iBLOG précédent iBLOG suivant



Publié le 20/02/2008 à 23:13
Par viensoinga

Toán Biệt Hải đổ bộ lên đảo Hoàng Sa trong cuộc hải chiến ngày 19-1-1974
Monday, February 18, 2008

Ðể tưởng nhớ Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng và các anh linh chiến sĩ VNCH đã tử trận trong cuộc hải chiến Hoàng Sa

Cuộc hải chiến Hoàng Sa đến nay đã trên 33 năm với thời gian và tuổi tác có khi người viết đã không còn nhớ hết được tất cả sự việc xảy ra lúc đó. Kính mong quí hạm trưởng và những người tham dự sẵn lòng bỏ qua. Ðồng thời xin được bổ sung những điều còn thiếu sót trong bài viết.

Phần I: Tường thuật của Biệt Hải Nguyễn Châu

Sau khi chương trình Việt Nam hóa chiến tranh được thành hình thì Trung Ðội Dân Sự Chiến Ðấu đóng ở trên đồi Hoa Sim được giải tán. Trung Ðội này trước đây chuyên lo phụ trách về vấn đề phòng thủ an ninh những nơi như Bộ Chỉ Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVDH/NKT/BTTM), Căn Cứ Trần Hưng Ðạo của Lực Lượng Hải Tuần và Trại 9 của Lực Lượng Biệt Hải (còn gọi là Blackrock). Ðồi Hoa Sim sau đó được chuyển giao cho các toán Biệt Hải, còn Trại 9 của Biệt Hải ở Sơn Trà thì được Bộ Chỉ Huy Biệt Hải bàn giao lại cho các Chiến Ðoàn Công Tác, thuộc Nha Kỹ Thuật/BTTM trú đóng.

Từ trong ngã ba Tiên Sa (Ðà Nẵng) đi ra, vừa qua khỏi trạm gác Ðài Kiểm Báo Không quân (còn gọi là Cầu Trắng) là trông thấy căn cứ Ðồi Hoa Sim, được đặt trên một mỏm núi khá thấp, nằm về bên phải và cách Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải của Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại một con đường. Trước đây, Phó Ðề Ðốc Thoại đã từng là Chỉ Huy Trưởng của Sở Phòng Vệ Duyên Hải khi còn ở cấp bậc đại tá. Trái ngược với một số tin tức bên ngoài đơn vị cho rằng Lực Lượng Biệt Hải (LLBH) đã được giải thể khi Hoa Kỳ rút quân về nước năm 1972, thực tế đã cho chúng ta thấy rằng sau khi được dời về trú đóng trên Ðồi Hoa Sim, các công tác hoạt động của Lực Lượng Biệt Hải vẫn còn tiếp tục và trực thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải/Nha Kỹ Thuật cho đến ngày cuối cùng. Bằng chứng là sau ngày đi công tác Hoàng Sa về ngày 10-4-1974, tôi nhận được văn thư của Sở mang số 0259/TTM/NKT/SPVDH/CTCT, tuyển chọn tôi (Nguyễn Châu) trong số 132 chiến sĩ xuất sắc nhất của QLVNCH trên toàn quốc để về thủ đô Sài Gòn tham dự ngày Quân Lực 19-6-1974.

Trở lại việc Biệt Hải tham chiến Hoàng Sa, trong thời gian tôi đang nghỉ phép vào một buổi sáng đẹp trời thì nhận được lệnh từ Bộ Chỉ Huy Biệt Hải nhắn, cho biết phải cấp tốc trở về trình diện đơn vị gấp để chuẩn bị đi công tác. Kinh nghiệm trước đây cho tôi biết mỗi lần được gọi khẩn cấp như thế này thường là những công tác hết sức khó khăn, chẳng hạn như chuyến đi cứu các phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi tại sông Cam Lộ, Quảng Trị-Ðông Hà vào tháng 4 năm 1972 trong Mùa Hè đỏ lửa. Lúc đó, toán của tôi chỉ có năm, sáu người nhưng đã phải len lỏi qua mặt mấy Sư Ðoàn Bắc Việt đi vào địa điểm công tác để đưa được hai phi công Hoa Kỳ trở ra an toàn, mãi cho đến nay vẫn còn hú vía! Sau khi nhận được tin lòng tôi cứ thấp thỏm suy nghĩ, không biết chuyện gì đã xẩy ra? Tôi vội mang quần áo, hôn phớt các con rồi từ giã bà xã lặng lẽ ra xe. Khi vào đến trại thì mới biết anh em trong toán đang chuẩn bị súng đạn xuống tàu để ra công tác Hoàng Sa trong vài giờ tới.

Chuyến đi này tổng cộng có 24 nhân viên Biệt Hải, trong số đó có Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải Thiếu Tá Hồ Xuân T., Trưởng Toán Nguyễn N. và tôi, toán phó kiêm tiền sát viên toán, tất cả đều trang bị toàn súng AK-47. Ngoài ra, mỗi người còn được phép mang thêm mấy khẩu M-72. Ðược biết chiếc HQ-4 Trần Khánh Dư sẽ phụ trách chở toán Biệt Hải của chúng tôi tới địa điểm công tác. Trong khi toán nhận lệnh đi Hoàng Sa thì tôi không có mặt ở trong trại. Do đó, trước khi sắp sửa lên xe, tôi được Chỉ Huy Trưởng T. và Trưởng Toán N. cho biết sơ qua tình hình trên các hải đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ðược biết trên các hải đảo này hiện đang có một Trung đội Ðịa Phương Quân và một số chuyên viên khí tượng của VNCH trú đóng. Lần này, toán Biệt Hải nhận lệnh đổ bộ để lấy lại chủ quyền và kiểm soát các vị trí trên đảo, nơi đang có những đơn vị của Hải Quân Trung Cộng chiếm giữ.

Chiếc Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 do Hạm Trưởng Vũ Hữu San được lệnh khởi hành, rời bến tàu Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải vào sáng sớm hôm đó. Ðến xế chiều thì vị trí của tàu không còn cách xa hải đảo Hoàng Sa là bao. Nghĩa là hiện chiếc HQ-4 đang nằm trong phạm vi của nhóm đảo Cam Tuyền và Quang Hòa. Vào buổi chiều cùng ngày, 17 tháng Giêng năm 1974, Khu Trục Hạm HQ-4 đã bắt gặp 2 giang thuyền của Hải Quân Trung Cộng, đang giả dạng làm các ghe thuyền đánh cá. Trên đài chỉ huy, Hạm Trưởng liền cho tàu chạy đến gần để tìm cách kiểm soát. Trong khi đó toán Biệt Hải cùng một số thủy thủ, tất cả đứng trên thành tàu chăm chú theo dõi đều nhận thấy 2 giang thuyền Trung Cộng có nhiều điểm đáng nghi ngờ. Ngay lúc đó, Ðài Chỉ Huy trên HQ-4 phóng loa kêu gọi 2 giang thuyền Trung Cộng ngừng lại nhưng họ vẫn tỉnh khô và phớt lờ! Trong ý tưởng của anh em Biệt Hải lúc ấy rất muốn được cấp trên cho phép nhảy xuống để làm phận sự lục soát các giang thuyền này, tương tự như những chuyến Loky soát ghe bắt người tại vịnh Bắc Việt trước đây.

Lúc này, chiếc HQ-4 và một chiếc giang thuyền của Trung Cộng đều đã chạy chậm lại, khoảng cách cuối cùng cách nhau không quá một thước! Tuy nhiên, lệnh của Hạm Trưởng không cho anh em nhảy xuống tầu Trung Cộng lục soát. Bất thình lình, một con sóng lớn ập đến khiến hai chiếc tàu húc mạnh vào nhau. Chiếc tầu của Trung cộng thấp hơn nên lan can tầu của chúng bị hư hại khá nặng. Do đó, các thủy thủ Trung Cộng dưới tàu nổi nóng, một số xắn cao tay áo, còn một số thì cởi hẳn áo ra vất xuống sàn tàu, ra dấu thách thức thủy thủ và toán Biệt Hải chúng tôi nhảy xuống đánh tay đôi với chúng. Ðứng trên tàu, toán Biệt Hải thấy vậy liền cởi áo và kêu gọi đám thủy thủ Trung Cộng ở dưới tầu trèo lên nếu chúng muốn đọ sức. Ðây là màn khẩu chiến đầu tiên trong buổi chiều hai bên gặp nhau! Sau đó, chiếc HQ-4 và giang thuyền Trung Cộng tiếp tục tìm cách chạy ghìm nhau một lúc lâu mới dứt.

Hôm sau, ngày 18-1-74 lúc xế trưa, toán Biệt Hải gồm 24 người, có cả Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải đi theo, tất cả súng đạn đầy đủ nhận lệnh xuống 3 chiếc hobo thẳng hướng chạy vào đổ bộ lên đảo Cam Tuyền (Robert). Sau khi đi lục soát một vòng không thấy có quân Trung Cộng trú đóng, toán Biệt Hải đã khám phá và tịch thu được một lá cờ của Trung cộng hơi cũ, cùng một tấm bảng chủ quyền viết bằng chữ Hán, nét mực còn mới cắm trên đảo trước khi toán Biệt Hải đổ bộ vào. Ngoài ra, không còn thấy dấu vết gì khác, ngoại trừ những cây cối lưa thưa mọc cao không quá đầu người và một số cỏ gai nhọn chết khô lâu ngày, được gió biển cuốn tròn nằm lăn lóc trên mặt đất san hô và vô số phân chim! Tất cả những chi tiết trên đảo đã được vị Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải thông báo ra cho Hạm Trưởng ngoài tầu biết. Sau khi toán Biệt Hải đi ra và lên hết trên tầu rồi thì một số anh em Hải Quân lại được lệnh đổ bộ vào để canh giữ đảo Cam Tuyền. Chiếc HQ-4 được lệnh tiếp tục chạy sang hải phận của đảo Quang Hòa (Duncan). Suốt đêm đó, trên tầu đã cho mở nhiều bản nhạc hùng ca, toàn lời hay ý đẹp như để nhắc nhở bổn phận của người lính Hải Quân/QLVNCH phải hết sức giữ gìn lãnh hải và hải đảo Hoàng Sa do tiền nhân để lại, dù có phải hy sinh tánh mạng đã làm nức lòng người nghe, trong đó có toán Biệt Hải chúng tôi.

Sáng sớm ngày 19 Tháng Giêng năm 1974, lúc 5 giờ 40 sáng, toán Biệt Hải tiếp tục nhận lệnh đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan). Toán Biệt Hải của chúng tôi đã vào được đến bờ nhưng trời còn tối nên tất cả được lệnh nằm trên bờ biển chờ trời sáng. Phần lính gác Trung Cộng có lẽ không ngờ toán Biệt Hải đổ quân ban đêm nên không để ý và không hay biết gì cả. Trước khi xuống thuyền vào đảo, chúng tôi được cấp trên cho biết trên đảo hiện đang có quân Trung Cộng trú đóng. Ðến nơi, thừa lúc trời còn tối, tôi liền dẫn vài anh em đi một vòng lục soát trong phạm vi của toán, để có gì khi đụng trận sẽ dễ dàng bảo vệ nhau hơn. Lúc 7 giờ 30 sáng, khi mặt trời hướng Ðông bắt đầu ló dạng, tôi, trong nhiệm vụ tiền sát đi đầu mon men dò dẫm đã phát giác ra được một giao thông hào do quân Trung cộng đào sẵn. Tôi tiếp tục dẫn toán đi lên, nhưng vừa đi được khoảng 60 hoặc 70 thước thì gặp quân của Trung cộng đang đứng chận đầu. Hai bên thấy mặt nhau nhưng không bên nào nổ súng! Phía trước mặt, hiện chúng tôi đã nhận diện được quân số của Trung Cộng khá đông, tất cả chúng đều nằm dưới các hầm phòng thủ trong tư thế sẵn sàng tác chiến, chăm chú nhìn chúng tôi ra vẻ nghi ngờ, không biết chúng tôi là phe nào? Lý do là vì cách trang phục của toán Biệt Hải hao hao giống bộ đội du kích Bắc Việt, kể cả vũ khí trang bị.

Khi khoảng cách hai bên cách nhau không tới 4 mét thì vào lúc này, một số cấp chỉ huy và lính Trung Cộng rời hầm phòng thủ vừa đi ra, vừa nói bằng tiếng Hoa và đồng thời lấy tay ra dấu đuổi toán Biệt Hải chúng tôi rời khỏi phạm vi hải đảo. Ý chúng muốn nói đảo Quang Hòa thuộc chủ quyền của Trung cộng, muốn chiếm thì đi sang đảo khác! Ngược lại, toán Biệt Hải của chúng tôi cũng ra dấu đáp trả, ý nói đảo nầy thuộc chủ quyền của VNCH, quân Trung cộng phải rời khỏi đảo. Một bên tiếng Tầu, một bên tiếng Việt, lúc đầu không ai hiểu ai. Có lúc lời qua tiếng lại rất hăng, hai bên đã quơ tay đụng nhau. Rất may, trong toán Biệt Hải có một người Việt gốc Hoa tên Trần A Lộc, nói và hiểu được tiếng Hoa sành sỏi đứng ra thông dịch. Nãy giờ, hai bên đứng khẩu chiến với nhau đã gần một tiếng. Tình thế lúc bấy giờ hết sức căng thẳng, nhất là quân Trung Cộng nhờ sự thông dịch biết được toán Biệt Hải chúng tôi đang đứng trước mặt quyết tâm dành lại chủ quyền trên đảo của chúng. Một số lính Trung Cộng liền có thái độ rất hung hăng, nhưng rất may cuộc chạm súng của đôi bên đã không xẩy ra. Nếu không, sự thiệt hại của Biệt Hải chắc chắn không phải là nhỏ. Thấy vậy, Trưởng Toán N. liền hội ý với vị Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải và ông đã gọi ra tầu, báo cáo cho Hạm Trưởng để trình bày sự việc. Ngoài tầu lệnh cho toán Biệt Hải rút lui. Trước khi đi, tôi đã tìm một nhánh cây khô buộc lá cờ VNCH vào rồi cắm xuống trước mặt bọn chúng.

Ít phút sau, toán Biệt Hải xuống thuyền đi ra được nửa chừng thì gặp toán Hải Kích của Trung Úy Ðơn từ ngoài chạy vào. Chúng tôi liền mở máy liên lạc và cho Trung Úy Ðơn biết tình hình của quân Trung cộng ở trên bờ. Sau khi toán Biệt Hải lên được tầu HQ-4 thì bỗng nhiên nghe tin toán Hải Kích của Trung Úy Ðơn vừa có hai người bị tử thương ở phía ngoài bờ biển. Biết tình thế hiện tại thế nào cũng đánh nhau, tôi xin đề nghị Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải lên đài chỉ huy trình với Hạm Trưởng: Khi nào sẵn sàng khai hỏa thì cho HQ-4 chạy sát gần tầu của Trung Cộng, khoảng cách từ 50m đến 100m để toán Biệt Hải chúng tôi dùng M-72 bất ngờ triệt hạ các tàu của chúng. Theo ý tôi, đây là cơ hội bằng vàng để tiêu diệt bọn lính Trung Cộng, nhưng cuối cùng ý kiến của tôi đã không được Hạm Trưởng chấp thuận. Ngoài ra, Hạm Trưởng còn cho biết khi nào có hải chiến thì sẽ dùng súng lớn và chạy cách xa tầu Trung cộng khoảng 300m.

Ðến khoảng hơn 10 giờ sáng thì lệnh khai hỏa bắt đầu. Khẩu đại bác 125 ly của HQ-4 ở giữa boong, gần đầu mũi tầu chỉ bắn được 9, 10 quả đạn thì bị trở ngại tác xạ! Ngay lúc đó, tôi bị một mảnh đạn văng trúng vào đầu, máu chẩy xuống che đầy hai mí mắt. Tôi vội đứng nấp sau khẩu súng lớn đã bị hư hại, lấy khăn lau sạch vết thương rồi tìm y tá nhờ băng bó, và sau đó trở lại vị trí các ổ súng lớn trợ giúp các pháo thủ. Trong lúc 2 bên đang giao tranh dữ dội, quay mặt lại, tôi thoáng thấy Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng bị thương khá nặng, đang được anh em dìu vào phía trong. Cuộc hải chiến tiếp tục mãi cho đến 30 phút sau mới chấm dứt. Chiếc HQ-4 được lệnh rời khỏi vùng chiến, quay mũi theo hướng Nam đi về Ðà Nẵng. Khi tầu đã đi được hơn mấy tiếng đồng hồ và đã khá xa quần đảo Hoàng Sa thì bỗng nhiên không hiểu vì một lý do gì, HQ-4 lại được lệnh phải trở lại vùng hải chiến với tàu của Trung Cộng lúc buổi sáng! Tôi đoán lúc đó vào khoảng 1 giờ trưa.

Nghe tin này, một số anh em bị thương nặng tỏ vẻ xúc động. Một số anh em khác tuy bị thương nhưng còn khả năng tác chiến thì được lệnh sẵn sàng trở vào vị trí. Toán Biệt Hải lúc ấy được đặt dưới quyền của Hạm Trưởng, đưa bổ sung vào các chỗ khiếm khuyết trên tầu tùy theo khả năng. Phần tôi tuy bị thương nhưng vẫn được giao sử dụng một cây đại liên 50. Sau khi nhận lệnh, chiếc HQ-4 quay đầu trở lại theo hướng Ðông-Bắc, trực chỉ quần đảo Hoàng Sa để tái nhập cuộc. Tuy nhiên sau khoảng hơn một tiếng hải hành, HQ-4 lại được lệnh quay trở về Ðà Nẵng lần thứ nhì! Toán Biệt Hải chúng tôi nghe loáng thoáng lý do đang có máy bay MIG và tầu chiến của Trung Cộng từ Hải Nam bay qua trợ chiến quân đội của chúng trên quần đảo Hoàng Sa.

Mãi cho đến sau này, sau khi đã định cư tại Hoa Kỳ, chúng tôi mới biết được nội vụ của lý do khiến chiếc HQ-4 phải đột ngột quay trở lại Ðà Nẵng lần thứ nhì như sau: “Tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (DAO) cho biết radar của Ðệ Thất Hạm Ðội ghi nhận một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và chiến đấu cơ MIG của Trung Cộng từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa. Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa sau đó yêu cầu Ðệ Thất Hạm Ðội trợ giúp, nhưng không thành công. Các chiến hạm của Việt Nam Cộng Hòa được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa (Kiem Do and Julie Kane, Counterpart, A South Vietnamese Naval Officer's War - Ðất Mẹ)”.

Khi HQ-4 đang trên đường xuôi Nam thì Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng từ trần. Một phần vì vết thương anh quá nặng, phần nữa vì trên tầu thiếu phương tiện và thuốc men cấp cứu nên anh đã vĩnh viễn ra đi, để lại người vợ cưới chưa được bao lâu và đứa con chưa tròn năm tuổi. Cuộc hải chiến hào hùng của các chiến sĩ Hải Quân, các toán Hải Kích Người Nhái và toán Biệt Hải thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Nha Kỹ Thuật tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974 đã nói lên ý chí và sự quyết tâm của người lính QLVNCH, quyết chiến đấu để giữ gìn lãnh hải do Tiền Nhân để lại, không bao giờ sợ hãi trước đoàn quân xâm lăng của Trung Cộng.

Phần II: Tường thuật của Biệt Hải Nguyễn Trâm

Buổi chiều ngày 18-1-1974, Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 do Hạm Trưởng Lê Văn Thự chở một toán Hải Kích, trong đó có một số Biệt Hải thuyên chuyển về đã có mặt trong vùng đảo Hoàng Sa, cùng phối hợp với HQ-4, HQ-5 và HQ-10 để thi hành nhiệm vụ bảo vệ các hải đảo. Ðêm đó, toán Hải Kích được sắp xếp nằm ngủ trong một góc phòng ăn của HQ-16. Hôm sau, vào lúc 4 giờ 30 sáng ngày 19-1-74, chúng tôi nghe nhiều tiếng chân thủy thủ trên tàu lần lượt bước vào phòng ăn. Tất cả đứng tập họp riêng tại một góc để nghe vị sĩ quan chỉ huy ân cần nhắc nhở anh em hiện diện trên tàu HQ-16: “Chúng ta phải quyết tâm chiến đấu nếu tình thế bắt buộc để bảo vệ lãnh hải của phần đất tổ quốc Việt Nam trước sự gây hấn của Hải quân Trung Cộng. Nếu chúng ta muốn được an bình trở về sum họp với gia đình thì mọi người phải hết sức bảo vệ con tàu bằng tất cả nhiệm vụ và tinh thần của mình.” Tiếng của người sĩ quan chỉ huy vừa chấm dứt, ai nấy đều hô to “quyết chiến!” Sau đó, mọi người được lệnh giải tán trở về nhiệm sở. Tuy chúng tôi đang nằm cách xa họ hai cái bàn ăn, nhưng vì đã nghe được từng cử chỉ, từng lời nói của người sĩ quan chỉ huy nên linh cảm được những sự chẳng lành, đang nhen nhúm xẩy ra trong giờ phút định mệnh sắp tới.

Sáng sớm tinh sương hôm đó, toán Hải Kích được lệnh vào vị trí tác chiến. Tất cả mọi người đi lên và chia nhau nằm vào hai phía trái-phải trên trần tầu. Ngoài vũ khí cá nhân, mỗi người còn mang thêm một số súng M-72 đặt sẵn bên cạnh. Phía đằng sau phòng lái cách chiếc HQ-16 chừng 800 thước hoặc xa hơn một tí, chúng tôi nhìn thấy chiếc HQ-10 rất rõ, đang cùng với HQ-16 hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp khi xảy ra hữu sự. Khoảng 6 giờ sáng, lợi dụng lúc mặt trời đang nhá nhem, một chiếc tầu Trung Cộng bất ngờ từ sau chạy tới, cố ý húc vào hông phải chiếc HQ-16 khá mạnh đến nỗi vị trí chỗ nằm của chúng tôi ở trên trần bị xê dịch. Mọi người nhìn xuống dưới tầu Trung Cộng thấy một viên sĩ quan đang đứng theo thế nghỉ phía ngoài mặt phòng lái, hai tay để chắp sau lưng, bên hông đeo một lưỡi kiếm lủng lẳng. Viên sĩ quan này cuối cùng bị ngã theo sức dội của thân tầu, và đồng thời chúng tôi nghe nhiều tiếng nói của Hải quân Trung Cộng từ dưới vọng lên nhưng không hiểu họ muốn nói gì? Sau đó, chiếc tầu của Trung cộng xả hết tốc độ chạy nhanh tới phía trước tìm cách chận đầu chiếc HQ-16 lại. Nhìn cử chỉ đầy hống hách và xấc xược của chiếc tàu Hải quân Trung Cộng vừa rồi, tôi thầm nghĩ giá các chiến đỉnh PTF của Lực Lượng Hải Tuần chở các toán Biệt Hải ra Bắc nay còn mới tương xứng với tốc độ các tàu này của bọn chúng.

Theo bài viết “Người Ra Biển Bắc” của Hạm Trưởng Trần Ðỗ Cẩm thuộc Lực Lượng Hải Tuần thì: “Khinh tốc đỉnh Nasty có vỏ bọc bằng ván ép nhiều lớp đặc biệt, trọng tấn 75 tấn, dài khoảng 80 bộ, rộng 24.7 bộ. Tầm nước 3.7 bộ phía trước, 6.10 bộ chỗ chân vịt sau lái, có thể chuyên chở 18 tấn hay 6,100 gallons dầu cặn. Tầm hoạt động lên đến 1,000 hải lý với tốc độ tiết kiệm. Máy tầu thuộc loại Napier & Deltic của Anh, 18 xy-lanh. Vận tốc đường trường khoảng 35 gút, vận tốc tác chiến tối đa có thể lên đến 50 gút khi tầu mang thêm nhiều nhiên liệu. Về vũ khí, Nasty được trang bị 1 súng cối 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50 trước mũi. Sân sau lái đặt khẩu đại bác 40 ly, hai bên hông ngang đài chỉ huy gắn đại bác 20 ly.”. Trong suốt thời gian hoạt động tại vùng duyên hải miền Bắc, các tầu của Hải Quân Bắc Việt ít khi nào dám xuất hiện đối đầu với các chiến đỉnh PTF Lực Lương Hải Tuần thuộc SPVDH/NKT của VNCH.

Gần 8 giờ sáng ngày 19-1-74, toán Hải Kích được lệnh chuẩn bị để đổ bộ vào đảo Quang Hòa (Duncan). Chúng tôi vừa sửa soạn xong một chiếc thuyền hobo thì được lệnh ngừng lại vì tin cho biết toán Hải Kích trên HQ-5 đổ bộ vô bờ đã có hai người bị tử thương gồm Trung Úy Ðơn ,Trưởng Toán và Hải Kích Ðỗ Văn Long. Trong thời gian này HQ-16 và tầu của Trung Cộng hai bên vẫn chạy kềm nhau. HQ-16 luôn bị các tầu của Trung Cộng tìm cách chận đầu ngăn cản. Lúc này, tất cả họng súng trên tàu của HQ-16 đều nhắm về hướng các tầu Trung Cộng. Trưa ngày 19-1-1974, lúc hơn 10 giờ sáng, tất cả được lệnh khai hỏa. Khẩu đại bác 125 ly ở đầu mũi chiếc HQ-16 nhắm bắn vào các tầu Trung Cộng. Cùng lúc đó, hướng trước mũi tầu HQ-10 và phía sau phòng lái HQ-16 bên phải đã thấy một tầu của Trung Cộng bị trúng đạn. Chiếc tầu này hiện đang quay lòng vòng trên biển. Ðồng thời, khói trên đài chỉ huy HQ-10 bắt đầu bốc lên và tầu đã ngưng chạy. Một lúc sau, trên mặt biển phía hông phải chiếc HQ-10, gần vị trí của tầu Trung Cộng bị bắn có nhiều cụm khói mầu vàng, đỏ, xanh từ mặt biển bốc lên kèm theo với tiếng người la ơi ới lẫn trong tiếng đạn của hai bên bắn nhau nổ chát chúa. Trên không, từng lằn đạn chíu chít qua lại đã bít kín một vùng biển, thỉnh thoảng phát ra nhiều tiếng hú như để cổ võ người lính Việt Nam Cộng Hòa trong giờ phút lịch sử hãy chiến đấu anh hùng để giữ gìn lãnh hải của tổ tiên mà Hải Quân Trung Cộng đang manh nha cướp đoạt.

Tất cả súng cá nhân của toán Hải Kích mang theo hiện không sử dụng được vì mục tiêu tầu địch quá xa. Trái lại, những khẩu đại pháo và các khẩu đại liên 50 lúc nầy mới thực sự có khả năng quyết định chiến trường. Không lâu sau, bên cạnh tôi đã có hai Hải Kích bị thương, trong đó có một người bị khá nặng. Chúng tôi chia nhau dìu các thương binh từ trên trần tàu đi xuống về phía sau lái tránh đạn. Ở đó, hiện đã có một số thủy thủ bị thương, vừa nằm vừa ngồi, tất cả đã được băng bó. Ðúng vào lúc này, tôi thấy chiếc HQ-16 nghiêng hẳn về một phía và máy bên trái đã bị hư, không còn chạy được nữa! Bình thường tầu đã chạy chậm, bây giờ hư thêm một máy nên càng chạy chậm hơn. Cùng lúc đó, dưới hầm máy tiếng viên Sĩ Quan Phòng Tai hối thúc anh em đặt máy bơm nước vào các vị trí để hút nước ra ngoài, và đồng thời lấy một số nệm ngủ đem bít kín vào các lỗ đạn bắn xuyên thủng vào hông tàu. Lúc này, thấy nước đã chẩy thấm ướt dưới thềm phòng ăn. Không bao lâu, tiếng chuyên viên từ dưới hầm hét lên ra vẻ vui mừng, báo cáo đã khống chế được các lỗ thủng không cho nước vào, và đồng thời các máy bơm nước cũng đang hoạt động tốt. Nghe tin này, ai nấy đều hết sức phấn khởi. Tất cả sự vui mừng đang hiện rõ trên từng khuôn mặt của các thương bệnh binh.

Cuối cùng, chiếc HQ-16 tuy còn một máy nhưng vẫn ung dung thoát ra khỏi vùng giao tranh. Tuy nhiên, chiều hôm đó anh em chúng tôi rất đau lòng khi phải bỏ lại chiếc HQ-10 một mình trơ trọi trong vùng đảo Quang Hòa, Hoàng Sa ngày 19-1-74. Sau một đêm lênh đênh trên biển, sáng ngày hôm sau, Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 đã cặp bến an toàn tại bến tầu của Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải, Tiên Sa-Ðà Nẵng.

Nam Quốc sơn hà Nam Ðế cư,

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư,

Nhử hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhĩ đẳng hành khan thủ bại hư.

Nghĩa là:

Sông núi nước Nam vua Nam ở,

Rành rành định phận tại sách trời,

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.


Tiền nhân Lý Thường Kiệt


________________________

Nguyễn Châu
Nguyễn Trâm

Publié le 20/02/2008 à 08:51
Par viensoinga

 

Phỏng Vấn Luật Sư Dương Như Nguyện Về Vấn Đề Hoàng Sa & Trường Sa



 


Buổi phỏng vấn luật sư Dương Như Nguyện được thực hiện trong chương trình Lịch Sử Cận Đại của đài truyền hình SBTN. Trong buổi phỏng vấn này luật sư nói về việc tranh chấp về lãnh thổ tại hai quần đảo Trường Sa & Hoàng Sa và với tư cách là một luật sư, nếu luật sư bào chữa về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này tại toà án quốc tế thì luật sư bào chữa như thế nào? Chúng tôi xin mạn phép đài truyền hình SBTN trích đăng lại buổi phỏng vấn này.



 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Xin quý bạn đọc bấm vào đây để xem video phần 1

Xin quý bạn đọc bấm vào đây để xem video phần 2

Xin quý bạn đọc bấm vào đây để xem video phần 3

Publié le 19/02/2008 à 18:13
Par viensoinga



Histoire d'un amour

Mon histoire c'est l'histoire d'un amour
Ma complainte c'est la plainte de deux cœurs,
Un roman comme tant d'autres
Qui pourrait être le vôtre
Gens d'ici ou bien d'ailleurs.
C'est la flamme qui enflamme sans bruler
C'est le rêve que l'on rève sans dormir
Comme un arbre qui se dresse
Plein de force et de tendresse
Vers le jour qui va venir.
Refrain:
C'est l'histoire d'un amour, éternel et banal
Qui apporte chaque jour tout le bien tout le mal
Avec l'heure où l'on s'enlace, celle où l'on se dit adieu
Avec les soirees d'angoisse et les matins merveilleux.
Mon histoire c'est l'histoire qu'on connait
Ceux qui s'aiment jouent la même je le sais
Mais naïve ou bien profonde
C'est la seule chanson du monde
Qui ne finira jamais.
C'est l'histoire d'un amour
Qui apporte chaque jour tout le bien tout le mal
Avec l'heure ou l'on s'enlace celle ou l'on se dit adieu
Avec des soirées d'angoisse et les matins merveilleux.
Mon histoire c'est l'histoire qu'on connaît
Ceux qui s'aiment jouent la même je le sais
Mais naïve ou bien profonde
C'est la seule chanson du monde
Qui ne finira jamais
C'est l'histoire d'un amour.

http://www.freewebtown.com
/deptrainhattp/Histoire_Dun

_
Amour_Dalida.wma

Publié le 19/02/2008 à 11:00
Par viensoinga


http://www.geocities.com/honqueviet/midiVN/
Tudoembuon.mid

Clickhere

TUỔI HỌC TRÒ


Phan Châu Trinh ĐÀ NẴNG
Lớp Đệ Thất 1954-1955
Tặng bạn bè đầu đời của mái trường  thuở xưa

 
Lớp Đệ thất 2 niên khoá 1954-1955 trường Trung Hoc đệ nhất cấp Phan châu Trinh Đà nẵng có khoảng 40 học trò, trong số đó 12 trò con gái ngồi ba bàn đầu phía phải ngay cửa vào lớp đối diện với bàn thầy giáo , tôi ngồi đầu bàn thứ tư sau một học trò con gái , tôi làm quen ngay thằng bạn ngồi bên cạnh , Nguyễn Trân , thằng bạn thuở ban đầu lưu luyến ấy , hơi nhỏ người , thấp hơn tôi một chút nói tiếng Huế , lanh lẹ và có vẽ thạo đời hơn tôi , giờ học đầu tiên là giờ âm nhạc của thầy Hoàng Bích Sơn , thầy cũng là giáo sư chính của lớp chúng tôi , với giọng Huế trầm trầm nhè nhẹ , thầy giới thiệu tên thầy và môn học do thầy phụ trách , thầy mở sổ điểm danh gọi tên từng đứa một , đứa nào được gọi tên phải đứ ng dậy vòng tay hô to : Có mặt , sau đó ngồi xuống , cả lớp lặng yên theo dỏi buổi học đầu . Thầy Sơn không cao bao nhiêu , ốm người , thầy ôm một cái cặp hình như nặng gần bằng trọng lượng của thầy , thầy viết trên bảng đen Thời khoá biểu hằng tuần cho chúng tôi chép , tất cả đều là những môn học mới la.  Sau đó Thầy bảo tôi lau bảng , cầm miếng giẽ mà trong lòng thấy hãnh diện , không có gì hãnh diện cho bằng , được thầy cô sai làm cái này làm cái no. .Lủ học trò chưa quen biết , nhưng sự làm quen đến rất mau lẹ , cả lớp rì rào nói chuyện , Thầy Sơn viết bài hát HIỆU ĐOÀN CA trên bảng , chúng tôi cặm cụi chép vào tập vở :Phan châu Trinh người chiến sĩ Quốc Gia bất diệt , đã từng hy sinh tranh đấu cho nhân quyền , ngàn đời còn ghi công ơn người chiến sĩ , buồn thấy Đế Quốc chiếm giang sơn , công lao bao đấng anh hùng điêu linh dưới ách gông cùm . Ra tay ... Quyết lòng vì nước quên mình . Hồ Tây phương Nam còn in bóng ....Lời ai dư âm vẵng qua rừng ....


Tiếng hát của thầy , tiếng hát của học trò vang lên trong lớp , hùng hồn như khúc nhạc hành quân , một hồi kiểng do bác Thôi ( Cai Trường ) đánh vang lên , chấm dứt một giờ học đầu tiên , để nhớ mãi trong  đời , Giờ ÂM NHẠC của Thầy Hoàng Bích Sơn .
Lớp Đê. thất 2 có tất cả 48 trò , 12 gái 36 trai , người ta nói con gái nhút nhát hay e lệ thẹn thùng , mới bắt đầu niên học nên chưa biết có đúng như vậy không , có một điều đặt biệt là lần nào điểm danh thì lại có 11 gái 37 trai , tình trạng gái thiếu trai thừa này là trong nhóm con gái có một người  tên là NGUYỄN VĂN NHƯ Ý , điều quái gở nữa là chữ S va chữ  Y lại gần nhau trong danh sách của lớp , nên mỗi lần điểm danh khi thầy gọi đến TTPS , tiếp theo là NVNY , tôi lại ngồi bàn sau và sau lưng NY , từ đó NY và tôi bắt đầu là hai điểm sáng cho  bạn bè chọc phá sau này , theo nhận xét của tôi bấy giờ NY là một cô gái xinh , hiền và học giỏi , có mái tóc đen nhánh xoã ngang vai mà sau nay lớn lên tôi mới biết gọi là " tóc thề đã chấm ngang vai " .
Không khí vui nhộn lớp Đệ thất 2 của chúng tôi bắt đầu từ ngày cô Tôn Nữ Từ Diệm làm giáo sư chính , lúc đầu niên học cô dạy Anh văn , sau đó thầy Bữu Thiết thay thế , cô Diệm dạy Công Dân và Sử Địa , cô có giọng nói nhẹ nhàng , từ tốn , một lần vào tháng sắp Tết các lớp thi nhau làm Bích báo tường ,cô cho tiền chúng tôi mua giấy , viết mực , màu vẽ , trong 4 lớp Đệ Thất cô bảo Đệ Thất 2 phải nhất , thế là lủ nhóc chúng tôi cặm cụi làm báo , tôi được bầu làm trưởng ban báo chí , vội vàng về nhà nhờ Me vẽ cho cái đề : BÁO XUÂN * Đệ Thất 2 , màu đỏ cho thật nổi , năm đó tờ báo của chúng tôi được chấm nhất toàn trường , nội dung và trình bày thật đẹp và phong phú , nhờ một phần lớn Me tôi giúp đở mà cô Diệm không biết .

Tôi còn nhớ mang máng bài thơ của bạn vô danh nào đó viết trên tờ báo tường ngày xưa :
 
CÔ GIÁO CỦA TÔI
Lớp tôi , Đệ Thất Hai
Có cô giáo dể thương
Tên chi ... đố ai biết ?
Hiền như một bà mẹ
Nghiêm như một người cha
Vui như một người chị
Đẹp như một vầng trăng
Tên cô a a a........... biết rồi
Tôn nữ Từ Diệm ... Cô tôi
Ha.. ha... ha........
 
Rồi một ngày Cô dẩn cả lớp đi du ngoạn Sơn Trà , Cô cùng chúng tôi leo núi , băng qua một con suối nhỏ , giòng suối trong mát , gió từ biển đưa lên , gió từ xa đưa về , chúng tôi nắm tay nhau đi trên những phiến đá trơn nhẫn , nước chảy róc rách dưới chân , cùng hát vang lời hát do cô dạy một ngày nào đó :


Vui ca lên nào anh em ơi , hát cho lòng thắm tươi , đừng thấy khó mà chân quay  lui , ta cố tiến lên đường ...dù .... bao chông gai ...nào anh em ta ...vẫn không sờn chí trai ...cùng cất tiếng mà ca lên đi , cả bao người đều vui .


Trong cái vô tình của một dây chuyền nắm tay nhau , tôi nắm phải tay Như Ý , những thằng bạn rắn mắt chợt thấy cùng la lên Phú Sĩ nắm tay Như Ý , thế là chúng chế riễu kết đôi , cười ầm vang lên như bầy ong vở tổ , Cô Diệm ngạc nhiên hỏi - Các em cười gì thế . Bọn chúng bạn nín khe im thin thít .Cô cười nhắn nhủ - Coi chừng té nghe các em . Tiếng vi vu của núi rừng , tiếng cười đùa của những tâm hồn trong trắng hoà với tiếng cô diệu hiền tạo thành bản nhạc nhớ hoài không quên .
Hiệp định Genève 20-07-54 , chấm dứt chiến tranh Pháp- Việt  , đất nước chia đôi , chuyện người lớn , chúng tôi con nít chưa biết gi , nhớ lại có một cuộc biểu tình khắp đường phố , dân chúng và học sinh tập họp từ sáng tính sương , đoàn Học sinh Phan châu Trinh theo thứ tự từng lớp do các Giáo sư chính hướng dẫn , người biểu tình đông nghẹt khởi hành từ Chợ Hàn đi khắp các con đường của thành phố , những tiếng Hoan Hô , Đả đảo hai Ông BẢO ĐẠI và NGÔ ĐÌNH DIỆM vang trời , chúng tôi được một ngày nghĩ vui chơi , tuổi con nít vô tư , được nghỉ học là vui rồi , sau đó Cô Diệm giãi thích ý nghĩa cuộc Biểu tình chúng tôi mới hiễu , tôi muốn nhắc lại vì lớp Đệ thất của chúng tôi rơi vào một điểm quan trọng của lịch sử đất nước thời bấy giờ .


Những cơn gió mùa đông đem cái se lạnh đến , ngoài những hoc sinh là dân DANANG , một số không ít hoc sinh các miền quê được gia đình cho ra DaNang học , đời sống chật vật khó khăn từ nơi ăn chốn ơ? , có đứa phải đi bộ mỗi ngày hơn 10 cây số mới đến trường ,nhà trường sau buổi học là khoá cổng , cho nên buổi trưa các bạn này phải ra gốc cây , vĩa hè ăn nắm cơm mang theo , đợi đến buổi học chiều , mùa nắng thì không có điều chi , nhưng mùa mưa đến , những cơn mưa dài lê thê của miền Trung cằn cổi , từng cơn rét xé lòng người hoc trò xứ Quảng đơn côi , thế hệ chúng tôi lúc bấy giờ là thế hệ giao mùa giữa chiến tranh và hoà bình , 100 năm Pháp thuộc chấm dứt , bây giờ đất nước lại bị chia đôi ,Chiến tranh tạm ngưng , Hoà bình tạm thời đã đến nhưng đời sống dân chúng còn nghèo nàn lạc hậu , nhất là miền quê , cả Tĩnh Quảng Nam không có một trường Trung Hoc . Hoc sinh Hội An , Tam Kỳ và nhất là những vùng quê hẻo lánh phải ra Đà Nẵng trọ học , nhìn bạn bè , nhìn lại mình , cãm thấy mình còn may mắn rất nhiều .
Rồi một ngày , cuộc sống êm a? của lớp Đệ  Thất chúng tôi có một chuyện buồn ; Thầy Hồ Vinh dạy Việt văn , một buổi sáng đang giãng bài cho chúng tôi , thình lình một toán Cãnh Sát xông vào lớp còng tay Thầy và bắt lên xe đưa đi đâu , chúng tôi không hiểu , Thầy Vinh người ốm và cao , giọng Huế dịu dàng , nhỏ nhẹ , chúng tôi thích nghe Thầy giãng chuyện Trê Cóc và Lục súc tranh công , Thầy xưng với học trò là anh em chứ khong phải là trò và tôi hay anh và tôi như các Thầy Cô khác . Sau đó chúng tôi được biết Thầy là cán bộ Cọng Sản nằm vùng , dù sao đi nữa, trong đầu óc non dại của chúng tôi , Thầy vẫn là người Thầy kính yêu , ngày Thầy bị bắt chúng tôi buồn vô cùng , có đứa khóc trong đó có tôi .


Trường tôi lúc bấy giờ chỉ có một dãy dài trệt nằm dọc theo đường Lê Lợi , đối diện với Bệnh Xá DN , sau này là trường Nam Tiểu Học gồm 8 lớp học và văn phòng nằm chính giữa , xung quanh trường là một khoảng đất rộng không một bóng cây , mãi sau này 55-56 nhà trường mới bắt đầu được trồng cây có bóng mát , phần lớn là Phượng , trong thời gian này khu trường Trung Hoc Lycé e Pascal của Pháp đã chuyễn giao và sát nhập vào Trường PCT , dùng làm phòng dạy nghề cho hoc sinh , nói là dạy nghề chứ thật ra  dạy đánh máy chử và về sau xây thêm phòng thí nghiệm , nơi đây cũng là tư gia của Thầy Hiệu Trưởng Gi , trước trường có một sân bóng rổ , về sau một vài lớp được chuyển qua Lycée Pascal , trong đó có lớp Đệ Thất của chúng tôi được chuyển qua vào cuối niên học . Bức tường ngăn chia giữa PCT và Trường Lycée được sửa lại thành dãy nhà dài để xe đạp . Quang cảnh trường tôi buổi ban đầu đơn sơ trống vắng ,không có chổ cho học sinh chơi đùa , cho nên vào những giờ nghĩ học , chúng tôi lang thang khắp đường phố DANANG , bãi biển Thanh Bình cát trắng phẵng lì với hàng thông già vi vu , sân vận Động Chi Lăng những chiều chạy nhảy đá banh , con đường Quang Trung mát rượi bởi hàng xoài cao vút chạy dài qua Thanh Bồ , qua Trẹm , bờ sông Hàn những tàn cây xanh , hàng ghế thơ mộng vào những chiều nắng đẹp , Cổ Viện Chàm huyền bí , tiệm kem Diệp Hải Dung , tiệm chè Ngã Năm quyến rũ , cầu vồng nao nức trong ngày đua xe đạp , khu vườn Diên Hồng , một khu đất rộng lớn ngay trung tâm thành phố vài trăm mét cách Chợ Hàn , khu đất còn bỏ trống , trồng vô số me chua và nơi  các gánh hàng rong tu họp ăn uống ,những đám hát xiệc với vài con khỉ , vài con trăn làm trò xiếc hay quảng cáo bán thuốc Cao Đơn Hoàn Tán . Các rạp ciné Lido , Chợ Cồn , Kinh Đô ....còn chiếu phim đen trắng ...đêm cuối tuần , trước Ty Thông Tin Thành Phố tổ chức Văn Nghệ cộng đồng ... tất cả là Da Nang thân yêu của tuổi thơ , của tuổi Đệ Thất Phan Châu Trinh ngày xưa .


Lớp tuổi của chúng tôi hồi đó vẫn còn dư âm của nền giáo dục cũ , trong lớp học vẫn còn treo các câu châm ngôn : TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN , ĂN VÓC HỌC HAY ĂN NGAY NÓI THẬT , KHÔNG THẦY ĐỐ MÀY LÀM NÊN ... Học sinh vẫn còn sợ Thầy Cô như Cha Me , vẫn còn bị bắt quỳ hay phạt đòn khi bị phạm lổi nặng , gặp Thầy Cô ngã nón hay vòng tay chào , cho nên đối với Thầy Cô chúng tôi kính yêu không dám hổn hào vô phép , năm đầu Thầy Cô phần lớn là người Huế , Thầy Trần Tấn dạy Pháp Văn , Thầy Bùi Tấn dạy toán , Cô Đặng thị Liệu dạy Anh Văn , Thầy Trần Ngọc Quế dạy Việt Văn , Thầy Phạm hữu Khánh dạy vẽ , Thầy Nguyễn văn Đáo dạy Sử Địa ... Thầy Cô mỗi người có một cá tánh , một phương pháp dạy và sự chăm sóc thương yêu học trò khác nhau , tôi vẫn nhớ từng nét đặc biệt của mỗi Thầy mỗi Cô , tôi sẽ hồi tưỡng lại vào những bài viết cho năm Đệ Lục đến Đệ Nhi. , riêng năm Đệ Thất , nhớ nhiều đến thầy Trần Ngọc Quế ,Thầy có cái miệng móm duyên vì thầy nói chuyện rất hấp dẫn và lôi cuốn người nghe , Thầy dạy môn Việt Văn , thời đó chương trình Việt Văn chia làm hai loại Cổ Văn và Tân Văn , Cổ văn là những câu chuyện bằng thơ Lục bát hay Song thất lục bát như Trê Cóc , Nhi thập tứ hiếu , Lục súc tranh công ... Tân văn phải làm Luận  mô tả một cái gì đó , tả cảnh , người hay đồ vật ... Thầy dạy , làm một bài văn phải có nhập đề thân bài và kết luận , một thằng bạn tên là Kim mỗi lần làm luận là không bao giờ có đoạn kết , văn nó rất hay thường thường được đọc cho cả lớp nghe mỗi khi bình phẩm , nhưng đoạn kết Thầy phải làm dùm , cho nên khi cho điểm lúc nào cũng bị trừ một phần ba rồi từ đó chúng tôi đặt cho nó một cái tên là KIM MỘT PHẦN BA  . Giờ Việt văn là một giờ rất hấp dẩn với chúng tôi , không phải hấp dẩn vì môn học mà hấp dẫn vì đoạn kết , ngược lại Kim Một Phần Ba không có đoạn kết vì không đủ thì giờ làm , Thầy Quế là người Thầy rất hấp dẫn  vào đoạn kết của hai giờ Việt Văn . , hai giờ Việt Văn lúc nào Thầy cũng để ra 15 phút cuối , kể chuyện Tàu như Hán Sở Tranh Hùng , Tam Quốc Chí ... , cả lớp im lặng lắng tai nghe Thầy kể đến đoạn  hồi họp gay cấn , Tiếng kẻng của Bác Cai trường vang lên , Thầy ôm cặp bước ra khỏi lớp , chúng tôi ngẩn ngơ tiếc rẽ , thế là mong cho chóng đến giờ Việt Văn để còn được nghe tiếp , giờ Việt Văn không bao giờ thiếu vắng một trò nào , trên bảng điểm danh lúc nào SĨ SỐ : 40  ,  VẮNG MẶT : 0  , HIỆN DIỆN : 40 , bởi vì chúng tôi mê say Lưu Bang , Hạng Vỏ ,Hàn Tín , Trương Phi , Quan Công , Lưu Bi. , Khổng Minh ...
Năm Đ.ê Thất , chúng tôi là những học sinh ngoan , chăm học và không bao giờ làm phiền Thầy Cô , chưa xuất hiện những CON NGỰA CHƯỚNG SÂN TRƯỜNG , cuộc sống êm a? vô tư trong tiếng giãng bài , những ngày vui chơi đây đó của những dịp đi du ngoạn , cắm trại NON NUOC , SƠN TRÀ , MỸ THỊ , MỸ KHÊ ... trong năm học chỉ lo lắng hai kỳ thi trong lớp là Đệ nhất va Đệ nhị Lục cá nguyệt , thời gian lững lờ qua , mùa hè thấp thoáng ngoài cửa lớp , trong sân trường , tiếng ve sầu bắt đầu rã rích , những cây Phượng dọc đường Lê Lợi trước cổng trường bắt đầu đỏ rực , Cô Diệm dạy cho bài hát HÈ VỀ của HÙNG LÂN : Trời hồng hồng , nắng trong trong , ngàn phượng rung nắng ngoài sân .Cành mềm mềm gió ru êm bầu trời như bích ngọc qua màu duyên , đàn nhịp nhàng hát vang vang , nhạc hoà thơ đón hè sang . Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ , hè về trong tiếng sáo diều dật dờ , hè về gieo ánh tơ . Bâng khuâng nghe mái chèo khuya sóng thuyền ai biếng trôi ...


Những tập Lưu Bút ngày xanh được thầm thì trao cho nhau , ghi những tình cảm , những kỷ niệm của nhau trong một niên học , có trò bạo dạn đưa cho Thầy Cô  xin những dòng lưu niệm , hình như những trang Lưu Bút lúc nào cũng bắt đầu : Hè về , tiếng ve sầu rên rỉ , màu phượng đỏ như máu trong tim, chúng ta sắp sửa chia tay , tạm biệt ban , tạm biệt anh ,tạm biệt chị , tạm biệt mày , tạm biệt em và tạm biệt mái trường thân yêu , tạm biệt thầy cô , có trò tạm biệt cả áng mây bay qua cửa lớp ... ôi ! lưu luyến làm sao trước khi chia tay ... đôi khi có vài cánh phượng khô được ép vào trong tập lưu bút để tăng thêm phần nhung nhớ và chắc chắn là lúc bấy giờ chưa có TẠM BIỆT những mối TÌNH HỌC TRÒ bâng quơ , chưa có nước mắt hoà với màu phượng vĩ theo tiếng ve sầu phiêu du vào HẠ
Đệ thất Phan Châu Trinh của tôi , của những bạn bè năm ấy , vô tình ngang qua , vô tình đọc bài này có ai còn nhớ những ngày thơ ấu xưa ...


Tôn Thất Phú Sĩ


Lớp Đệ  Lu.c ......

 daisys.gif

Publié le 19/02/2008 à 10:22
Par viensoinga


VÀI BÀI THƠ CŨ


chép lại cho những người bạn học cũ

 

Chân trời muôn dặm

(viết ở San Jose, California, khoảng 1984, 1985, trong lúc nhớ đến các bạn thời trung-học, nhớ đến anh bạn gầy Bùi Ngọc Tô còn kẹt ở VN, bấy giờ hình như đã ra khỏi tù cải tạo. Thủa nhỏ, ông Tô và tôi thường tập-tành viết truyện ngắn cho tờ Gió Mới, có lần hai thằng rủ nhau đạp xe đi Nam Ô. Thời trung-học, lũ học trò Phan Chu Trinh thường đua xe đạp quanh truờng, có lần về tận Hội An. Trần Trí Dũng – sau này chết ở Đồng Xoài – thủa nhỏ có chiếc xe đuy ra, đạp rất nhẹ, đã là thằng đầu tiên cán lằn mức ở tiệm bán cao lầu Hội An)

 

Nào nhớ thử

lúc ta một phần ba số tuổi này

Hai mươi tám năm xưa

con đường ra biển sáng tinh mơ

trái tim lăn bánh theo xe đạp

mây núi Sơn Chà đứng vẩn vơ.

 

Những chủ nhật sáu mươi cây số

ba mươi cây Đà Nẵng Nam Ô

bạn gầy đi guốc mang quần cụt

những nguồn vui

và những vần thơ.

 

Những truyện ngắn thơm mùi Gió Mới

mùi mực mới

những đêm khuya

và những ước mơ.

 

Bọn gái trai trên bãi Lăng Cô

những chuyến tàu đen khói mịt mờ

lá xanh Tân Sở

đất đỏ làng Cùa

trại hè hát trong nắng mới

 

Quốc Học Huế, Chu Văn An

Phan Chu Trinh Đà Nẵng

Trần Quý Cáp Hội An

Tam Kỳ Bồng Sơn Quảng Ngãi

những ngôi trường trung học Việt Nam

khoác quần xanh áo trắng Việt Nam

 

Những hiệu đoàn trắng toát Việt Nam

bước chân chim tim đập rộn ràng

bầu trời trong vắt xinh như ngọc

mái nhà tranh và rặng núi lam.

 

Hai mươi tám năm nước chẩy mây trôi

những ngày mưa nắng phiá xa xôi

với vần thơ cũ chân trời cũ

Hai mươi tám năm đầy những buồn vui...

 

Người bạn nhỏ

(viết vẩn vơ trong thời gian 84, 85 ở Mỹ, lúc nghĩ đến Ông Quý Sung, thời đệ thất, đệ lục, nhà ở đường Hoàng Diệu, sau dọn về Phong Lệ. Sung thuờng học chung lúc bố tôi dậy kèm ở nhà, trong “Xóm Chính Phủ”, cùng đường Hoàng Diệu. Khi viết baì thơ naỳ,  cứ tưởng Sung đã chết. Trong chuyến đi VN năm 90 và năm ngoái, gặp lại Sung (vợ bị bịnh tâm-thần, đã qua đời. Sung hiện làm “bảo vệ” tức là làm gác dan, security guard, cho một văn phòng ở đường Pasteur, Đà Nẵng)

 

Có những lần đạp xe về Phong Lệ

qua cánh đồng thuốc lá

đi xuyên ký ức

thăm một người bạn nhỏ

sống trong ngôi nhà lá

với một ông cha già

Người anh đi tập kết

bà mẹ thì đã chết

người chị làm ăn xa

 

Tôi rất thân với anh ta

những ngọn đồi Phong Lệ

những con chim sơn ca

 

Chúng tôi học một trường một lớp

chữ anh ta nắn nót

anh hiền lành chăm học.

 

Lớn lên tôi đi làm sở thuế

anh là giaó viên tiểu học

bị động viên rồi chết.

 

Tôi nhớ mãi con đường về Phong Lệ

qua cây cầu nhà binh bằng sắt

một buổi chiều trong nắng vàng

đã hơn hai mươi lăm năm qua

 

Hư Thanh

(cũng viết ở Mỹ khoảng 1984, 85, khi nghĩ đến ông bạn học cũ Phan Nhật Nam, thủa bé có đi Hướng Đaọ, nhưng lại chậm chân, bấy giờ đang mịt mù trong tù cải tạo)

 

Tôi đứng một mình ở chỗ không

nhíu đôi lông mày lại

nghe trái tim mình đập viển vông

 

Lỡ một ngày

lỡ một đời

lỡ một dặm đường

bạn tôi gầy guộc xác trơ xương

Tôi cười một tiếng kêu quái lạ

cúi đầu lạy Phật khắp mười phương

 

Tôi đã đứng im trong trời đất

nhìn lá vàng rơi

nhìn cho rõ mặt rõ mày

cuộc đời mốc thếch tóc bay rối bù

Bây giờ quay lại hư vô

nhìn cho rõ cảnh ngục tù làm sao

 

Những ai quằn quại máu đào

miếng cơm cám lợn ai trào họng ra

những ai ngắc ngoải

vét hột cơm khô từ đáy nồi ra

cái dạ dày quằn quại xót xa

con rết con chuột ăn mà cầm hơi

con rắn con cóc con dòinhững cơn sốt rét những người rên lanhững đọa đầy người xử với ngườioán thù chỉ tiếp tục khơi oán thù. Tôi đứng đây giữa đất giữa trờiquên hết sách vởquên hết lịch-sửquên hết những lúc từ ăn lông ở lỗtiến trình phong kiến quân chủdân chủ tư bản cộng sản quốc gia Quên hết trơn kinh tế chính trị khoa học

mộc tinh kim tinh hỏa tinh

trung cộng trung quốc mao trạch đông

cách mạng pháp cách mạng nga

các ông tây bà đầm

karl marx engels các quan điểm lịch sử

các biên giới quốc gia

 

bất cứ lý do nào

bất cứ ai có thể nại ra

 

Tôi đứng đây chỉ có một ý nghĩ

đến bạn tôi và những con người

xương bọc lấy da

những con người đau đớn xót xa

cái bụng trơ xương lép kẹp

cái chân cái tay phù thũng

tháng ngày vô vọng trôi qua

 

Những chị khóc em

mẹ khóc con

con khóc cha

dù ở Côn Sơn, Hà Nội, Chí Hoà

Long Thành, Lao Bảo, Hà Nam Ninh

bất cứ chỗ nào

 

Tôi nhớ đến máu đổ thịt rơi

suốt ba mươi năm qua

bom đạn máy bay xe tăng

bom xăng đặc bom xăng lỏng

mã tấu lưỡi lê dao nhọn

cứa cổ tôi cứa cổ anh

cứa những đau thương suốt đời vào

cổ chúng ta

 

Oán thù nên cởi không nên buộc

nhưng ai sẽ cởi oán thù ra?

 

Tôi là một con chuột

gặm nhấm ít kinh Phật

quả cũng không hiểu gì Phật pháp

Bố mẹ tôi làm điều thiện

gia đình tôi thờ cúng ông bà

 

Tôi đứng một mình giữa trời không

không mỹ không nga

không cửa không nhà

hai chân trên quả đất

nghĩ về bên kia quả đất

 

Trên trời vũ trụ sâu thăm thẳm

một cái thây ma hả họng

gom sức lực cất lên tiếng hú

gọi các con người mở rộng tấm lòng ra.

 

Thơ của một người ba phải

(viết ngày 21/12/1994, lúc ngồi suy nghĩ vẩn-vơ trong phiên tòa ở San Jose, California, xử vụ Mặt Trận HCM kiện ông bạn học cũ Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu)

 

Tôi thú thực:

Tôi là người ba phải

giữa hận thù và giữa yêu thương

giữa lẳng lặng, dửng dưng không giận ghét

tôi vẫn bơ-vơ giữa ngã ba đường

 

Tôi ba phải giữa hoài nghi và khẳng định

Tôi phân vân

                        cam

                                   đỏ

                                               hay vàng?

cũng phân vân

                        xám

                                   trắng

                                               hay đen?

Thao thức mãi trong bóng đêm lịch sử

- Đất nước hôm nay vẫn mịt mù?

Phải!

-Nhưng ngày mai trời lại sáng?

      Phải!

-Tối lại sáng, sáng lại tối?

      Phải!

và bản chất cuộc đời vẫn thế: buồn vui lẫn lộn

có gì đâu mà đáng phải than phiền?

      Phải

      phải, phải, phải

      đều là phải cả

      nghĩ mà xem?!

Đâu lẽ phải giữa bên nguyên bên bị

giữa lời khai trong các phiên toà

khi cánh tay giơ cao thề sự thật

những lời khai mâu thuẫn

được cất lên với mỹ từ hoa

 

Đâu lẽ phải

giữa linh hồn

và thể xác

giữa đấu tranh

hay lười biếng an nhàn

Đâu lẽ phải:

hoài nghi

hay khẳng định

hỡi Việt Nam tam giáo đồng nguyên

Đâu lẽ phải

            giữa lãng mạn

                        hay tinh thần thực dụng

giữa chiến tranh

            và giữa hoà bình

bóng tối đêm đen

            vẻ đẹp bình minh

Phát triển kinh tế hay công bằng xã hội?

            Phải, phải, phải

Hay cả hai?

            Phải, phải, phải

Tình thế như lưỡi dao

            Phải đứng bên này hay bên kia

            Phải.

Tôi run sợ nghe tiếng hô vang dội

tiếng nổ kinh hoàng trong những đêm khuya

tôi ngần ngừ trước sự phân chia

 

Tôi thú thực tôi là người ba phải:

yêu cả núi, cả biển và đồng bằng

(có khi ba phải, có khi năm phải

vì cũng yêu cả suối cùng sông)

 

Đâu là phải: Phút giây này hay vĩnh cửu?

đống giấy nhật trình

            hay cuốn chân kinh?

tấm khẩu hiệu

            hay là lời khấn nguyện?

chỉ một quả tim mà chứa biết bao tình

 

Tôi thú thực:

Tôi là người ba phải

giữa hận thù và giữa yêu thương

giữa lẳng lặng dửng dưng không giận ghét:

Tôi vẫn bơ vơ trước ngã ba đường..

 

Bất cứ chỗ nào

(cũng viết khoảng năm 84, 85 ở Mỹ)

 

Một buổi chiều

một giọng nói chậm rãi

một chỗ tối tăm, một cuộc gặp gỡ

một câu chuyện ngắn ngủi:

“Tình thế như lưỡi dao

phải đứng bên này hay bên kia”

 

Bên này hay bên kia

hơn ba mươi năm trong lằn đạn

kẻ mất người còn

những anh em chồng vợ

những mối tình nhỏ nhoi

những đêm dài mỏi mệt

những giấc mơ

 

Một chỗ bình yên, một con đường

trên bãi trên đồng rộn rã

Một buổi sớm mai, một ngôi trường

thênh thang bãi biển, bờ sông ruộng lúa

những mái nhà lợp lại, những cánh cửa sơn mới

 

Dưới mái nhà, lũ trẻ nhỏ

là một điệu đàn

Trên mặt đất bằng phẳng

các anh có thể đứng ở bất cứ chỗ nào

 

(Phần tôi, đang đứng ở Bắc Âu. Thơ cũ, trộn lẫn với văn xuôi, in lăng nhăng trong các cuốn Ngọn Cỏ Bồng, Chuyện Cuả Một Người Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải. Sách đã hết, không tái bản, chỉ còn giữ mỗi thứ một quyển làm kỷ niệm. Hôm nay trời lạnh –15C, ngồi buồn tình ỏ Phần Lan, chép lại vài bài cho các bạn học cũ đọc chơi đỡ buồn. Mong không làm mất thời giờ các bạn. Thân Ái.)