá rơi sông vắng Mộng ban đầu lỡ chuyện trầu cau
Nước chảy qua cầu soi bóng chiếc Đáy sông xưa thiếu nhớ bóng em Lỗi hẹn, trăng thề còn luyến tiếc Đôi ngả từ đây trăng nước quên
Từ ngày đó quê hương khói lửa Mộng ban đầu để lại thôn xưa Vui bước giang hồ quên duyên lỡ Xóm nghèo buồn mưa ướt bóng dừa !
Cố nhân ơi đời nhiều cay đắng Nghỉ đến nhau, nhớ lời dịu êm Dù kiếp này có duyên không nợ Ân tình xưa vẫn mãi trong tim !
Long
Kiếp sau
Khi xưa em nói yêu anh . Tuổi thơ áo trắng nếu yêu hảy chờ Giang sơn khói lửa mịt mờ Đời trai nghiệp lính giang hồ đó thôi !
Bao năm qua, một kiếp người ! Trôi theo vận nước, giòng đời cuốn đi ! Tình đầu dang dở làm chi ! Tuổi thơ ngà ngọc dễ gì mà quên Hẹn nhau kiếp khác đáp đền Kiếp này đã lỡ tơ duyên vợ chồng Kiếp sau còn nhớ nhau không ? Nếu còn mang sợi chỉ hồng cùng se ! Long

Publié le 21/02/2008 à 09:17
Par viensoinga
Hải Đội 4 Duyên Phòng ( 1967-1975 )
Vương Thế Tuấn

Hải Đội 4 Duyên Phòng được chánh thức thành lập sau khi nhận lãnh 4 PCF mark II tại An Thới vào ngày 19 tháng 7 năm 1968. Đây là 4 PCF đầu tiên được chuyển giao cho HQVN,các chiến đỉnh nầy được đưa đến Việt Nam trên một LSD Hoa Kỳ,và tấtcả trang bị và vũ khí cá nhân đều được chứa trong thùng . Trở lại thời gian trước khi nhận lãnh các PCF nầy thì trên thực tế, Hải Đội 4 đã đượckhai sanh vào khoảng giửa năm 1967 với một số nhân viên và Sĩ Quan tình nguyện từBộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải. Họ đã được gởi thưc tập trên các PCF và WPB của Hải Quân Hoa Kỳ thuộc Coastal Squadron 11 và PCF Division 101 tại An Thới.Vào cuối năm 1967 và đầu năm 1968 thì một Bộ Chỉ Huy cho Hải Đội 4 được xây cất. Danh xưng cho Hải Đội 4 lúc nầy là Hải Đội 4 Duyên Tốc Đỉnh.
Bộ Chỉ Huy của Hải Đội 4 năm 1968 trước khi nhận lãnh bàn giao các PCF Chương trình huấn luyện Thủy thủ đoàn do Bộ Tư lệnh Vùng 4 và PCF Division 101 đảm nhận .Sĩ Quan điều hợp huấn luyện Việt Nam lúc đó là HQ Tr/úy Trầm Hửu Tạo K14, thuộc phòng Huấn Luyện của Vùng 4 Duyên Hải . Các Sĩ Quan và Đoàn Viên Việt Nam được gởi trên các PCF Hoa Kỳ để được huấn luyện khi các chiến đỉnh nầy đi tuần ở những vùng Market Time 9D đến 9L. Thời gian huấn luyện của những Thủy thủ đoàn đầu tiên nầy đã được thưc hiện từ năm 1967 dưới thời của Tư Lệnh Vùng 4,HQ Đại Tá Phùng Nhật Tân, K2, đến khi hoàn tất và nhận lãnh chiến đỉnh dưới thời Tư Lệnh,HQ Đại Tá Đặng Cao Thăng, K1 Brest. Quân số HĐ lúc đó có 71 người, gồm SQ và Đoàn Viên. 48 người được trang bị cho 8 Thủy thủ đoàn của 4 PCF.(Mỗi PCF có hai Thủy Thủ đoàn),số còn lại là những nhân viên ứng trực, nhân viên sửa chửa và người chờ bổ sung cho các Thủy thủ đoàn tương lai .. 
( Buổi lể bàn giao 4 PCF từ 3800 đến 3803 ngày 19 tháng 7 năm 1968tại cầu tàu )
An Thới.Phú Quốc.(tài liệu nguồn All Hands Nov.1968)
Sau khi nhận bàn giao,4 PCF mới nầy được lấy số từ HQ 3800 đến HQ 3803, các SQ Thuyền Trưởng cho Thủy thủ đoàn (1) theo thứ tự số tàu là HQTr/úy Huỳnh CôngPhuơng,HQTr/úy Văn Trung Thu,HQTr/úy Phùng Học Thông và HQTr/úy Nguyễn Văn Đông, tất cả thuộc K14, và các SQ Thuyền Trưởng của Thủy thủ đoàn (2) là HQTr/úy Lê Khánh Dư, HQTr/úy Lương Văn Phước,HQTr/úy Đặng Trọng Đính và HQTr/úy Phạm Đình Phùng, tất cả thuộc K15. Vùng tuần tiểu trách nhiệm là 2 vùng Market Time.Thủy thủ đoàn đi tuần 24 tiếng và nghỉ 48 tiếng, giống như tiêu chuẩn của PCF Division 101. Khoảng hơn tháng sau,cuối tháng 8 năm 1968 thì Hải Đội nhận lảnh thêm 2 PCF mark II tai HQCX Saigon. Hai PCF nầy được lái về An Thới và có số HQ 3804 ,HQ 3805. Thuyền Trưởng của hai PCF nầy là các anh HQTr/úy Lê Văn Quí K14, HQTr/úy Trương Minh Hoàng K14, HQTr/úy Vương Thế Tuấn K15, và HQ Th/úy DV Lê Văn Ngọ. Ch/úy DV Nguyễn Văn Tường là Thuyền phó trên 3805 sau đóTrong giai đoạn đầu, Hải Đội 4 chưa có người chánh thức đảm nhiệm chức vụ Hải Đội Trưởng, Tham Mưu Trưởng Vùng 4 là HQ Trung Tá Hà Văn Ngạc kiêm chức vụ nầy,từ năm 1968 và danh xưng Hải Đội là Hải Đội 4 Duyên Phòng. Chỉ Huy phó HĐ là HQĐ/úy Nguyễn Đình Lâm K12.Tháng 10 năm 1968, Hải Đội nhận lãnh thêm 2 PCF mark II tại Đà Nẳng và lái về Phú Quốc đó là hai chiến đỉnh HQ3806 và HQ3807 do HQTr/úy Nguyễn Văn Mạnh K13 và HQTr/úy Lê Như Bái K12 làm Thuyền trưởng. Hướng dẫn nhận lãnhlà HQ Đ/úy Nguyễn Đình Lâm K12. Cuối năm 1968,Hải Đội nhận lãnh thêm 4 PCF mark II tại Đà Nẵng,HQ3808,38093810 và 3811. HQTr/tá Hà Văn Ngạc đã hướng dẫn nhận lãnh 4 PCF này.Thuyền trưởng là Th/úy DV Nguyễn Văn Tường,HQ3808 soái đĩnh vì có Tr/tá Ngạc hiệndiện, HQTr/úy Ninh Duy Định K14,HQ3809,HQTr/úy Trương Công Hải,K14 HQ3810 và HQTr/úy Đỗ Sĩ Thạc K14,HQ3811
 ( Huy hiệu HĐ4DP (hình sưu tầm của anh Trương Văn Quang) Tháng 4 năm 1969,Hải Đội nhận lãnh 2 PCF mark I tại Saigon là các PCF có sốHQ3812 và HQ3813.HQTr/úy Vương Thế Tuấn,người hướng dẫn,Thuyền trưởngHQ3812., và HQTr/úy Đặng Trọng Đính, Thuyền trưởng HQ3813 Tháng 5 năm 1969, một số 88 người gồm các Đoàn viên và Sĩ Quan được Bộ Tư Lệnh Hải Quân gởi đến Hải Đội để được huấn luyện và sau đó được đưa đi Cát lở, Cam Ranh,Qui Nhơn,Chu Lai và Đà Nẳng theo chương trình START ( Swift TrainingAnd Rapid Turn Over on the job training ) cho đợt chuyển giao 49 PCF vào năm1970. Thời gian nầy,quân số của Hải Đội 4 được bổ sung,một cách nhanh chóng,để chuẩn bị nhận lãnh thêm PCF. Riêng số Sĩ Quan,có khoảng trên 50 SQ,đa số thuộc K17 được đưa đến HĐ để huấn luyện và các SQ K14 một số thuyên chuyển đi đơn vị mới và một số cùng với Sĩ Quan Khóa 15 được thuyên chuyển đến Vùng 3 Duyên Hải chờ tiếp nhận các Tuần Duyên Đỉnh WPB. Chỉ Huy Trưởng Hải Đội 4 Duyên Phòng lúc này là HQ Thiếu Tá Nguyễn Quang Tộthuộc K6. Chỉ Huy Phó HĐ, HQĐại úy Nguyễn Đình Lâm,kế tiếp HQĐ/úy NguyễnMinh Tú K14. ...A... ...B... Đầu năm 1970, để chuẩn bị cho cuộc Hành Quân sang Kampuchea , 5 chiếc WPBthuộc Hải Đội 3 Duyên Phòng là HQ720, HQ722, HQ723, HQ724 và HQ725 do các SQ thứ tự sau đây là Thuyền Trưởng : HQTr/úy Nguyễn Minh Hải K16,HQTr/úy Lý Thành Thông K16,HQTr/úy Nguyễn Văn Thịnh K15,HQTr/úy Liêu Chơn K15 vàHQTr/úy Trần Quốc Cường K15. Riêng về PCF, thì Hải Đội 4 lúc đó có trên 100 SQThuyền Trưởng và Thuyền Phó PCF. Hai đoạn còn chừa trống (A) và (B) là còn để tra cứu lại cho việc nhận lãnh các PCF 3814,3815PCF 3816,3817,3818.3819,3820,3821.Đó là giai đoạn trước khi HĐ4 tham dự hành quân sang Kampuchea.Do mới phát giác có sự mâu thuẩn trong tài liệu của swiftboats association , báocáo hàng tháng, tháng 6 năm 1969 của Navforv, cũng như tin tức ghi nhận từ các bạncho tình trang và số lượng chiến đỉnh PCF Trên là bản thảo cho phần Hải Đội 4 Duyên Phòng về Tiểu Sử,giai đoạn thành hình, giai đoạn lãnh các PCF,từng thời gian theo ngày, tháng, năm, tôi gởi trước cho các bạn xem và cho ý kiến, sửa chửa những sai sót trong sự việc và chi tiết.Phần này mớighi cho các bạn đọc trước chỉ 1/3 nội dung. Những mục kế tiếp như vùng hoạt động, tuần tiểu,hành quân.Những biến cố và những sự việc xảy ra cho các PCF.Thí dụ như vào những năm 1968,1969.Những cố gắng và những thử nghiệm đưa PCFvào sông Giang Thành và sông Cái Lớn của Hải Quân Hoa Kỳ trong giai đoạn đó đưa đến các PCF Việt Nam vào tuần tiểu,hành quântrong vùng sông Giang Thành và Kinh Vĩnh Tế đầu năm 1969 và vào sông Cái lớn sau đó khoãng tháng 3 năm 1969... Việc tuần tiễu,các vùng Market Time,trong giai đoạn đầu,1968-1969 đi tuần 24,nghỉ ngơi 48 tiếng cho đến những giai đoạn biệt phái Hà Tiên, Rạch Giá đi tuần” mút chỉ cà tha” như về sau các SQ thuyền trưởng đã nói. PCF không đũ nhiên liệu vì phải hiện diện trên biển thời gian lâu dài ( 3 đến 4 ngày) đưa đến phải neo tàu trên biển,ngày đêm, dẫn đến việc mất hiệu quả và rồi biến cố xảy ra cho PCF 3806,tàu bị cướp,Thuyền trưởng, Thuyền phó bị giết,Thủy thủ đoàn bị bắt Phần hai của bài suu tập nầy được tôi đánh trên Excel , danh sách của Thủy thủ đoàn các PCF từ 3800 đến 3926.Bảng danh sách nầy được cố gắng làm giống bảng danh sách của PCF Mỹ về hình thức nhưng điều nầy phải mất thêm một thời gian nửa. Phần ba là một bảng danh sách có đối chiếu với danh sách SQ thuộc Bộ Tư LệnhVùng 4 Duyên Hải.Danh sách của SQ Hải Đội phần này là tập trung để còn đối chiếu với các ghi nhận từ các bạn,và vì một phần chưa có tin tức là các vị Sĩ Quan này phục vụ trên PCF nào. Tôi cố gắng tìm và nhờ các bạn giúp tôi nhớ ra và tìm thật nhiều tên của các HSQvà Đoàn Viên, vì nếu chỉ có tên của các SQ mình thì nó không là Hải Đội. Vấn đề này chúng ta có cách nào không? Xin các bạn xem xong cho tôi ý kiến và nếu có gì sai sót thì xin bổ túc sửa dùm.Đây là tài liệu của các bạn và do các bạn mà có. Về hình ảnh tôi cố gắng đưa những hình ảnh thật sự của PCF Việt Nam và tuyệt đốikhông vẻ lại số từ một PCF khác, cho nên phần sưu tập hình ảnh nầy cần phải xin phép xử dụng. Xin các bạn giúp nếu có biết được ai còn giữ hình ảnh PCF/ HĐ4DP. Xử dụng tài liệu từ các nguồn :Monthly report của Navforv 1967 đến 1973,swiftboatsassociation,Coastal Squadron 1,Coastal Division11,PCF Division11,All Hands1968,Sea Classics..các websites swiftboats.net, swiftboats.org, pcf45... Vương Thế Tuấn
Publié le 21/02/2008 à 00:41
Par viensoinga
Hải Đội 4 Duyên Phòng và những kỷ niệm
Có thể nói Hải Đội 4 Duyên Phòng ( HĐ4 DP) là một trong những đơn vị đã đi tiên phong trong kế hoạch Việt Nam Hoá chiến tranh của Hải Quân Hoa Kỳ ( USN) cho Hải Quân/QLVNCH. Từ cuối năm 1967 thì các Sĩ Quan của hai khoá 14 và 15 sau một năm phục vụ tại các chiến hạm một số lớn đã được thuyên chuyển ra Phú Quốc tức Bộ Chỉ Huy Hải Quân Vùng 4 Duyên Hải (BCH/HQ/V4/ZH) lúc này còn gọi là BCH chưa nâng lên thành BTL như sau này để được huấn luyện cho việc chuẩn bi cho việc thành lập HĐ4 DP. Nhóm 4 chiến đỉnh đầu tiên được đánh số từ HQ 3800 đến HQ 3803 đã được chuyển giao cho HQVN tại An Thới (Phú Quốc) vào ngày 19 tháng 7 năm 1968 do các SQ khoá 14 làm thuyền trưởng là những PCF đầu tiên của HQVN nhận trách nhiệm 2 vùng tuần tiểu (market time) chung quanh đảo Phú Quốc, còn hầu hết các vùng tuần tiểu ở vịnh Thái Lan vẫn do các WPB và PCF của HQHK đảm trách.Lúc này thì Hải Đội vẫn chưa có hậu cứ cũng như danh xưng , chỉ có tên tạm là Phân Đoàn PCF . Tháng 5 năm 1968 sau khi Duyên Đoàn 45 giải tán tôi được thuyên chuyển về lại BCH/V4/ZH để cùng với các SQ khoá 15 , 14 ,13 và 12 mới tân đáo vùng để tham dự một chương trình huấn luyện về lý thuyết cuả PCF do HQ Trung Uý Trầm Hữu Tạo K 14 lúc bấy giờ là SQ huấn luyện của vùng 4 Duyên Hải đảm trách về thực hành thì do một viên Trung Úy của HQHK nguyên thuyền trưởng PCF đảm trách. Viên sĩ quan Mỹ trẻ điển trai đã tận tình huấn luyện cho chúng tôi từ cách mưu sinh ngoài biến, cách vớt người , rồi thực tập tác xạ 50 ly bằng điện, bích kích pháo bắn bằng cò, cách cập cầu và tách bến, vì năng động trong khoá học cho nên anh ta đã có cảm tình đặc biệt đối với tôi. Riêng cá nhân tôi thì chiếc PCF tuy nhỏ nhưng được trang bị những dụng cụ hải hành tối tân như radar, máy đo chiều sâu và vận tốc thì tuyệt vơì lên đến 20 knots/giờ, rất thích hợp với tuối trẻ của chúng tôi vì từ bấy lấu nay chúng tôi chỉ làm quen với những chiến hạm từ hồi đệ Nhị Thế Chiến vừa cũ kỹ, vừa chậm chạp. Ngày xưa khi còn trong quân trường thầy Lê Phụng đã có lần đề cập tới chiếc Swift Boat này ông đã từng nói với chúng tôi rằng: -Tôi ước gì các anh sau này được làm thuyền trưởng một cái Swift boat như ông Thiếu Úy Mỹ họ chạy rẽ sóng trên Sông Hàn. Bây giờ thì tôi đang thực hiện những điều ước mơ của ông và ngay cả cho chính tôi. Đây có thể nói là những bước căn bản đầu cho cuộc đời làm Hạm Trưởng sau này của tôi. Tháng 8 năm 1968 tôi đã cùng với các thuyền trưởng K14 là các anh: Trương Minh Hoàng, Lê Văn Quí do anh Phùng Học Thông làm trưởng toán để về Sài Gòn lãnh hai chiếc PCF Mark II có danh hiệu là HQ 3804và 3805. Đưọc về SàiGòn đã làm tôi thích thú vì từ trước Tết Mậu Thân tới giờ tôi chưa có dịp về lại SàiGòn. Cũng giống như 4 chiếc được bàn giao tại An Thới trước đây, các quân trang quân dụng của 2 PCF này được đóng trong 2 thùng lớn đã đợi chúng tôi ở cầu E trong HQCX. Sau một tháng kiểm kê và thử máy 2 chiếc PCF của chúng tôi đã rời SàiGòn để về lại An Thới trong một ngày biển rất động. Đây là dịp để chúng tôi kiểm nghiệm lại những gì đã học đồng thởi để thử sức của mình trước sóng gió. Biền rất đồng ngay từ lúc rời Vũng Tàu , hai chiếc PCF vẫn lao đi với vận tốc 18 knots/giờ. Ngồi lái phải buộc seat belt vì sức sóng đập rất mạnh khiến người muốn tung ra khỏi ghế, những đợt sóng lớn đội hẳn PCF lên rồi lại rơi xuống trên các ngọn sóng kê tiếp tạo ra những cái dằn làm ruột gan đảo lộn, tức ngực, nhưng nhờ tuổi còn trẻ, sức chịu sóng cao nên chúng tôi đã chịu đựng suốt 12 tiếng đồng hồ để đem 2 chiếc HQ 3804 và HQ 3805 về Hải Đội an toàn. Cuối năm 1968 Hải Quân Hoa Kỳ thuộc Coastal Squadron 11 và PCF Division 101 đồn trú trên đảo Phú Quốc bắt đầu bàn giao những căn cứ cuả họ lại cho HQVNCH . Kể từ đó hải đội mới có bản doanh và danh xưng BCH/HĐ4/DP mới chính thức ra đời . HQ/Thiếu Tá Hà văn Ngạc TMT BTL/HQ /V4/ZH được chỉ định làm Hải Đội Trưởng HD4/DP; còn chức vụ TMT của ông này đã được trao lại cho HQ/ Thiếu Tá Trịnh kim Thanh người cùng khoá 5 với ông và dường như Thiếu Tá Ngạc không hải lòng lắm về việc này. Riêng chúng tôi thì cũng không lấy gì làm vui khi phải rời khu cư xá độc thân với phòng ốc đàng hoàng, mái ngói mát mẻ để sang tiếp nhận khu nhà tiền chế vừa nóng bức vừa thiếu tiện nghi. Sau đó Hải Đội đã nhận thêm nhiều chiến đỉnh mới và đảm nhận tất cả những vùng market time của vùng 4 Duyên Hải. Từ cuối năm 1968 do sự biến động của chiến trường Kampuchea , HĐ4DP đã phải đảm trách thêm việc tuần tiểu sông Giang Thành (Hà Tiên) và Kinh Vĩnh Tế dọc biên giới Miên Việt. Bắt đầu từ đây viêc tuần tiểu cuả các chiến đỉnh thuộc HĐ4 DP không còn được nghỉ ngơi nhiều như trước nữa, ngày đi tuần thường bị kéo dài thêm và ngày nghỉ bến đã bị rút ngắn lại cho nên các thủy thủ đoàn rất mệt mỏi. Sau biến cô Mậu Thân việc đi phép của các quân nhân không riêng gì Hải Quân đã rất là khó khăn, nay lại thêm đơn vị tân lập thì việc đi phép là một điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ tới. Kể cũng tội nghiệp cho đám SQ độc thân như chúng tôi đang ở độ xuân thì mà phải neo tuổi vàng nơi Hải Đảo, thiếu bóng mỹ nhân. Cho nên nhóm SQ trẻ như chúng tôi coi việc được qua Rạch Gía cũng mãn nguyện lắm rồi. Rạch Giá là một tỉnh phía Bắc ráp ranh với Kampuchea, phía nam ráp đặc khu U Min, phía Tây với vịnh Thái Lan. Thị xã Rạch Gía tuy nhỏ những đã để cho tôi nhiều kỷ niệm nhất chỉ sau có Sài Gòn vì trước khi về HĐ4DP tôi đã biết nhiều về thị xã này nhờ vào thời gian tôi làm việc ở Duyên Đoàn 45 đóng tại Xẻo Rô, Kiên An tỉnh Rạch Giá. Biết tôi là người có ít nhiều kinh nghiệm ở vùng sông rạch này cho nên vào một đêm Thiếu Tá Ngạc lúc đó còn làm TMT/V4/ZH đã bất ngờ gọi tôi lên và cho biết ông muốn lấy chiếc PCF HQ 3805 do tôi làm thuyền trưởng để đưa ông bất thần vào thăm viếng BCH/Liên Duyên Đoàn 1(BCH/LDĐ1) đóng tại Kiên An Tỉnh An Giang. Ông ra lệnh cho tôi phải tuyệt đối giữ im lặng vô tuyến trên suốt hải trình cũng như không thông báo cho Liên Duyên Đoàn 1 biết việc ông vào thăm viếng. Sờ dĩ ông đã có quyết định này là đề phòng nội tuyến đối với các nhân viên truyền tin thuộc BCH/LDĐ1, vì theo kinh nghiệm của ông thì mỗi khi CHT/V4/ZH hoặc ông vào thăm viếng BCH/LDĐ1 đều có đánh công điện báo trước và y như rằng những lần ấy ghe của CHT/vùng đều bị bằn sẻ ở sông Cái Lớn trước khi vào tới BCH/LDĐ1. Tối hôm đó chiến đĩnh của tôi đã sẵn sàng để đưa TMT qua LDĐ1. Biết là cửa sông rất cạn ngay cả ghe chủ lực nhiều hôm cũng bị mắc cạn cho nên việc đưa một PCF vào cửa sông sẽ gặp khó khăn cho nên khi tới Hòn Tre, tôi đã cho dảm máy dần và cho máy đo chiều sâu chạy liên tục, độ sâu càng lúc càng dảm, hai maý chỉ còn chạy khoảng 800 RPM, radar đã bắt được mép của miệt thứ, rồi cửa sông Cái Lớn đã hiện trên màn ảnh radar. Tôi cho nhân viên vào nhiệm sở tác chiến, đèn hải hành đều được tắt và chiến đỉnh trong tình trạng darken Ship trước khi vào sông Cái Lớn, máy đo chiều đã cho biết độ sâu đã gia tăng. Tôi cho máy tăng dần, radar đã bắt được hai bờ của sông Cái lớn, hai máy đã tăng lên 1600 rpm chiếc PCF cất cao mũi tiến nhanh về phiá trước, những tàng dừa nước đen thẫm hiện ra ở bờ sông phiá hữu chiến đỉnh, chúng tôi đã tới được hàng đáy đây là chỗ vẫn thường bị VC phục kích trong bờ bắn ra. Chiếc PCF hùng dũng như một kỵ mã đi vào dòng sông. Sông Cái Lớn là trục giao liên quan trọng của VC với mật khu U Minh, do đó tôi cũng hy vọng vào lúc nửa đêm như vầy thì chúng tôi có sẽ nhiêu cơ hội để có thể tóm được những chiếc xuồng ba lá giao liên của chúng. Ánh đèn điện của căn cứ Liên Duyên Đoàn 1 đã hiện ra tôi cho dảm máy đồng thời gọi máy báo cho biết PCF của chúng tôi sắp vào căn cứ. Tôi cho chiến đỉnh vào cặp cầu tàu của căn cứ , Thiếu Tá Hà Văn Ngạc bước lên cầu tàu trước sự ngạc nhiên của các các Sĩ Quan thuộc hai duyên 43 và 44 . Tôi vui mừng vì được gặp lại các anh Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Ngọc Gia Khoá 12 là CHT của các duyên đoàn 43 và 44 , các anh Vũ Trọng Dụng, Mai Văn Toàn khoá 14 là CHP và Sĩ quan đệ tam là các bạn Ngô Như Chương, Nguyễn Anh Minh cùng khoá 15. Đây cũng là dịp để các anh ấy có dịp thăm viếng một PCF Mark II với các phương tiện và hỏa lực tối tân. Khoảng hơn một tiếng thì Thiếu Tá Ngạc ra lệnh cho tôi tách bến để ra về vào lúc nửa đêm về sang… Sau chuyến đi này thì Thiếu Tá Ngạc cỏ vẻ tin tường tôi hơn và ông thường trao cho tôi những công tác đặc biệt. Tôi còn nhớ vào khoảng tháng 11 năm 1968 chiến đỉnh của tôi đã được ông chỉ định để đưa Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Chính Phủ Đại Tướng Trần Thiện Khiêm ra hòn Móng Tay câu cá. Thủy thủ đoàn PCF 3805 chúng tôi cũng cảm thấy hãnh diện khi được cấp trên trao cho một trọng trách như vậy. Hôm đó trên cầu tàu của BCH/HQ/V4/ZH trước sự hiện diện của Đề Đốc Trần Văn Chơn Tư Lệnh HQ , CHT/V4/ZH HQ Trung Tá Đặng Cao Thăng dĩ nhiên có cả CHT/HĐ4 HQ Thiếu Tá Hà Văn Ngạc, chiếc PCF 3805 đã tách bến thật nhẹ nhàng và nhanh nhẹn để đưa nhị vị nguyên thủ quốc gia. Trong phòng lái, phiá bên trái của tôi là Tổng Thống Thiệu , còn phiá bên phải trước máy đo chiều sâu và radar là Thủ Tướng Khiêm. Tôi đã thận trọng lái chiến đĩnh và cảm thấy vô cùng hãnh diện vì một Sĩ Quan cấp uý như tôi lại có thể tiếp cận được các vị nguyên thủ quốc gia như vậy. Bỗng Tổng Thống quay qua hỏi tôi: - Trung Úy từ đây ra hòn Móng Tay mây hải lý ? Tôi trả lời : - Thưa Tổng Thống khoảng 10 hải lý. Rồi Tổng Thống lại hỏi tiếp : - Vậy bao lâu mình ra tới đó? - Dạ thưa Tổng Thống khoảng nửa tiếng. Tôi ngac nhiến khi thấy Tổng Thống biết dùng compa để lấy khoảng cách bằng hải lý ở bên lề của hải đồ như Hải Quân để đo khoảng cách của hòn Móng Tay. Hình như đoán được ý của tôi ông đã lên tiếng: - Hồi xưa tôi đã từng học hàng hải nhưng say sóng quá nên đã bỏ cuộc. Khi ra tới hòn Móng Tay thì đã có sẵn chiếc soái thuyền của CHT/HQ/V4/ZH chờ sẵn với một số cận vệ người nhái ở trện đó , sau khi hai vi nguyên thủ qua soái thuyền để câu cá thì chiếc của tôi lãnh trách nhiệm tuần tiểu trong suốt thời gian hai vị câu ở đây. Ngoài ra còn chiếc Tuần Duyên Hạm “ Hòn Trọc” HQ 618 để nhi vị nguyên thủ quốc gia sẽ nghỉ qua đêm ở ngoài khơi. Tối hôm đó Tổng Thống có nhã ý mời chúng tôi lên để cùng ăn cớm tối với Tổng Thống. Sau khi bước lên chiếc HQ 618 thì tôi đã thấy một bàn ăn trải khăn trắng được thực hiện ở sân sau của chiến hạm. Ngoài ra trên đây là cả một BCH lưu động của Tổng Thống gồm một dàn máy truyền tin có thế liên lạc trực tiếp với các vùng chiến thuật. Ban nội dịch từ Phủ Tổng Thống ra duới quyền chỉ huy của một Trung Tá để lo việc ăn uống cho Tổng Thống. Nhà bếp của chiến hạm được đặt dưới sự xử dụng của ban nội dịch và không một nhân viên nào của chiến hạm được lai vãng trong suốt thời gian này. Tối hôm đó Tổng Thống đã đãi chúng tôi một bữa cơm ragu thịt heo nấu với đậu green bean và lave. Hằng ngày vẫn phải ăn cơm gạo xấy và thịt hộp tối nay được ăn cơm “ Vua” ngon như vầy chắc chẳng bao giờ tôi quên được bữa ăn đêm đó. Mùa này là mùa cá thu ở Phú Quốc, muốn câu cá thu thì phải câu bằng mồi chạy, cho nên hai vị nguyên thủ ngồi ở sáu lái chỉ việc thả câu trong khi ghe vẫn chạy, mỗi lần cá cắn câu tôi thấy Tổng Thống chỉ việc giựt một cái tức thì anh người nhái ngồi kế bến thoăn thoát kéo cá về ghe rồi để vào những thùng gỗ nguyên là những thùng đựng đạn bích kích pháo. Sau này những thùng cá do hai vi câu được đã chuyển qua chiến đỉnh cuả tôi để đưa vào bờ mà tôi đã đọc được những tấm thiệp ghi như sau : “Của Tổng Thống VNCH tặng Đại Sứ các nước bạn”. Sau chuyến công tác đạc biệt này, khi vào bờ tôi đã được HQ Thiếu Tá Trần thanh Điền lúc đó là Sĩ Quan Tuỳ Viên của Tổng Thống trao cho tôi một phong thư khoảng 10,000 đồng tiền VN để thủy thủ đoàn HQ 3805 ăn liên hoan và riêng tôi là thuyền trưởng được Tổng Thống tặng một hộp quẹt Zippo với hàng chữ “ Tổng Thống VNCH thân Tặng” với chữ ký cuả ông bên dưới. Lại một cái tết nữa xa nhà , Tết Kỷ Dậu (1969) chúng tôi đang hành quân ở Hà Tiên nhìn cảnh thiên hạ đón xuân lòng tôi không khỏi bùi ngùi nhớ những ngày têt năm xưa bên gia đình. Nay với đời lính và cuộc chiến mỗi ngày một gia tăng thì chuyện đi phép đã khó nói chì chuyện ăn tết với gia đình lại còn khó hơn. Giữa lúc như vầy thì tôi nhận được công điện cho tất cả thuỷ thủ đoàn PCF 3805 của tôi được rời vùng công tác để về hậu cứ. Hôm sau tôi lên trình diện CHT/HĐ thì được HQ Th/Tá hà Văn Ngạc cho biết tôi được chỉ định làm trưởng toán để đưa 2 thuỷ thủ đoàn về SàiGòn nhận lãnh 2 chiếc PCF Mark I. Tôi biết đây là một sự tin tưởng đặc biệt mà CHT đã dành cho tôi trong lúc tất cả mọi nhân viên của Hải Đội đang bận rộn với những cuộc hành quân dọc theo biên giới Miên Việt. Mấy hôm sau thì cả hai thuỷ thủ đoàn đã có mặt tại SàiGòn để trình diện BTL/HQ/P3, tuy nhiên vì HQHK chưa sẵn sàng chuyển giao chiến đỉnh nên những ngày đó chúng tôi được tự do như đi phép vậy. Sau một tuần được vui chơi ở SàiGòn, cuối cùng phía HQHK cho biết 2 chiếc PCF đang chờ chúng tôi ở cầu Avalanche. Sáng hôm đó BTL/HQ/P3 đã trao cho tôi 2 chìa khoá của hai chiến đỉnh này. Chiếc thứ nhất do tôi làm thuyền trưởng có số HQ 3812, thủy thủ đoàn gồm thuyền phó Thiếu Úy Nghiêm Dõan Minh K16, Trung sĩ 1 CK Nhu, Hạ Sĩ vô tuyến chương , Hạ sĩ 1 Trọng Pháo Hồng và một Hạ Sĩ Vận Chuyển tôi không nhớ tên, chiềc thứ 2 có số HQ 3813 do HQ Trung Úy Đặng Trọng Đính làm thuyền trưởng. Khác với những lần bàn giao trước chúng tôi không nhận các quân trang quân dụng mới tinh mà chỉ là các trang thiết bị cũ, ngoại trừ chăn mền là mới tất cả được chất ở trong khoang chiến đỉnh và khoá lại. Mỗi ngày chúng tôi kiểm kê một ít và đến cuối ngày thì khoá cửa lại, chúng tôi làm như vậy trong 2 tuần thì xong. Riêng Hạ Sĩ Trong Pháo Hồng có hoa tay nên đươc trao nhiệm vụ kẻ số tàu cho 2 chiếc. Đến tuần lễ thứ 3 thi BCH/HĐ4/DP bắt đầu hối thúc chúng tôi sớm đưa 2 chiến đỉnh về căn cứ. Hôm nay chúng tôi chạy thử máy đường trường, máy móc các loại đều được khởi động, hai chiếc bắt đầu tách bến từ cầu Avalanche để chạy ra Nhà Bè. Loại Mark I này phòng lái tuy chật hẹp nhưng dáng trông thon thả và ít cản gió hơn loại Mark II. Chúng tôi ra tới kho 5 thi bắt đầu tăng máy, hai chiếc rẽ sóng chạy ra sông Nhà Bè đang phăng phăng lướt sóng thì chúng tôi ngửi thấy mùi khen khét; cả hai chúng tôi cùng dảm máy thì thấy khói bốc ra ở ống bô phiá sau của 2 chiến đỉnh. Tuy nhiên các đồng hồ nhớt và máy chánh vẫn bình thường, chúng tôi cho mở nắp hàm máy thì một luồng khói đen cùng vớí mùi cao su bị cháy toả ra khen khét. Đợi cho khói bớt đi chúng tôi lần mò tới chỗ phát ra khói thì mới vỡ lẽ hai ống cao su nối liến với ống bô phiá sau đã bị dộp lên do sức nóng của máy chánh thải ra nhưng không có nước làm nguội. Lúc này chúng tôi mới phát hiện chiếc valve để cho nước làm nguội đã bị khóa nên nước đã không phun ra đó là nguyên nhân. Khi chiến đỉnh cập bến tôi đã mở lệnh công tác để nhờ HQCX thay thế cho những ống cao su này đồng thời báo về BCH/HĐ/4DP về những hư hỏng của việc máy đường trường. Cũng vì việc sửa chữa này đã cho chúng tôi được ở SàiGòn thêm một tuần. Hôm nay tôi lên BTL/HQ/P3 để báo cáo chúng tôi đã hoàn tất công tác và chuẩn bị hôm sau lên đường. Trưởng phòng 3 là HQ Đại Tá Hiệp cho tôi biết tình trạng biển 0 rất tốt để ra khơi. Quả đúng như vậy biển thật êm hai chiếc PCF của chúng tôi đã lướt sóng như những con kình ngư với vận tốc 20 knots/giờ. Chuyến hải hành về hậu cứ của chúng tôi thật tốt đẹp và đã được sự nghênh đón từ Mũi Ông Đội của các chiến đỉnh bạn, chúng tôi quả đã may mắn vì không vất vả như lần lãnh hai chiếc 3804 và 3805 hồi năm ngoái. Với việc lãnh hai chiến đỉnh ở SàiGòn tuy tầm thường những vào thời điểm đó quả là một diễm phúc cho chúng tôi để được bên người yêu, bên người thân, được hàng ngày dạo phố hoặc la cà ở các phòng trà. Chúng tôi đã may mắn hơn các bạn cùng đơn vị vì họ đang ngày đêm phải tuần tiểu ngoài biển cả hoặc trên sông Giang Thành, kinh Vĩnh Tế với đầy những bất trắc. Nhân đây tôi xin một phút để tưởng niệm tới hai vị chỉ huy của tôi trong thời điểm đó mà tôi vô cùng kính mến. Trước nhất là Cố Đề Đốc Đăng Cao Thăng Tư Lệnh Vùng 4 Zuyên Hải với bài viết có ít nhiều liên quan tới Hải Đội 4 duyên Phòng như môt lời hứa mà tôi muốn giữ với ông khi ông còn sinh tiền. Kế tới là cố HQ Đại Tá Hà văn Ngạc CHT/HĐ4/DP ngươì đã tin tuởng và đã trao cho tôi những trọng trách tuy nhỏ bé ngày đó nhưng ngày nay đả trở thành những kỷ niệm vô gía trong cuộc đời hải nghiệp của tôi. Một ngày muà đông Cali, Vương Thế Tuấn
 |